Họp Thông Thiên Học qua Skype ngày 1 tháng 7 năm 2017

http://thongthienhoc.net/sach/GiangLyAnhSangTDD.htm

CHƯƠNG 3

QUI TẮC THỨ NHỨT



Hăy diệt. . . .

A.B.- Mỗi qui tắc ngắn đều khởi đầu bằng danh từ “Diệt.” Điều cần thiết là phải hiểu cho đúng nghĩa chữ Diệt ở đây. Có hai cách loại trừ hay tiêu diệt một tư tưởng xấu, một hành động xấu.

Chúng ta hăy khảo sát tư tưởng trước nhứt, v́ khi tư tưởng bị tiêu diệt, các thứ khác c̣n lại cũng bị tiêu diệt dễ dàng. Thí dụ: một tư tưởng xấu phát sinh trong trí óc một người nào đó, Y nghiệm thấy rằng tư tưởng ấy có một khuynh hướng tự lặp đi lặp lại măi.

Thường thường, hành động đầu tiên của Y là chiến đấu với tư tưởng ấy bằng cách chống lại với tất cả sức mạnh của ḿnh và đánh đuổi nó mănh liệt như khi Y đối địch với một kẻ thù bằng thịt bằng xương vậy. Nhứt định va phải tống khứ tư tưởng ấy ra khỏi trí, Y chụp lấy hai vai nó, và liệng mạnh nó ra ngoài.

Tuy nhiên, phương pháp nầy chưa phải là toàn hảo, v́ nó không biết định luật to tát đương vận hành khắp mọi nơi trong thiên nhiên là sức động và sức phản động, vừa cân nhau vừa chống nhau.

Anh liệng một quả banh vô vách, banh sẽ dội trở lại, trúng anh nhẹ nếu anh liệng nó nhẹ, trúng anh mạnh nếu anh liệng nó mạnh. Cũng một nguyên tắc như thế đó được xác nhận khắp mọi nơi. Thí dụ anh đuổi một tư tưởng ra khỏi trí anh mănh liệt sẽ có một sức phản động rơ rệt phát sinh. Anh không chống nổi sức phản động ấy, anh nhượng bộ tức là anh cảm thấy yếu đuối thật sự và tư tưởng nầy có thể trở lại trí anh với một sức mạnh càng mănh liệt thêm lên. Tinh lực anh đem ra dùng thâm nhập vào tư tưởng, nó trở lại với anh và bắt anh phải mở lại một cuộc chiến đấu khác nữa. Ở t́nh trạng nầy, người ta có thể đôi khi chiến đấu trong nhiều tuần lễ, nhiều tháng hoặc đến nhiều năm mà không thấy lợi ích ǵ cả. Tuy nhiên, nhờ thời gian, anh có thể diệt được một tư tưởng xấu, nhưng phải chịu tiêu hao một phần lớn sức lực, tinh lực và trí lực của anh cho đến đỗi cuộc chiến đấu ấy sẽ đưa đến kết quả là một phần nào trong lănh vực của Thể Trí bị chai cứng và suy nhược đi.

Có một phương pháp khác để diệt tư tưởng là cách thay thế tư tưởng xấu bằng một tư tưởng tốt cùng loại tương phản nhau. Anh hăy bắt đầu khảo cứu kỹ lưỡng vấn đề và nhứt định coi tư tưởng tốt nào trái nghịch với tư tưởng xấu đó. Anh hăy phát biểu tư tưởng mới trong trí anh một cách trầm tĩnh và khi nào tư tưởng xấu xuất hiện, anh hăy nghĩ đến tư tưởng tốt đối lập với tư tưởng xấu ấy để thay thế nó.

Anh có thể thay thế tư tưởng như thế nầy:

Tánh kiêu hănh thay thế bằng đức từ bi, sự nóng giận thay thế bằng t́nh thương yêu, sự lo sợ thay thế bằng ḷng hâm mộ, ḷng vật dục thấp hèn thay thế bằng tư tưởng trong sạch, tự trọng, danh dự và các tư tưởng tương tự khác.

Anh cũng có thể chú định vào tư tưởng sùng kính Đức Chơn Sư, v́ đức tánh nầy biểu lộ luôn luôn nơi Ngài và anh có thể quên ḿnh đi bằng cách tưởng nghĩ đến Ngài.

Thể Trí của con người không thể nào tập trung một lúc vào hai đối tượng khác nhau được, nếu anh chú định vào một tư tưởng tốt th́ tự nhiên tư tưởng xấu bị đuổi ra khỏi Trí mà không cần phải dùng sức đối kháng.

Trí lực không bị phung phí và sinh lực cũng không bị tiêu hao. Tư tưởng tốt sẽ lấy sức lại liền, Thể Trí khỏi bị những tư tưởng xấu tấn công và không c̣n ứng đáp với tư tưởng cùng loại đó nữa.

V́ vậy, tóm lại, anh đă diệt cái xấu bằng cách làm tăng sức và phấn khởi cái tốt tương phản với nó. Dường như khi rút hết sanh lực của tư tưởng xấu đi th́ nó chỉ c̣n là một cái vỏ trống không. Diệt tư tưởng theo cách nầy rất hiệu nghiệm.

Thế nên, chúng ta có hai phương pháp để diệt trừ tư tưởng:

Phương pháp thứ nhứt là phương pháp tiêu diệt.

Phương pháp thứ hai là phương pháp khai triển.

Phương pháp thứ nhứt thường được những người mới bước chân vào con đường Tả Đạo đem ra dùng, nó trái nghịch với Thiên Ư. Phương pháp thứ hai là sự tiến hóa đúng theo Thiên Cơ đă định. Hai con đường đó đều mở rộng cho chúng ta được tự do chọn lựa. Trong Cơi Thế Gian nầy, tất cả đều tiến hóa, tất cả đều theo con đường nầy hoặc theo con đường nọ.

Những lănh vực trong Thái Dương Hệ của Đấng Tối Cao mà trong đó phát triển H́nh Thức của Ngài, có một phần tự do ư chí nghĩa là những lănh vực ấy có thể hoạt động ḥa hợp với Thiên Ư hay là hoạt động một cách độc lập như những cá nhân riêng biệt. Kẻ nào hợp tác với Đấng Tối Cao, chung cuộc sẽ theo Đường Chánh Đạo, c̣n kẻ nào cố tâm chọn lối sống riêng biệt th́ sắp sửa đi trên Đường Tà Đạo.

Nói một cách tổng quát, tất cả điều ǵ dẫn đến sự cô độc thúc giục con người qua bên Tà Đạo, c̣n tất cả điều ǵ hướng về sự hợp nhất, dắt con người qua bên Chánh Đạo.

Những người theo học phái Tà Đạo, diệt mất thiện cảm, t́nh thương và ḷng bác ái, bởi v́ họ nhận thấy rằng những đức tánh nầy là nguyên nhân của sự đau khổ và ngoài ra chúng nó c̣n ngăn trở sự khai mở những phép thần thông.

Cho nên, phương pháp tiêu diệt thường được những vị t́m luyện phép thần thông và mưu đồ lợi ích khác ưa thích, v́ những việc ấy được họ coi như là điều hoài băo của kiếp sống hiện tại, và như thế, để củng cố và thỏa thích bản ngă riêng biệt. Họ không bao giờ nghĩ đến hạnh phúc chung của toàn thể, v́ họ chăm chú vào sự tiến bộ và sự thắng lợi riêng của họ. Họ tiêu diệt mănh liệt, trong bản tánh của họ, tất cả những ǵ làm ngăn trở sự phát triển Phép Thần Thông. Họ cũng tiêu diệt luôn t́nh thương, v́ họ cho đức tánh đó dẫn đến sự phiền năo và họ tiến đến sự lănh đạm rất dễ dàng bằng cách diệt mất t́nh thương hơn là bằng cách phát triển càng ngày càng sâu đậm thêm ḷng cảm xúc.

Phương pháp đem ra dạy chúng ta là phương pháp hợp nhất, ấy là con đường mà kẻ Đệ Tử phải ứng đáp với tất cả những tiếng kêu đau thương như trong quyển “Tiếng Nói Vô Thinh” đă nhấn mạnh. Đệ Tử không được thu hẹp mà phải cố phát triển đời sống ḿnh. Y phải tùng phục Luật Trời không được chống lại, tự nhiên, lúc bấy giờ, Luật Trời sẽ đứng một bên y.

Phương pháp của Đệ Tử nhắc ta nhớ đến cách đấu vật của Nhựt Bổn và trong cuộc chiến đấu ấy, người thắng trận nhờ biết khéo nhượng tay cho kẻ nghịch. Y cứ nhượng và măi nhượng cho đến lúc nguy cấp, mới làm một cử động bắt buộc đối thủ phải dùng sức và chính sức ấy trở lại hại đối thủ. Ấy là đúng theo nguyên tắc về đạo pháp Yoga bên Chánh Đạo. Đức Krishna nói về đạo pháp Yoga trong quyển “Thánh Ca” (Bhagavad Gita) như vầy: “Theo đó, không phí sức, không phạm pháp.”

C.W.L.- Có nhiều người, khi nghe lời dạy bảo phải diệt sự ham muốn bắt đầu công kích dữ dội và muốn diệt tánh xấu nào, họ dùng toàn lực chống lại, gần như là tức giận lắm. Do đó, kết quả là họ khiêu khích sức đề kháng hung tợn nhứt trong tất cả những lực lượng nghịch bên trong hoặc bên ngoài. Một cuộc chiến đấu nghiêm trọng, v́ thế, bắt đầu.

Người có đầy đủ ư chí, chung cuộc cũng đem được thắng lợi cho ḿnh, nhưng lắm lúc v́ phí nhiều sức lực, tinh lực và trí lực mà bị kiệt quệ và ṃn mỏi.

Tôi có thể quả quyết rằng phương pháp thay thế rất hiệu nghiệm. Tôi đă thử áp dụng hai phương pháp đó, ấy là một lối vơ Nhu Thuật (Ju Jutsu) tinh thần lợi dụng sức mạnh của đối phương để giúp ḿnh. Anh ít tấn công kẻ nghịch hơn là tập trung tất cả sức chú ư của anh vào đức tánh đối lập. Nếu, thí dụ một người kia có tánh lau chau và hay nổi nóng, Y không nên công kích ngay tánh xấu đó mà phải luôn luôn chú định tư tưởng của ḿnh vào sự điềm tĩnh, an lạc và nhẫn nại. Nhờ thói quen mà tư tưởng nầy, sớm muộn ǵ, cũng sẽ trụ lại được. Y sẽ nhận thấy rằng tánh lau chau và sự thiếu b́nh tĩnh xưa kia đă tiêu mất, không chống lại một cách thất vọng nữa.

Nếu Y cứ bao bọc chung quanh ḿnh những h́nh tư tưởng: “Đừng nóng giận,” . . . th́ màu sắc của h́nh tư tưởng ấy luôn luôn là màu sắc của sự nóng giận và Y lại bị phản ứng xấu xa của h́nh tư tưởng ấy nữa.

Nhưng, nếu Y tưởng mạnh mẽ như vầy: “Hăy điềm tĩnh, tử tế, an lạc” nó liền phát sanh những lằn rung động thuận lợi và những lằn rung động ấy, tự nó, đem lại sự b́nh tĩnh và sự điều ḥa.

Chúng tôi không muốn lấy một tật xấu để chống lại một tật xấu. Chúng tôi muốn, không biết đến tật xấu nào cả và chỉ muốn khai triển đức tánh tốt đối lập. Kết quả cũng sẽ tốt đẹp như vậy, và chúng tôi sẽ đạt kết quả không có ǵ khó nhọc lắm.

Chúng ta nói: “Hăy diệt ḷng ham muốn” chớ không phải bảo: “Hăy diệt t́nh cảm.” Những t́nh cảm thanh cao luôn luôn được khuyến khích, càng mạnh càng tốt, nhứt là về t́nh thương chân thật và ḷng sùng tín càng nên đào luyện cho có phương pháp.

Khi trong ḷng một người phát sinh loại t́nh cảm thanh cao nầy, hào quang của Y liền nở lớn ra. Thể Vía của Y, trong trường hợp của một người thường, có thể chiếm một thể tích mười lần lớn hơn lúc b́nh thường và càng nở lớn hơn nữa khi con người biết dùng những Thể cao siêu của ḿnh.

Khi thời kỳ nẩy nở cực độ của t́nh cảm chấm dứt, hào quang thu nhỏ trở lại, không như hồi trước, bây giờ lại to lớn hơn xưa chút ít nhờ nó vừa mới phát nở ra.

Sự nẩy nở nầy đưa đến kết quả đầu tiên là chất khí của Thể Vía kém đi rất nhiều, nhưng Thể Vía rút thật nhanh chất Thanh Khí lấp đầy khoảng mới nở lớn thêm ra và lấy lại gần đúng mức độ thường lệ của nó.

Thể Vía rất cần thiết, nó giúp ta gây thiện cảm với kẻ khác, hơn nữa, nó dùng làm tấm gương cho Kim Thân (Thể Bồ Đề) rọi xuống. Ở nơi người tiến hóa cao, những màu sắc duy nhứt lộ ra trong Thể Vía là phản ảnh của các cảnh giới cao siêu. Thể Vía chỉ phản chiếu và phô bày những màu sắc tốt đẹp nhứt mà thôi.

Chơn Nhơn có ba cách giao thông với Phàm Nhơn. Thượng Trí phản chiếu xuống Hạ Trí. Kim Thân hay là Thể Trực Giác phản chiếu xuống cơi thấp kế bên là Thể Vía. Giữa Tiên Thể và óc xác thịt cũng có sự liên quan với nhau. Mối liên quan nầy là một điều rất khó hiểu nhứt. Đây là sức mạnh phi thường của ư chí biểu lộ, không cần nghĩ đến phương tiện để đạt tới mục đích. Ấy là phương pháp Cung thứ Nhứt, Cung của Bà Annie Besant, Bà có một năng lực to lớn quyết định làm không cần nghĩ đến phương tiện đem ra thi hành, điều đó Bà sẽ nghĩ sau. Giới hạn của ư chí con người không biết đến đâu là cùng. Người ta bảo đức tin có sức dời non lấp bể. Tôi không biết rơ sự ích lợi đặc biệt của đức tin nầy sẽ đem lại ǵ cho con người, nhưng quả thật tôi thấy những kết quả phi thường do ư chí con người tạo ra không biết đâu là bờ bến.

Chỉ có ư chí mà thôi, nhứt là trên những cảnh giới cao siêu, ư chí tạo ra nhiều kết quả không thể tưởng tượng được. Thí dụ, khi tôi nghiên cứu cách hiện h́nh, tôi phải học cho đúng cách thức thực hiện sự hiện h́nh ấy, theo như phương pháp tôi đem ra áp dụng, công việc đó hơi phiền phức cần có một sức hiểu biết khá chính xác về những chất khí khác hợp nhau lại và sắp xếp cho có thứ lớp những chất khí ấy một cách khéo léo.

Thế mà, tôi được biết một người hoàn toàn không hiểu chi về tất cả những điều nói trên đây, nhưng nhờ có một ư chí mạnh mẽ vô cùng mà Y hiện h́nh được tức khắc khỏi phải hợp lại tất cả các yếu tố khác nhau cần thiết cho sự hiện h́nh đó, không cần biết phương pháp phải theo.

Một ư chí hùng mạnh vừa nói trên là một trong những năng lực tiềm tàng ở trong người của chúng ta, nhưng rất ít ai biểu lộ được ư chí ấy hầu tạo nên một kết quả phi thường như thế, khỏi phải mất công phu nhiều năm chuyên cần học tập.

Thường thường, tôi tưởng cách giao thông dễ dàng hơn hết với Chơn Nhơn là hợp nhất Thượng Trí với Hạ Trí, đi từ tư tưởng cụ thể đến tư tưởng trừu tượng, hay là đi từ phân tích đến tổng hợp.

Tuy nhiên, tôi thấy có nhiều trường hợp Bồ Đề Tâm phát hiện nhưng không làm rối loạn mối giao thông thường lệ giữa Hạ Trí và Thượng Trí.

Tôi nhờ một Đấng Cao Cả dạy cho biết rằng sự hợp nhất giữa Kim Thân và Thể Vía là một con đường giao thông ngắn nhứt, nhưng muốn có đủ khả năng thực hiện sự hợp nhứt ấy cần phải chịu nhiều đau khổ ở những tiền kiếp. Nhờ cố gắng mở rộng ḷng bác ái và sùng tín mà nhiều người đem ḿnh vượt cao lên đến Cơi Bồ Đề và hợp nhất với Kim Thân. Tuy nhiên, Hạ Trí của họ chưa tiến đến thời kỳ có thể phát triển tới tŕnh độ hợp tác được với Thượng Trí và chính Thượng Trí, tự nó, cũng chưa được mở mang. Khỏi phải nói, ta cũng biết rằng Thượng Trí và Hạ Trí đều cần phải được khai triển v́ lư do hai Thể ấy không phải là kém quan trọng.

Từ Thể Vía mà kẻ chí nguyện tác động đến Hạ Trí và v́ có ḷng bác ái và sùng tín mà nó sẽ rán sức khai triển Hạ Trí và học hỏi tất cả những điều ǵ phải học hỏi. Đệ Tử có một tấm ḷng thương yêu thâm thúy đối với Đức Sư Phụ ḿnh nên y sẽ cố gắng đạt được sự hiểu biết mong muốn và do đó, càng cần thiết bao nhiêu th́ y càng mở mang trí thức của y bấy nhiêu hầu để phụng sự Ngài.

Trên Cảnh Giới cao siêu, Đệ Tử cũng cảm đến Nhân Thể (Thể Thượng Trí). Y truyền xuống Nhân Thể ư thức Bồ Đề và bắt buộc Nhân Thể tiếp nhận sự hiểu biết đó trong phạm vi mà thể nầy đủ năng lực lănh hội tùy theo phương tiện của nó.


http://thongthienhoc.net/sach/TriBenhTronghuyenmon.htm


Hoạt động phóng phát này của sự sống hành tinh có tính tuần hoàn trong thiên nhiên và hiện tại vĩnh cửu, có liên quan chặt chẽ với ảnh hưởng của cung 1. Chính trạng thái đó của Cung Ư chí hay Quyền Lực tạo ra sự tan ră của h́nh hài, sự hư hoại và tan ră của thể xác, cho đến khi nó hoàn toàn được hóa nhập trở lại vào chất liệu của hành tinh. Việc vận dụng trí tưởng tượng có tập trung sẽ giúp các bạn khám phá ra tác động này của thiên tính có thể cực kỳ có ích biết bao.
Cái chết đă hiện hữu trên hành tinh chúng ta từ thời rất xa xưa; các h́nh hài đă đến và đi; cái chết đă xảy đến cho thảo mộc, động vật và các h́nh hài của con người trong không biết bao nhiêu là kỷ nguyên, tuy thế, hành tinh chúng ta không phải là một nhà mồ, mặc dù hành tinh này có vẻ như thế, nhưng vẫn là một điều tốt đẹp, ngay cả con người cũng không làm cho hư hoại được. Tiến tŕnh chết chóc và tan ră, cùng là phân hủy của h́nh hài, tiếp diễn vào mọi lúc mà không tạo ra sự lây nhiễm hay là làm biến dạng bề mặt địa cầu. Các kết quả của phân hủy đều có hiệu quả tốt lành. Hăy suy gẫm về hoạt động có lợi này và về cái đẹp đẽ của Thiên Cơ đối với sự chết và sự tan biến.
Với con người, cái chết đảm nhận hai khía cạnh hoạt động; linh hồn con người khác với linh hồn trong các h́nh hài không phải nhân loại, trong h́nh hài đó, chính linh hồn – trên cơi riêng của nó – là một biểu lộ đầy đủ và là một biểu lộ có hiệu quả của Ba Ngôi thiêng liêng; nó định đoạt trong ṿng một số giới hạn – được dựa trên các điều kiện về thời gian và sự cần thiết của không gian – tiến nhập vào h́nh hài con người và rời khỏi đó. Khi việc rời bỏ này xảy đến và linh hồn đă rút giác tuyến ra khỏi bộ óc và rút sinh mệnh tuyến của nó ra khỏi tim, một số tiến tŕnh sự sống vẫn c̣n tồn tại; tuy nhiên, bây giờ chúng ở dưới ảnh hưởng của sự sống hành tinh, và đối với các tiến tŕnh này, tinh linh hồng trần (toàn thể các nguyên tử sinh động của phàm ngă) trở nên đáp ứng. Tôi muốn các bạn chú ư đến sự nghịch thường huyền bí mà cái chết là kết quả của các tiến tŕnh sinh động. Cái chết, hay là năng lượng tạo ra trong cái chết tỏa ra từ hành tinh, đưa tới sự gián đoạn hoàn toàn của cơ thể và thu nhỏ nó thành các nguyên tố thiết yếu – chất hóa học và chất khoáng, cộng với một số chất vô cơ, vốn dễ được thu hút vào đất đai của chính hành tinh. Do đó, với vai tṛ là kết quả hoạt động của linh hồn, cái chết tạo ra sự triệt thoái khỏi xác thân của "thể ánh sáng và của các thể tinh anh", dành h́nh hài trọng trược và các bộ phận cấu thành của nó cho các tiến tŕnh tốt lành của sự kiềm chế hành tinh. Hoạt động hai mặt này tạo ra cái chết – như chúng ta biết nó theo khía cạnh con người.
246

Ở đây, cần nêu ra rằng, năng lực này của Hành Tinh Thượng Đế để rút ra tinh túy/bản thể sự sống có sẵn trong mỗi nguyên tử, tạo ra những ǵ có thể gọi là sự hư hoại trong cấu trúc của h́nh hài ở bất cứ điểm nào mà từ đó tinh túy sự sống này được phát ra. Sau rốt, điều này sẽ mang lại các t́nh trạng trở thành rơ rệt trước mắt; như vậy, bệnh tật và "khuynh hướng tử vong" trở thành có thể nhận ra được. Do đó, sự tàn tạ của một cái hoa, chết chóc v́ tuổi già ở một động vật hoặc thực vật, và nhiều bệnh tật của con người, tất cả đều xảy ra do sự lôi kéo của sức sống mạnh mẽ của hành tinh, nói về mặt huyền bí; đây là một khía cạnh của những ǵ được gọi một cách sai lầm là Định Luật Hấp Dẫn. Định luật này – lại nói về mặt huyền bí – là một khía cạnh của Định Luật Phản Bổn Hoàn Nguyên (Law of Return), nó chi phối mối liên hệ của một đơn vị sự sống trong h́nh hài đối với cội nguồn xuất phát của nó. "Ngươi là cát bụi; ngươi sẽ trở về với cát bụi" là một phát biểu của định luật huyền linh. Trong sự tiến hóa kỳ lạ của các từ ngữ – như bất cứ quyển từ điển đặc sắc nào sẽ nêu ra – từ ngữ "cát bụi" ("dust") xuất phát từ hai nguồn gốc, một có nghĩa là "gió" ("wind") c̣n nguồn gốc kia có nghĩa là "tách ra thành mảnh" ("falling to pieces"). Hàm ư của hai nghĩa này sẽ rơ rệt và sự nối tiếp các ư tưởng bị ngăn chận lại. Cùng với sự triệt thoái của gió hay hơi thở, việc tách ra thành mảnh vụn xảy ra và đây là một phát biểu đích thực và có ư nghĩa. Cũng như sự sống vĩ đại thu hút sự sống nhỏ bé; việc biến mất của những ǵ mà sự sống đă làm linh hoạt sẽ xảy ra; điều này đúng cho mọi h́nh hài trong các giới dưới nhân loại, khi chúng đáp ứng với lực kéo hay giật lại của sự sống hành tinh; điều đó cũng đúng với h́nh hài con người khi nó phản ứng lại tiếng gọi của linh hồn để hoàn lại nguyên khí sự sống của nó cho linh hồn, xuyên qua sutratma, và trở lại dưới h́nh thức tâm thức cho cội nguồn biểu lộ của nó.



Điều này sẽ giúp cho sinh viên hiểu được tại sao
Pythagoras cho rằng Thượng Đế là Trung Tâm Hợp Nhất (the
Centre of Unity) và “Nguồn Hài Hoà” (“Source of
Harmony”). Chúng ta bảo rằng Đấng Thánh Linh (Deity) là
THƯỢNG ĐẾ (the LOGOS), chứ không phải ĐƠN NGUYÊN
(MONAD) đang ch́m trong Cô Tịch (Solitude and Silence), v́
Pythagoras đă dạy rằng NHẤT NGUYÊN (UNITY) mà bất khả
phân ly th́ không phải là số mục (no number). Cũng v́ thế mà
thí sinh nào muốn được nhận vào trường của Pythagoras th́
trước nhất là phải đă từng học qua số học, thiên văn học, h́nh
học và âm nhạc, đó là bốn ngành toán học.(1) Lại nữa, điều
này cũng giải thích được tại sao các môn đồ phái Pythagoras
lại khẳng định rằng học thuyết Số Mục (học thuyết chính yếu
của Nội môn Bí giáo) đă được chư Thiên tiết lộ cho con
người; rằng thế giới đă được Âm Thanh hay Hài Hoà tạo ra
từ Hồng nguyên khí; rằng bảy hành tinh chưởng quản vận
mệnh của thế nhân có một chuyển động hài hoà. Censorinus
nói về điều này như sau:
Các quăng tương ứng với các quăng âm nhạc (âm tŕnh) tạo
ra nhiều âm thanh khác nhau, hài hoà đến nỗi mà chúng tạo ra bản
nhạc du dương nhất mà chúng ta không tài nào nghe thấy được.
Ấy chỉ là v́ âm thanh có âm độ lớn quá nên tai chúng ta không ghi
nhận được.
1 Justin Martyr bảo rằng v́ không biết bốn môn học này, nên ông
đă bị các môn đồ phái Pythagoras loại ra, không nhận là ứng viên
nhập học trường phái của họ.
279

Thần Phổ học và chư thần linh sáng tạo
Trong thần phổ học của Pythagoras, các Huyền giai của
chư Thiên được đánh số và cũng được diễn tả bằng số.
Pythagoras đă từng thụ huấn Nội môn Bí giáo ở Ấn Độ nên
chúng ta mới thấy các môn đồ của ông cho rằng:
Đơn Nguyên (Nhất Nguyên biểu lộ) là nguyên lư của vạn vật.
Từ Đơn Nguyên (the Monad) và Lưỡng Nguyên trung gian (the
indeterminate Duad) (Hồng nguyên khí - Chaos) sinh ra Các Số
(Numbers), từ Số sinh ra Điểm (Point), từ Điểm sinh ra Đường
(Lines), từ Đường sinh ra Mặt (Superficies), từ Mặt sinh ra Khối
(Solids), từ Khối sinh ra Vật Thể (Bodies). Có bốn Hành (Elements)
cấu thành các vật thể, đó là Hoả, Thuỷ, Phong, Địa; thế giới được
cấu thành bởi tất cả những ǵ được chuyển hoá [tương hệ] và hoàn
toàn biến đổi. (1)
Nếu không hoàn toàn giải được bí nhiệm, điều này có
thể phần nào vén được bức màn che phủ các ẩn dụ kỳ diệu về
Văch, Nữ Thần Bà La Môn huyền bí nhất. Chính Nàng được
mệnh danh là “Con Ḅ Cái mũm mĩm (the melodious Cow)
cung cấp sữa và Nước” (tức Trái Đất với mọi quyền năng);
cũng chính Nàng đă bảo dưỡng chúng ta (đó là trái đất xét về
mặt vật chất Hồng Trần). Isis cũng là Thiên Nhiên huyền bí
và cũng là Trái Đất; cặp sừng ḅ cái khiến cho Nàng đồng
nhất với Văch; sau khi đă được nhận ra dưới dạng cao siêu
nhất là Pară, Văch trở thành Vaikharĩ vào lúc kết liễu sự sáng
tạo vật chất. V́ thế, Nàng là Thiên Nhiên huyền bí (mặc dù
c̣n là vật chất) với mọi tính chất huyền hoặc.
Lại nữa, với tư cách là nữ thần Ngôn Từ và Âm Thanh
(goddess of Speech and of Sound) cũng như là một biến hoá
của Tiên Thiên Huyền Nữ (Aditi), Nàng chính là Hồng nguyên
khí (Chaos) theo một ư nghĩa nào đó. Dù sao đi nữa, Nàng
cũng là “Mẹ của chư Thiên”; c̣n thần phổ học biểu lộ chân


This will help the student to understand why Pythagoras esteemed the Deity (the Logos) to be the centre of unity and "Source of Harmony." We say this Deity was the Logos, not the MONAD that dwelleth in Solitude and Silence, because Pythagoras taught that UNITY being indivisible is no number. And this is also why it was required of the candidate, who applied for admittance into his school, that he should have already studied as a preliminary step, the Sciences of Arithmetic, Astronomy, Geometry and Music, held as the four divisions of Mathematics.*** Again, this explains why the Pythagoreans asserted that the doctrine of Numbers -- the chief of all in Esotericism -- had been revealed to man by the celestial deities; that the world had been called forth out of Chaos by Sound or Harmony, and constructed according to the principles of musical proportion; that the seven planets which rule the destiny of mortals have a harmonious motion "and intervals corresponding to musical diastemes, rendering various sounds, so perfectly consonant, that they produce the sweetest melody, which is inaudible to us, only by reason of the greatness of the sound, which our ears are incapable of receiving." (Censorinus.)
In the Pythagorean Theogony the hierarchies of the heavenly Host and Gods were numbered and expressed numerically. Pythagoras had studied Esoteric Science in India; therefore we find his pupils saying "The monad (the manifested one) is the principle of all things. From the Monad and the indeterminate duad (Chaos), numbers; from
[[Footnote(s)]] -------------------------------------------------
* It is this trinity that is meant by the "three steps of Vishnu"; which means: (Vishnu being considered as the Infinite in exotericism) -- that from the Parabrahm issued Mulaprakriti, Purusha (the Logos), and Prakriti: the four forms (with itself, the synthesis) of Vach. And in the Kabala -- Ain-Soph, Shekinah, Adam Kadmon and Sephirah, the four -- or the three emanations being distinct -- yet ONE.
http://www.theosociety.org/pasadena/sd/sd1-2-12.htm (9 von 20) [06.05.2003 03:32:46]
The Secret Doctrine by H. P. Blavatsky, Vol 1, bk 2, ch 12
** Chaldean Book of Numbers. In the current Kabala the name Jehovah replaces Adam Kadmon.
*** Justin Martyr tells us that, owing to his ignorance of these four sciences, he was rejected by the Pythagoreans as a candidate for admission into their school.
[[Vol. 1, Page]] 434 THE SECRET DOCTRINE.
numbers, Points; from points, Lines; from lines, Superficies; from superficies, Solids; from these, solid Bodies, whose elements are four -- Fire, Water, Air, Earth; of all which transmuted (correlated), and totally changed, the world consists." -- (Diogenes Laertius in Vit. Pythag.)
And this may also, if it does not unriddle the mystery altogether, at any rate lift a corner of the veil off those wondrous allegories that have been thrown upon Vach, the most mysterious of all the Brahmanical goddesses, she who is termed "the melodious cow who milked forth sustenance and water" (the Earth with all her mystic powers); and again she "who yields us nourishment and sustenance" (physical Earth). Isis is also mystic Nature and also Earth; and her cow's horns identify her with Vach. The latter, after having been recognised in her highest form as para, becomes at the lower or material end of creation -- Vaikhari. Hence she is mystic, though physical, Nature, with all her magic ways and properties.
Again, as goddess of Speech and of Sound, and a permutation of Aditi -- she is Chaos, in one sense. At any rate, she is the "Mother of the gods," and it is from Brahma (Iswara, or the Logos) and Vach, as from Adam Kadmon and Sephira, that the real manifested theogony has to start. Beyond, all is darkness and abstract speculation. With the Dhyan Chohans, or the gods, the Seers, the Prophets and the adepts in general are on firm ground. Whether as Aditi, or the divine Sophia of the Greek Gnostics, she is the mother of the seven sons: the "Angels of the Face," of the "Deep," or the "Great Green One" of the "Book of the Dead." Says the Book of Dzyan (Knowledge through meditation) --
"The great mother lay with , and the |, and the , the second | and the * in her bosom, ready to bring them forth, the valiant sons of the || (or 4,320,000, the Cycle) whose two elders are the and the (Point)."
At the beginning of every cycle of 4,320,000, the Seven (or, as some nations had it, eight) great gods, descended to establish the new order of things and give the impetus to the new cycle. That eighth god was the unifying Circle or LOGOS, separated and made distinct from its host, in exoteric dogma, just as the three divine hypostases of the ancient Greeks are now considered in the Churches as three distinct personae. "The MIGHTY ONES perform their great works, and leave behind them everlasting monuments to commemorate their visit, every time they penetrate within our mayavic veil (atmosphere)," says a
[[Footnote(s)]] -------------------------------------------------
http://www.theosociety.org/pasadena/sd/sd1-2-12.htm (10 von 20) [06.05.2003 03:32:46]
The Secret Doctrine by H. P. Blavatsky, Vol 1, bk 2, ch 12
* 31415, or [[pi]]. The synthesis, or the Host unified in the Logos and the Point called in Roman Catholicism the "Angel of the Face," and in Hebrew "who is (like unto, or the same) as God" -- the manifested representation.
[[Vol. 1, Page]] 435 ANTIQUITY OF THE PYRAMIDS.
Commentary.* Thus we are taught that the great Pyramids were built under their direct supervision, "when Dhruva (the then Pole-star) was at his lowest culmination, and the Krittika (Pleiades) looked over his head (were on the same meridian but above) to watch the work of the giants." Thus, as the first Pyramids were built at the beginning of a Sidereal year, under Dhruva (Alpha Polaris), it must have been over 31,000 years (31,105) ago. Bunsen was right in admitting for Egypt an antiquity of over 21,000 years, but this concession hardly exhausts truth and fact in this question. "The stories told by Egyptian priests and others of time-keeping in Egypt, are now beginning to look less like lies in the sight of all who have escaped from biblical bondage," writes the author of "The Natural Genesis." "Inscriptions have lately been found at Sakkarah, making mention of two Sothiac cycles . . . registered at that time, now some 6,000 years ago. Thus when Herodotus was in Egypt, the Egyptians had -- as now known -- observed at least five different Sothiac cycles of 1,461 years. The priests informed the Greek inquirer that time had been reckoned by them for so long that the sun had twice risen where it then set, and twice set where it then arose. This . . . can only be realized as a fact in nature by means of two cycles of Precession, or a period of 51,736 years," (vol. ii, p. 318. But see in our Book II., "CHRONOLOGY OF THE BRAHMINS.")


chính đă bắt nguồn từ Brahmă, Ĩshvara hay là Thượng Đế
Văch, cũng như là từ Adam Kadmon và Sephira. Ngoài ra tất
cả đều là U Minh và suy luận trừu tượng. Cùng với chư
Thiền Định Đế Quân hay chư Thiên, các nhà Tiên tri, các bậc
Giáo chủ cũng như là các Cao đồ, nói chung đều có cơ sở
vững chắc. Cho dù với tư cách là Tiên Thiên Huyền Nữ hay
Minh Triết Thiêng liêng của các tín đồ phái Ngộ Đạo Hy Lạp,
Nàng cũng vẫn là mẹ của Bảy Con tức là các “Thiên Thần Bản
Diện” (the “Angels of the Face”), mẹ của “Thái Uyên”
(“Deep”) tức “Đấng Cao Xanh” (the “Great Green One”)
trong Tử Vong Kinh. Trong Thiền Định Chân Kinh (the Book of
Dzăn) có dạy như sau:
Đại mẫu (the Great Mother) thai nghén Δ, | , và , thứ nh́ |
, và ¶ ,(1) sẵn sàng sinh chúng ra, đó là các đứa Con dũng cảm của
. Δ || (tức là 4 320 000, tức Chu kỳ) hai em của nó là О [Ṿng
Tṛn] và . [Điểm].
Vào lúc khởi đầu mọi Chu kỳ 4 320 000, Bảy (theo một
vài quốc gia là Tám) Đại Thiên Thần (Great Gods) giáng lâm
để lập nên trật tự vạn vật mới và phấn kích chu kỳ mới.
Trong giáo điều ngoại môn, vị Thần Linh thứ tám ấy chính là
Ṿng Tṛn thống nhất, tức THƯỢNG ĐẾ đă phân cách với Tập
Đoàn (Host), cũng như trong các Giáo hội hiện nay, Ba ngôi
Thiêng Liêng của cổ Hy Lạp được xem như là Ba Ngôi riêng
biệt. Một tập Giảng lư dạy như sau:
1 31415 tức π, phần tổng hợp, tức Tập Đoàn hợp nhất (the Host
unified) lại thành Thượng Đế (Logos) và Huyền Điểm (Point);
Thiên Chúa giáo La Mă gọi nó là “Thiên Thần Bản Diện” (the
“Angel of the Face”), c̣n cổ Do Thái gọi nó là Michael “Đấng
[chẳng khác nào] Thượng Đế”, tượng trưng cho sự biểu lộ của
Ngài.
153
281
Thần Phổ học và chư thần linh sáng tạo
Mỗi khi nhập vào trong bức màn hăo huyền của ta [bầu khí
quyển],(1) các ĐẤNG ĐẠI HÙNG (the MIGHT ONES) thi hành các đại
sự của ḿnh xong, để lại các dinh thự đời đời bền vững như để lưu
niệm một chuyến viễn du.
Thế nên, chúng ta mới được dạy rằng các đại Kim Tự
Tháp đều được xây dựng với sự giám sát của các Ngài, “khi
Dhruva [bấy giờ là sao Bắc Cực (Pole-star)] ở vị trí thấp nhất,
c̣n Krittikăs [cḥm sao Rua (Pleiades)] lơ lửng trên đầu [ở
ngay thiên đỉnh] xem xét công việc của những Kẻ khổng lồ”.
Thế mà, bởi v́ các Kim Tự Tháp đầu tiên đều được kiến tạo
vào lúc khởi đầu một Năm Thiên Văn, dưới cung Dhruva
(Alpha Polaris) nên điều này ắt đă phải diễn ra cách nay 31
000 (31 105) năm. Bunsen thật là chí lư khi thừa nhận rằng Ai
Cập đă có một nguồn gốc xa xưa trên 21 000 năm, nhưng sự
nhượng bộ này cũng khó ḷng mà tŕnh bày hết được sự thật
về vấn đề này. Gerald Massey cho rằng:
Dưới mắt những kẻ đă thoát khỏi sự kềm kẹp của Thánh
kinh, những câu chuyện do các giáo sĩ Ai Cập và những người
khác thuật lại về việc đo lường thời gian ở Ai Cập nay đă bắt đầu
bị dị nghị. Mới đây, người ta đă t́m thấy ở Sakkara hai bản khác đề
cập tới hai chu kỳ Sothiac …được ghi nhận vào thời đó, cách nay
lối 6 000 năm. Như thế, khi Herodotus ở Ai Cập đă quan sát thấy –
như nay chúng ta biết – ít nhất là năm chu kỳ Sothiac khác nhau,
mỗi chu kỳ là 1 461 năm ….
Các tu sĩ cho kẻ chất vấn người Hy Lạp biết rằng họ đă tính
thời gian chừng nào mà mặt trời đă mọc hai lần ở nơi nó lặn và lặn
hai lần ở nơi nó mọc. Người ta chỉ có thể nhận ra được điều này
như là một sự kiện trong thiên nhiên nhờ vào hai chu kỳ Tuế sai
(Precession), tức là một thời kỳ 51 736 năm.(1)
Kỳ tới học trang 282 GLBN
435 ANTIQUITY OF THE PYRAMIDS