VƠ TRỤ VÀ CON NGƯỜI

Tác giảNGUYỄN VĂN HUẤN và NGUYỄN THỊ HAI

1957

Đánh máy: Điểm Dung

 

 QUYỂN BA

 

CHƯƠNG THỨ BỐN MƯƠI BỐN

 

Phàm Nhơn hay là Tam thể hạ

      Một khi Tam thể Thượng (hay là Chơn nhơn) đă thành h́nh xong rồi, th́ nó khởi sự rung chuyển dưới khí nóng của Hư vô. Sau khi vận chuyển một thời gian khá lâu, Chơn Nhơn mới phóng tia sáng xuống ba cơi dưới là: Hạ Thiên (hay Hạ Trí) Trung giới và Hồng trần.

      Các tia sáng nầy có bọc chất khí của cơi Bồ Đề (là chất Thái thanh khí) màu vàng chói phi thường, nên ta gọi nó là Kim Quang Tuyến hay là Sutrâtma. (Đồ h́nh số 55).

 

 

      Sợi chỉ Sutrâtma xâu các hột nguyên tử trường tồn (hay là lưu tánh nguyên tử) như dây chuỗi, ban đầu nó phất phơ trong bảy luồng sanh lực, chưa bám đặng vào đâu. Các vị Thiên Thần mới ra tay giúp đỡ, cũng như trường hợp của Ba Thể Thượng. Các Ngài mới gom chất khí cơi hạ trí (từ cơi thứ tư) cho nhập vào đường kim quang tuyến Manas (Thượng trí) làm ra hột nguyên tử trường tồn hạ trí (manas) [[1]] .

      Xung quanh hột nguyên tử hạ trí ấy mới gom lại những tính chất của loài tinh hoa thứ nh́: tinh chất nầy gom lại rồi ră đi, cứ luân phiên như thế măi. Nhờ sự chuyển động đó mà hột nguyên tử hạ trí mới rung chuyển, trí thức mới lần khai, hầu đem những tư tưởng của hạ trí lên Thượng trí (Manas). Với bao nhiêu nhọc nhằn, trong một thời gian vô lượng, hạ trí mới có thể rung động theo Thượng trí đặng. Muốn thực hiện sự nầy, th́ phải cần sự giúp đỡ của Thiên Thần thuộc về loài Tinh Hoa thứ II. Các Ngài đưa đến hạ trí những rung động nào mà nó có thể thọ cảm được, và bao bọc nó bằng chất tinh hoa rút ở trong thể xác của các Ngài để giúp nó mau tiến hóa.

      Mỗi hạng hồn khóm (trong 7 hạng chánh) đều được phân cách nhau bởi một tấm vách rất mỏng mảnh làm bằng chất tinh hoa thứ II. Ấy là tấm vách tương lai thứ nhứt của hồn khóm (đoạn nầy sẽ nói sau).

      Đường Kim Quang Tuyến do ngôi Buddhi (Bồ Đề) đi xuống nhập với nguyên tử hạ trí.

      Thế th́, sợi dây Kim khí ấy, có dính theo nguyên tử hạ trí, mới tḥng xuống cơi Trung giới. Thiên Thần bèn đem hột nguyên tử thanh khí mà gắn vào sợi dây ấy, để làm trung tâm vĩnh viễn của nó trên cơi Trung giới. Cái trung tâm đó là hột nguyên tử trường tồn của cái vía. Cũng như hột nguyên tử trường tồn hạ trí, hột nguyên tử nầy nhờ Thiên Thần đem tinh chất của loài tinh hoa thứ ba gom xung quanh. Tinh chất nầy, khi tan khi hợp, vận chuyển không ngừng; và nhờ đó mà cái thức tâm của hột nguyên tử truờng tồn cái vía mới khởi rung chuyển, và thức tỉnh lần lần những cảm giác mập mờ, hầu vượt lên đến hột giống Bồ Đề. Trải qua một thời gian vô lượng, hột nguyên tử trường tồn cái vía tập rung động đồng nhịp với sự cảm giác của Bồ Đề và sau cùng thực hiện đặng sự cảm giác nầy.

      Mỗi hạng hồn khóm trong 7 hạng chánh đều được phân cách nhau bởi một tấm vách rất mỏng mảnh làm bằng chất tinh hoa thứ III. Ấy là tấm vách tương lai thứ nh́ của hồn khóm.

      Phương pháp nầy c̣n diễn lại một lần nữa, khi lượng sóng sinh hoạt xuống tới cơi trần.

      Bấy giờ đường kim quang tuyến ở tại cơi Trung giới có hai hột nguyên tử trường tồn cái vía và hạ trí, lại tḥng xuống cơi trần để chiếm thêm hột nguyên tử trường tồn hồng trần để làm trung tâm vĩnh viễn cũa nó ở cơi phàm. (Đồ h́nh số  56). Chung quanh hột nguyên tử nầy, chất tinh khí cũng kết hợp như trước. Nhưng chất hồng trần nặng nề và kết hợp chặt chẽ với nhau hơn chất khí mảnh mai ở cơi Trung giới và Thượng giới, nên cái xác thịt con người sống lâu hơn cái vía và cái trí. Bấy giờ tại cơi hồng trần, lại có thêm tấm màn thứ ba nhập vô tấm vách ngăn Hồn Khóm.

      Rồi trong khi cái phách của các thứ kim thuộc khoáng thạch, những nguyên tố không thuộc loại kim, đă tạo thành, các vị Thiên Thần, ở cơi tinh khí hồng trần, mới nhận những hột nguyên tử trường tồn hồng trần vào trong 7 hạng Kim thạch phù hạp với chúng nó.

      Đến đây, hột lưu tánh nguyên tử hồng trần khởi đầu tiến hóa.

      Tóm lại, tam thể hạ hay là phàm nhơn được sanh ra với ba hột lưu tánh nguyên tử là: “Manas—Kâma   Sthula”  (đồ h́nh số 57)

 

 

       TOÁT YẾU.   Sợi chỉ màu vàng chói bằng chất Bồ Đề là sợi Sutrâtma hay là đường Kim Quang Tuyến. Nó xâu 3 hột nguyên tử trường tồn. Ban đầu sợi Kim Quang Tuyến bay phất phơi chưa bám vào đâu. Nhờ Thiên Thần gom chất khí cơi Hạ Thiên đưa nhập vào đường Kim Quang Tuyến để tạo ra hột nguyên tử trường tồn hạ trí ( manas).

      Sợi Kim Quang Tuyến mới tḥng xuống cơi Trung giới, Thiên Thần bèn đem chất thanh khí gắn vào sợi dây ấy để làm hột nguyên tử trường của cái vía.

      Thế rồi sợi Kim Quang Tuyến cứ măi tḥng xuống đến cơi trần. Thiên Thần mới đem chất tinh khí (thuộc về cái phách) gắn vào sợi Kim Quang Tuyến để làm hột nguyên tử trường tồn của các xác.

  

 

TOÁT YẾU.   Trong đồ h́nh ta thấy 7 cơi chia làm 3 giới tiến hóa: a) Giới tiến hóa của các đấng Thượng Đế. b) Giới tiến hóa của các đấng Siêu phàm. c) Giới tiến hóa của Nhơn loại, Cầm thú, Thảo mộc, Kim thạch và Tinh hoa các chất.  Chơn Thần ở tại cơi Đại Niết Bàn,  phân thân xuống ba cơi dưới (là Niết Bàn, Bồ Đề và Thượng giới). Nơi đây Chơn Thần lấy tên là Chơn Nhơn hay là Chơn Ngă v.v… Chơn Nhơn xuống cơi thấp nữa không được, mới phân thân xuống 3 cơi dưới kế đó là: Hạ Thiên (tức là 4 cơi thấp của Thượng giới) Trung giới và Hồng Trần. Nơi đây Chơn Nhơn lấy hiệu là Phàm Nhơn. Phàm Nhơn và Chơn Nhơn nối liền bằng một sợi dây từ điển, màu vàng, chói ḷa; ấy là đường kim quang tuyến (Sutrâtma).

 

CHƯƠNG THỨ BỐN MƯƠI LĂM

Hồn khóm    Tổng quát 

    Trong mấy bài trước, ta đă thấy mỗi Chơn thần đều có Tam Thể Thượng (Triade supérieure) hay là Ba Ngôi Cao nghĩa là có ba hột nguyên tử trường tồn hay là ba hột lưu tánh nguyên tử ở cơi Niết bàn (Atma), Bồ Đề (Buddi) và Thượng thiên hay Thượng trí (Manas supérieur) và Tam Thể Hạ (Traide inférieure) hay là Hồn thơ, hay là Ba Ngôi Thấp gồm có ba hột lưu tánh nguyên tử của cơi Hạ thiên (Hạ trí). Trung giới và Hồng trần. Những hột lưu tánh nguyên tử nầy giúp Chơn thần liên lạc với các cơi dưới bằng “tia sáng” của nó, và nhờ sự liên lạc nầy, Chơn thần mới làm ra các thể hầu kinh nghiệm và hoạt động được ở các cơi thấp. Muốn hiểu rơ điều nầy, ta cần phải học về “Hồn Khóm”.

     Vậy hồn khóm là ǵ?

     Hồn khóm là một nhóm hồn thơ, c̣n chưa tấn hóa (Hồn thơ cũng có thể gọi là Tam Thể Hạ) ở trong một cái bọc làm bằng ba tấm màn mỏng do chất tinh hoa kết thành (xin xem đồ h́nh số 56).

     Ta thấy rằng: Tam Thể Thượng nối liền với Tam Thể Hạ bằng một đường kim tuyến chất Bồ Đề gọi là Sutrâtma. Khi đường Sutrâtma tḥng xuống ba cơi dưới, th́ có nhiều chất kết thành ba lớp bọc để chia ra từ khóm. Ba lớp bọc ấy làm bằng chất tinh hoa thượng thanh khí, tinh hoa thanh khí và chất tinh khí Hồng trần. Chúng nó là những tấm vách ngăn đặc biệt của hồn khóm. Cả thảy hồn khóm chỉ tồn có 7 hạng, hay 7 khóm chánh thuộc về 7 cung của Chơn thần. Bảy Khóm chánh nầy chia ra vô số khóm nhỏ khác, và phải trải qua nhiều cảnh kinh nghiệm đặng tiến hóa, nhưng chúng nó vẫn sống riêng biệt và khác hẳn nhau.

     Bảy hạng hồn khóm chánh có những h́nh dạng mập mờ, trôi nổi b́nh bồng trong chất khí như những cái bong bóng nổi trên mặt biển. Người có thần nhản thấy chúng nó trên cơi Thượng Thiên nhưng không mấy rơ rệt, chúng nó lại rơ hơn ở cơi Trung giới, và càng rơ hơn nữa khi chúng nó xuống tới cơi phàm trong chất dĩ thái (éther). 

     Mỗi khóm chánh trôi nổi trong một sanh lực của Lượng Sóng Sanh Hoạt thứ nh́.

     Nếu ta xem kỹ trong mỗi khóm, th́ ta sẽ thấy vô số Tam Thể Hạ. Mỗi Tam Thể Hạ nối với Tam Thể Thượng bằng một sợi dây Bồ Đề (Sutrâtma) và tất cả Tam Thể Thượng đều chịu mạng lịnh của Chơn thần nào có quyền thống trị chúng nó. Trước khi hồn khóm chưa đầu thai làm loài Kim thạch, th́ ta không thấy cái bọc vàng mỏng xung quanh Tam Thể Hạ; nhưng khi hồn khóm nhập vào loài kim thạch, th́ cái bọc mỏng vánh ấy mới bắt đầu hiện ra.

     Ta đă nói hồn khóm có ba bọc, mà bọc trong hết làm bằng tính chất cơi phàm, nghĩa là làm bằng nguyên tử Hồng trần có sinh lực của Ngôi thứ nh́ đem sự sống nuôi dưỡng.  Bọc thứ nh́ làm bằng tinh chất cơi vía, (Trung giới) c̣n bọc thứ ba làm bằng tinh chất cơi trí (Thượng giới). Ba bọc nầy đem sanh lực nuôi dưỡng và che chở các hồn ở trong, tỷ như cái kén che chở con nhộng vậy. (Đồ h́nh số 58).

 

 

     Trong h́nh nầy v́ thiếu chỗ nên chỉ vẽ có 5 hồn thơ (Tam Thể Hạ) trong một khóm mà thôi, chớ thật ra c̣n biết bao là hồn thơ trong ấy. Mỗi khóm chánh chia ra nhiều khóm phụ, những nhóm phụ cũng đồng một tánh với khóm chánh. Tỷ như hồn khóm chánh Kim Thạch của mỏ vàng ở Úc châu cần phải chia ra khóm nhỏ để nhập vào mỏ vàng ở Mỹ châu, xa Úc châu tít mù. Bởi thế, trong một cục đá, một ngọn cây hay là một con thú chưa tấn hóa, ta không thấy một hồn thơ duy nhứt, mà một khối hồn thơ.

     Cả thảy hồn thơ hay Tam thể hạ đều phải nhập vào loài Kim Thạch là chất nặng hơn hết tại cơi trần. Nơi đây hồn thơ mới tập mở lần lần “trí thức” nhờ bởi sự rung động bên ngoài và sự đụng chạm với mọi vật xung quanh.

     Người ta ví hồn khóm như nước trong thùng. Nếu lấy ly múc một miếng nước, th́ nước trong ly là một cái hồn hoặc nhiều cái hồn, hoặc một phần cái hồn. Nước ở trong ly riêng biệt hẳn với nước trong thùng, mà nó lấy h́nh cái ly.

     Theo cách đó mà một phần hồn khóm có thể nhập vào một khối đá, một thảo mộc hay một con thú.

     Trong lúc sống dưới trần, và một thời gian trên cơi Trung giới, con thú có cái hồn riêng biệt như loài người, nhưng sau khi măn kỳ sống trên Trung giới, hồn thú không c̣n riêng biệt nữa, lại nhập vào hồn khóm nghĩa là trong cái bọc chung.

     Con thú chết rồi, cũng tỷ như đổ ly nước trong thùng: nước trong ly sẽ tan ră và hoàn toàn ḥa với nước trong thùng; hồn thú cũng vậy, khi nó nhập vào hồn khóm, nó sẽ hoàn toàn hỗn hợp và tan ḥa đều với các phần tử của khóm. Lại nữa, tỷ như ly nước múc trong thùng ra, rồi ta bỏ màu vào; nếu ta đổ nó lại thùng, tự nhiên nước trong sẽ bị đổi màu. Cái màu ấy có thể ví với sự kinh nghiệm của con thú đă đoạt được. Khi hồn của con thú nhập về hồn khóm, th́ sự kinh nghiệm nầy sẽ phân phát đồng đều cho mỗi phần tử của khóm. Thành thử mỗi phần tử đều thọ sự kinh nghiệm nói trên đây, nhưng với một mănh lực thấp kém hơn, v́ đă bị chia ra nhiều phần nhỏ. Bởi vậy một con chó có tính trung tín, khi thác rồi, nó nhập vào hồn khóm, và cái trung tính của nó sẽ biến thành tính trung tín chung; nhưng đức tính ấy kém hiệu lực hơn lúc c̣n ở nơi một con thú. Do đó mới có sự di truyền của bản năng động vật.

     Cái bọc hồn khóm nuôi những hồn thơ (Tam Thể Hạ) như cái tử cung nuôi bào thai vậy. Cũng như hồn khóm chia sự kinh nghiệm của mỗi phần tử đă thâu thập cho toàn thể, th́ sinh khí của người mẹ thấm nhuần tất cả tế bào của thai nhi vậy.

     Con thú c̣n nhỏ, con người c̣n bé chưa tự sống được, phải nhờ ơn cúc dục của mẹ cha, cho tới chừng nào trở nên cứng cát, biết tự động, tự túc một ḿnh mới thôi. V́ vậy những hồn thơ  của loài Kim Thạch, thảo mộc và cầm thú đều nhờ sự bảo dưỡng của lớp vỏ (bọc) bằng chất tinh hoa rung chuyển, làm trung gian tiếp dẫn thần lực của Đức Thượng Đế xạ xuống.

     Sự tiến hóa buổi đầu của hồn khóm phải tùy thuộc ba yếu tố nầy:

     a)  Trước hết, sự sống của Đức Thượng Đế bao phủ và nuôi nấng.

     b)  Sự hợp tác của những Thiên Thần.

     c)  Sự kháng cự vô ư thức của những hồn khóm đối với cái bọc bên ngoài.

     Nhờ ba yếu tố nầy mà những nguyên tử của hồn thơ mới rung chuyển. Luồng sóng sinh hoạt thứ nh́ của Ngôi thứ nh́ nuôi sống cái bọc hồn khóm và làm cho những hột nguyên tử tinh khí thuộc về cái phách được mạnh mẽ hơn. Các vị Thiên Thần sẽ đem những hột nguyên tử cái phách nhận trong loài kim thạch; và nơi đây mỗi hột nguyên tử cái phách rút vào ḿnh nhiều hột nguyên tử kim thạch. Những cảm giác về sự nóng, lạnh, sự đụng chạm, sự đè ép, sự rung chuyển làm cho hột lưu tánh nguyên tử ở trong kim thạch bị kích thích, và chúng nó sẽ rung chuyển y theo làn rung chuyển bên ngoài. Nhờ đó mà cái “tâm thức” của kim thạch mở lần lần.

     Khi những hột lưu tánh nguyên tử nầy đă thâu thập đặng một mớ cảm giác mới mẻ về sự rung động rồi, hoặc là khi kim thạch đă tan ră từ nguyên tử, th́ hồn khóm lập tức rút vào ḷng hột lưu tánh nguyên tử tinh khí (thuộc về cơi Hồng trần).

    Sự kinh nghiệm của hột lưu tánh nguyên tử rọi lại bằng cách rung động. Hễ kim thạch tiến hóa nhiều, th́ cảm biết đặng nhiều rung động bên ngoài. Có một hơi gió thoảng cũng có thể làm cho nó biết là mùa đông hay là mùa hạ sắp đến.

     Ta đă nói: khi ĺa khỏi Kim Thạch, th́ hột lưu tánh nguyên tử rút về hồn khóm của nó; nơi đây nó lập lại cách rung động của nó đă kinh nghiệm được. Những luồng rung động nầy xuyên qua lớp vỏ của hồn khóm và chạm đến những hột lưu tánh nguyên tử khác cùng ở trong một bọc. V́ vậy mà hột nguyên tử nầy cảm kích và tương trợ những hột nguyên tử kế cận; ở đây lại xảy ra một hiện tượng quan trọng khác: những hột lưu tánh nguyên tử đă đoạt được một sự kinh nghiệm đồng tánh với nhau lại thích lẫn nhau nhiều hơn là đối với những hột lưu tánh nguyên tử không đồng một kinh nghiệm. Cho nên, nhiều nhóm nhỏ đồng tánh, mới thành lập và chia biệt nhau bằng một tấm màn mỏng do cái bọc của hồn khóm chánh tḥng xuống. Nhưng ta hăy nhớ rằng: những nhóm hồn khóm nhỏ, hay hồn khóm phụ nầy, vẫn cùng ở chung một bọc.

     Sau một thời gian tiến hóa, những nhóm hồn khóm phụ sẽ có nhiều ư thức riêng biệt, nhưng vẫn giữ vài đặc tánh của hồn khóm chánh. (Đồ h́nh số 59)

     Bấy giờ ta hăy xem qua sự biến chuyển trong bọc, một khi mà các phần tử đă tiến hóa lần lần. Trong lúc hồn khóm nhập vào Kim Thạch, th́ nó có cái bọc hồng trần bằng chất tinh khí hay dĩ thái (éther) nặng nề và thô kịch nhứt. Nhưng chính tại cơi trần, hồn khóm mới hoạt động nhiều hơn hết. Khi những phần tử trong bọc hồn khóm phải nhập vào thảo mộc để nối bước trên đường tiến hóa, th́ tấm màn bằng tinh chất ấy sẽ dần dần tan mất, dường thể nó bị các phần tử trong bọc hút vào trong đặng nuôi cái phách. Bấy giờ những phần tử c̣n trong bọc phải sống trên cơi Trung giới, chúng nó được hồn khóm tận tâm nuôi dưỡng. Khi các phần tử nầy tới thời kỳ đầu thai vào loài cầm thú, th́ tấm màn bằng chất thanh khí cũng bị tan mất, giống như trước. Bây giờ năng lực hoạt động của hồn khóm liền dồn về cơi Thượng giới đặng nuôi cái trí của hồn thơ c̣n mập mờ, bằng cách làm cho h́nh thức cái trí được rơ rệt hơn. Khi nào trong bọc hồn khóm chỉ c̣n có một phần tử, tức là một hồn thơ, đang sửa soạn tiếp luồng sóng Sanh hoạt thứ III của Ngôi thứ I đặng thành hồn người, th́ cái bọc sẽ ră ra từ nguyên tử nơi cảnh thứ III cơi Thượng giới để tạo thành cái chơn thân (corps causal) cho hồn người.

     Chúng ta đă học đại khái về hồn khóm, và cách sanh hoạt của nó rồi. Vậy bây giờ chúng ta hăy học tỉ mỉ hơn. Ban đầu chúng ta học hồn khóm ở trong loài kim thạch, kế hồn khóm ở trong loài thảo mộc rồi đến hồn khóm ở trong loài cầm thú.


 

 

      TOÁT YẾU.   Khi một con thú thác rồi, nó đem sự kinh nghiệm riêng của nó về bọc hồn khóm, để chia đều cho đồng chủng. Nhưng có phần tử th́ thích hợp với sự kinh nghiệm ấy, có phần tử lại không, nên chúng nó mới thành lập những nhóm nhỏ “bất đồng tánh” do tấm màn mỏng của khối (hay là hồn khóm chánh) tḥng xuống. Trong đồ h́nh số 59, ta thấy tấm vách ngăn đó rơ ràng. Những khóm nhỏ ấy gọi là những hồn khóm phụ. Điều đáng lưu ư là những hồn khóm phụ tuy rằng có nhiều ư thức riêng biệt, nhưng vẫn c̣n ở trong một bọc chánh, và vẫn giữ vài đặc tánh của hồn khóm chánh. Sau lần lần, hai bọc nhỏ nầy xa hẳn nhau. Trong đồ h́nh, ta thấy hồn khóm chánh chia ra hai hồn khóm phụ riêng biệt. Hồn khóm phụ thứ nhứt có 5 hồn thơ: 4 hồn thơ đă đầu thai, 1 hồn thơ c̣n trong bọc. Hồn khóm phụ thứ nh́ có 4 hồn thơ: 3 hồn đă đầu thai, 1 hồn c̣n trong bọc.  

 

CHƯƠNG THỨ BỐN MƯƠI SÁU

 

Hồn khóm trong loài Kim Thạch

     Trong đồ h́nh số 60 ta thấy hồn khóm ở loài Kim Thạch, và ba lớp vách ngăn nó: a) lớp ngoài làm bằng chất nguyên tử cơi phàm; b) lớp giữa làm bằng chất tinh hoa chơn thần thanh khí ( cơi Trung giới); c) lớp trong làm bằng chất tinh hoa Thượng Thanh Khí của cảnh thứ tư (cơi Thượng giới).

     Vậy hồn khóm trong Kim Thạch tức là một nhóm hồn thơ ở trong cái bọc có 3 lớp.  Trong bọc ta thấy mỗi hồn thơ đều dính liền với Tam Thể Thượng. C̣n Tam Thể Thượng lại dính liền với Chơn Thần. Những hồn thơ c̣n ở trong bọc là những hồn chưa nhập vào loài Kim Thạch.

     Dưới cái bọc hồn khóm, ta thấy vài h́nh dạng không đều đặn, tượng trưng những khối Kim Thạch khác nhau. Trong vài khối ấy có nhiều hồn thơ.

     Bên phải cái h́nh, ta thấy một khối đá bị tan vỡ từng mảnh: v́ hồn thơ đă nhập vào đó, sắp trở về hồn khóm.

     Mỗi hồn thơ phải khởi đầu nhập vào Kim Thạch tại cơi phàm trong một thời gian.  Chất cơi phàm là thô kịch nhứt, và cơi phàm cũng là nơi Sanh Dục của Đức Thượng Đế.  Luồng Sóng Sanh Hoạt của Ngôi Lưỡng Nghi xuống thấp hơn hết, rồi lần hồi trở lên.

     Cái Tâm thức hồng trần của loài kim thạch phải được mở mang và được đánh thức trước nhứt. Chính tại cơi trần cái tâm thức phải tỉnh dậy để tiếp xúc với những sự rung động bên ngoài. Nó cần phải nhận định những mối cảm xúc do ngoại giới đem đến. Lần lần tâm thức của loài Kim Thạch mới hiểu đặng rằng: chính nơi ḿnh mới có những sự biến chuyển của các mối cảm xúc. Hay là nói cách khác, lần đầu tiên, tại cơi phàm, Tâm thức mới biết đặng là Có Ḿnh.

     Nhờ sự kinh nghiệm nhiều lần, Tâm thức có thể do những mối khích động ở ngoài mà cảm giác được sự vui và sự khổ; đồng thời nó khởi biết những điều rung động bên ngoài là không phải “M̀NH”. Đó là sự phân biện đầu tiên của loài Kim Thạch về “M̀NH” với “cái không phải là Ḿnh” hay là về “Cái Ta” với “cái không phải là Ta” [[2].  Lần lần, càng kinh nghiệm, Tâm thức càng biết phân biệt rơ rành hơn, và tự nhiên nó đem “Cái Ta” vào trong và xô đẩy “cái không phải là Ta” ra ngoài.

     Tóm lại, Tâm thức đă bắt đầu nảy nở từ cơi phàm. Sự kinh nghiệm thu vào hột lưu tánh nguyên tử. Chính trong hột lưu tánh nguyên tử ấy, cái Tâm thức sơ khai kia đang “mơ màng giấc điệp”    nếu ta có thể nói như vậy đặng    Nó cần có sự biến đổi bên ngoài đặng đánh thức nó dậy, cho nó sốt sắng tỉnh táo lên một chút, để bước qua giai đoạn khác: là nhập vào loài thảo mộc. Người ta c̣n ví cái “Tâm thức” trong Kim Thạch là cái trạng thái của người “ngủ không chiêm bao” và cái Tâm thức trong thảo mộc là cái trạng thái của người “ngủ có chiêm bao”.

     Tâm thức của loài Kim Thạch phản ứng rơ rệt với những mối xúc động bên ngoài, mà người ta thường không để ư. Như những nguyên tố hóa học tự phản ứng với nhau rơ ràng và chúng nó thường bị tan ră, khi có một nguyên tố thứ ba xen vào. Tỷ như hai nguyên tố khác nhau, hóa hợp rất khắn khít, làm thành chất ngân diêm. Nếu người ta chế vào đó chất thứ ba là lục thủy toan th́ cái gia đ́nh đầm ấm ấy sẽ bị tan ră: hai nguyên tố sẽ phân ly lập tức. Chất Ngân sẽ hóa hợp với chất Lục tố mà nó thích, để lập cái gia đ́nh khác là Lục Tố Ngân; nó để lại chất Khinh Khí bơ vơ! Túng thế, Khinh Khí phải hóa hợp với chất c̣n dư lại, để lập cái gia đ́nh thứ hai.

     Ở trước ta đă nói: hồn khóm chánh có thể chia ra nhiều hồn khóm phụ do nhiều sự kinh nghiệm khác nhau. Mà hễ bị kích thích nhiều chừng nào, th́ được kinh nghiệm nhiều chừng nấy. Tỷ như đá ở trong núi bị phun lên trên không: lớp th́ trở thành phún thạch, lớp th́ văng ra xa rồi nguội lần, lớp th́ nát biến hợp với loại Kim chảy (v́ lửa trong hỏa diệm sơn làm chảy) rồi trở lộn vào ruột trái đất mà sôi lên, lớp th́ rớt vào biển bị sóng đánh ngày đêm và bị đùa ra mé. Biết bao là sự kích thích bên ngoài: khi bị đập, bị đốt, bị nghiền, khi bị làm lạnh buốt khiến cho cái Tâm thức c̣n say ngủ kia phải tỉnh dần và tập rung động theo bên ngoài.

     Khi xảy ra sự biến chuyển và sự hợp tan đột ngột, th́ hột lưu tánh nguyên tử cái vía bị lay động chút ít. Nếu sự biến chuyển ấy xảy ra thường, th́ hột lưu tánh, nguyên tử thanh khí (thuộc về cái vía) càng mau thức tỉnh và nó khởi sự rung động. Nhơn đó t́nh cảm của nó được đánh thức chút ít. Sự rung động của hột lưu tánh nguyên tử cái vía hấp dẫn những hột thanh khí xung quanh làm thành đám mây mờ bao phủ, châu vi không rơ ràng, khí chất mảnh mai và bở lắm. Vậy loài Kim Thạch có vía mới sanh, và chưa có cái trí.

    Sau một thời gian dài đăng đẳng ở trong loài Kim Thạch, hồn khóm đă thâu nhặt đặng bao nhiêu kinh nghiệm về cách cảm ứng với sự rung động tại cơi trần, bấy giờ hồn khóm mới nhờ Thiên Thần dắt nhập vào loài thảo mộc.

 

 

     TOÁT YẾU.    Trong đồ h́nh nơi A, ta thấy khối đá tan vỡ. Hồn thơ kim thạch đi theo mũi tên sắp trở về bọc hồn khóm với sự thâu thập của nó do ngoại giới đưa đến. Nhờ những sự cảm giác và những sự kích thích bên ngoài mà cái Tâm Thức kim thạch, c̣n say ngủ kia, lần lần tỉnh dậy và tập rung động theo bên ngoài.

     Kim thạch chưa có thể trí: cái vía nó mới vừa sanh.

     Khi đă có đủ sự kinh nghiệm trong loài kim thạch rồi, hồn thơ mới nhập vào loài thảo mộc.

 

CHƯƠNG THỨ BỐN MƯƠI BẢY

Hồn Khóm trong loài Thảo Mộc 

    Đồ h́nh số 61 chỉ hồn khóm trong loài thảo mộc. Ta thấy cái bọc của nó có hai lớp.

     1  Lớp ngoài làm bằng chất tinh hoa chơn thần thanh khí nghĩa là tinh chất cái vía.

     2  Lớp trong làm bằng chất tinh hoa Thượng thanh khí hay là chất cái trí ở cảnh thứ tư.

     C̣n lớp thứ ba làm bằng chất Hồng trần của Kim Thạch lại bị rút vô hồn khóm để bổ túc cái phách của những phần tử nó.

       Ở trong hồn khóm, ta thấy những Tam thể hạ (hay hồn thơ) dính vào Tam thể thượng và tất cả đều liên lạc với Chơn thần thống trị chúng nó. Trong bọc có hai hồn thơ chưa nhập vào thảo mộc. Dưới cái bọc có nhiều h́nh dạng khác nhau tượng trưng những khóm thảo mộc. Trong mấy khóm thảo mộc ta thấy có những hồn thơ nối liền với hồn khóm. Bên phải cái h́nh, nơi A, ta thấy một thân cây đă chết, hồn thơ ẩn nơi đó được tự do trở về hồn khóm theo đường mũi tên.

     Bấy giờ hồn khóm lo bồi đấp cái vía của hồn thơ.

     Cũng như đối với hồn khóm kim thạch, hồn khóm thảo mộc là trường tiến hóa của những hột lưu tánh nguyên tử. Thiên thần d́u dắt những hồn thơ ấy từ h́nh dạng thảo mộc nầy, đến h́nh dạng thảo mộc khác, để bắt buộc chúng nó cảm giác những sự rung động khác nhau trong giới thảo mộc. Hễ chúng nó cảm giác được nhiều sự rung động khác nhau chừng nào, là chúng nó tấn hóa nhiều chừng nấy.

     Cũng như đối với loài Kim Thạch, sự phân chia hồn thơ trong thảo mộc không đồng.  Điều nầy ta chẳng rơ v́ lư do nào? Người ta có thể thấy một hột lưu tánh nguyên tử trong một hột trân châu, hay một hột bích ngọc, hay một hột thủy xoàn, nhưng người ta cũng thấy thật nhiều hột lưu tánh nguyên tử trong mỏ Kim Thạch; c̣n trái lại, trong nhiều loại Kim khác, th́ lại không có một hột lưu tánh nguyên tử nào.

     Đối với loài thảo mộc cũng thế ấy: tỷ như những thảo mộc mau chết, th́ lại không có một hồn thơ nào. Mà loại cây to sống lâu, lại có nhiều.

     Lúc sanh sống trong loài thảo mộc, những hột lưu tánh nguyên tử hay là hồn thơ hoạt động mănh liệt hơn lúc c̣n ở trong loài Kim Thạch. Thừa dịp khi chúng nó hoạt động rất hăng hái, các vị Thiên thần mới đưa lại gần chúng nó chất thanh khí; chúng nó bèn rút chất khí ấy để bồi bổ cái hồn khóm. Hễ cây càng sum sê cành lá và gốc càng to, th́ cái vía càng lớn. Cái vía nầy rung động theo sự rung động bên ngoài: v́ nó bị kích thích bởi ánh sáng mặt trời, hay giông gió, băo tố, hay sự đè ép cực lực của sự nóng lạnh bên ngoài. Những cảm xúc ấy được chuyển di một phần đến hột lưu tánh nguyên tử thanh khí của hồn thơ ẩn trong cây. Nhưng khi cây chết, hồn thơ rút về hồn khóm, đem theo những sự kinh nghiệm đă thâu thập trong kiếp nầy mà chia cho các hồn thơ của nhóm ḿnh. 

     Bao giờ cái vía của cây rung chuyển mạnh mẽ, th́ cái tâm thức của hồn thơ truyền sự rung động  xuống cơi trần, biến ra nhiều cảm giác. Người ta tưởng lầm rằng: cơi trần tạo ra cảm giác, chớ vốn thật cơi Trung giới (cơi vía) sanh nó ra vậy.

     Sau khi ở trong thân cây một thời gian khá lâu, hột lưu tánh nguyên tử cái trí khởi hoạt động chút ít, và rút chất thượng thanh khí (mà Thiên thần đă sắp sẵn xung quanh nó) làm thành một đám mây u ám bao phủ nó. Đám mây ấy là chất cái trí sau nầy của loài thảo mộc vậy. Bốn mùa thời tiết đáo đi, đáo lại có chừng, in trong trí nhớ của cây, nên cây có thể biết trước mùa nào sắp đến.

     Người ta thường cho rằng: mỗi hồn thơ của thảo mộc   trong kiếp chót   phải nhập vào cây đại thọ đặng sống lâu dưới trần, hầu kinh nghiệm cho thật nhiều, để dọn đường cho kiếp thú ḅ bay máy cựa ở tương lai. Nhưng đó không phải là một định luật. 

    Chơn thần nhập vào vật chất từ loài tinh hoa đến loài Kim Thạch, là giai đoạn cuối cùng của con đường đi xuống, hay là Nhập Thế (involution). Từ đây, hồn khóm khởi sự bỏ vật chất đặng trở về tinh thần (évolution) để trở lộn lên.

 

 

     TOÁT YẾU.   Trong đồ h́nh số 61, cái bọc của hồn khóm trong loài Thảo Mộc chỉ c̣n có hai lớp (lớp bằng chất cái vía, lớp bằng chất cái trí) lớp thứ ba, bằng chất hồng trần lại bị rút vô hồn khóm.

     Nơi A, ta thấy một khúc cây ră, hồn thơ theo đường mũi tên rút vô hồn khóm, sau khi đă được cảm giác những sự rung động bên ngoài.

     Hễ thảo mộc có những cảm giác khác nhau nhiều chừng nào, th́ tấn hóa nhiều chừng ấy.

     Trong đồ h́nh, ta thấy hồn thơ thảo mộc nhập trong nhiều thứ cây khác nhau.  Thứ thảo mộc mau chết, th́ thường không có hồn thơ; c̣n những cây đại thọ lại có rất nhiều.

 

CHƯƠNG THỨ BỐN MƯƠI TÁM

 Hồn khóm trong loài Cầm Thú

     Trong đồ số 62, người ta thấy bọc hồn khóm chỉ c̣n có 1 lớp mà thôi: ấy là lớp làm bằng chất tinh hoa thượng thanh khí của cảnh thứ tư của cơi Thượng giới. Lớp vỏ Thanh khí ở trong hồn khóm thảo mộc đă tan mất, v́ nó rút vào hồn khóm đặng làm thành cái vía của loài cầm thú.

     Bấy giờ hồn khóm hoạt động nhứt ở cơi Hạ thiên (cơi Hạ trí) để tăng cường cái trí c̣n mập mờ của hồn thơ và làm cho châu vi nó được rơ rệt hơn.

    Bên tả cái h́nh nơi A, ta thấy cái xác thú chết và hồn thơ của nó sắp rút vào hồn khóm theo lằn tên ở dưới bọc, ta thấy có vài h́nh dạng tượng trưng những khóm cầm thú.  Trong bọc có hai hồn thơ chưa nhập vào xác thú.

     Cũng như đối với loài Kim Thạch và Thảo Mộc, Thiên thần d́u dắt hồn thơ đến những h́nh thể cầm thú; và những h́nh thú thô sơ, thấp thỏi như vi trùng, sâu bọ, v.v. chỉ thỉnh thoảng thâu nhận một hồn thơ. Nhưng hồn thơ nầy nhập vào xác thú như khách qua đàng: v́ sự phát triển và sự sống của những loài ấy không có quan hệ ǵ với những hột lưu tánh nguyên tử của hồn thơ. Lại nữa, nếu hột nguyên tử nầy có rút đi mất, th́ h́nh thể của chúng nó cũng không v́ đó mà tan ră được. Vậy xác thú chỉ như quán trọ để cho những hột lưu tánh nguyên tử là khách qua đường nghỉ chơn vậy thôi.

 

    

     TOÁT YẾU.    Trong đồ h́nh, cái bọc của hồn khóm chỉ c̣n có một lớp, hai lớp kia đă rút vào trong. Ở giai đoạn nầy hồn thơ cố lo mở trí.

     Nơi A, thú vật chết, hồn thơ đang trở về hồn khóm.

     Hồn thơ nhập vào hay rút ra khỏi xác thú cũng không quan hệ ǵ đến sự sống của con thú.

     Bây giờ bọc hồn khóm chỉ có một hồn thơ, th́ con thú sắp đầu thai làm người.  Tới kỳ thoát kiếp thú, cái bọc bị xé rách và biến thành chất khí của cảnh thứ ba cơi Thượng Thiên. (3è sous plan du plan mental).

      

     Chúng ta nên nhớ rằng: trong loài cầm thú hồn thơ thâu nhận nhiều thứ rung động hơn là những lúc ở trong loài trước, nên chúng nó tự phân chia rất mau lẹ. Hồn khóm phân tách ra măi măi, và số hồn khóm phụ tăng lên càng ngày càng nhiều; c̣n trái lại, hồn thơ cứ bớt đi lần lần trong mỗi hồn khóm phụ, cho tới chừng nào chỉ tồn lại một hồn thơ ở trong một cái bọc riêng bằng chất tinh hoa Thượng thanh khí. Lúc bấy giờ hồn khóm gần đầu thai làm người và danh từ “hồn khóm” không c̣n thích ứng cho nó nữa ; bởi v́ hồn thơ không c̣n là hồn của một nhóm: v́ nó đă ĺa khỏi “khóm” của nó mà trở thành một hồn duy nhứt.  (Đồ h́nh sồ 63).

 

 

     TOÁT YẾU .    Hồn khóm chánh cứ măi phân chia ra nhiều hồn khóm phụ.  Hễ số hồn khóm phụ càng tăng, th́ số hồn thơ trong bọc càng giảm. Đến một lúc, trong bọc chỉ c̣n có một hồn thơ, như đồ h́nh số 63 đă chỉ. Hồn thơ nầy đă già dặn kinh nghiệm nên sắp sửa thoát kiếp thú làm người. Muốn làm người, nó phải tiếp luồng sóng Sanh Hoạt thứ III của Ngôi Thái Cực (I) như đă giải ở trước (xin xem đồ h́nh số 24 trang 56). Khi nó tiếp đặng luồng sóng Sanh Hoạt ấy, th́ chơn thần (Corps causal) của nó, tức là Thượng trí, mới thành h́nh được.

 

     Trong đồ h́nh ta thấy nơi A chỉ có một hồn thơ trong bọc nhưng có nhiều h́nh thể cầm thú khác cột dính vào đó. Nơi B, ta chỉ thấy một con thú ở trong bọc và không có h́nh xác con thú nào khác cột dính vào ấy. Con thú duy nhứt ở trong bọc nầy sắp chuyển kiếp qua hàng nhơn loại, nhưng phải đợi cho chơn thân (Corps causal) của nó thành h́nh mới được, nghĩa là nó phải chờ cho có được chút thượng trí là dấu hiệu thật sự của “kẻ được làm người”.

     Trước khi ta học qua vấn đề “Cổi kiếp thú làm người” là cái vấn đề quan trọng và hứng thú, th́ hiện giờ ta nên khởi đầu tầm học và phân biệt :

1.     Con thú gần thành người

                    

        2.     Cái thai nhi khác nhau thế nào?

      Lúc con thú gần thành người, th́ giống như các thai nhi được chừng 7 tháng.

     Người ta biết rằng: đứa trẻ đẻ non   chừng 7 tháng   có thể sanh ra và sống đặng.  Nhưng nếu nó ở được trong bào thai thêm 2 tháng nữa, th́ nó sẽ mạnh mẽ và cứng cát hơn. Cũng tỷ như cái hồn thơ, cần phải ở trong hồn khóm khá lâu, được đủ sự kinh nghiệm trước khi phá tan bọc hồn khóm mà làm người. Hồn thơ phải ở trong hồn khóm rút sanh lực của bọc đặng mở mang đầy đủ cái hạ trí của nó mới được cổi kiếp thú làm người.

     Những người bạn thân của thú vật nên để ư điều nầy. Nếu đem ḷng thương nó quá đỗi, khiến cho nó cảm động cực điểm, rồi phá tan cái bọc hồn khóm mà đầu thai trước thời kỳ, như đứa bé đẻ non. Trái lại, người hiểu biết phải t́m hiểu và giúp đỡ thú vật cho phải cách, nghĩa làm cho nó biết hiểu, biết thương yêu, làm cho nó trở nên khôn ngoan hơn, chớ không phải thúc dục nó   mặc dầu là vô t́nh   một cách sái quấy như vậy, tức là làm hại nó nhiều hơn là giúp ích nó. Biết rằng: sự Tiến hóa của Tạo vật cũng phải nhờ sức phụ trách bên ngoài mới mau thực hiện, nhưng cũng phải cho Tuần tự và Minh triết.

     Hiện giờ chúng ta đă đi được nửa cuộc tuần hườn thứ tư (4è ronde) của dăy hành tinh thứ tư, tức là Dăy Trái Đất, nghĩa là nhơn loại đă đi đặng phân nửa đường tiến hóa rồi; và sau cuộc tuần hườn thứ bảy, nghĩa là mút đường tiến hóa của Dăy Địa cầu, loài cầm thú mới được chuyển kiếp làm người. Tuy nhiên, cũng có một vài con thú tiến hóa hơn đồng loại rất nhiều, nên được đầu thai làm người trước thời kỳ. Nhưng đó là phần ít. Muốn giúp con thú tiến hóa mau, th́ nên do hai định luật nầy:

     1). T́nh cảm, tư tưởng của con người luôn luôn có ảnh hưởng đến con thú và có thể nâng cao t́nh cảm và trí khôn của nó.

     2). Nếu con thú được người săn sóc một cách tử tế và thương yêu. tức nhiên nó sẽ thương yêu lại người, mà nó xem như bạn thân của nó. Và nó rán lấy trí khôn suy nghĩ để t́m hiểu phải làm cách nào cho vừa ư người của nó thương yêu và tôn thờ. Nhờ sự gắng sức nầy mà hạ trí của nó sẽ mở mang và thượng trí nó mới phát khởi.

     Hễ con thú nào thuộc về Cung nào, th́ lúc làm người nó cũng thuộc về Cung đó.  Thật ra, sự chuyền kiếp làm người thường chỉ xảy ra ở một vài loài thú vật nhà mà thôi.  Trong nhóm thú vật hữu phước, ta thấy chó, mèo, ngựa, và vài con thú rừng như: khỉ, voi.  Những thú vật rừng liên kết vào mỗi hạng chánh, tỷ như chó sói, chồn, chó rừng th́ thuộc về: “loài chó”; c̣n sư tử, cọp, beo, mèo rừng th́ thuộc về: “loại mèo”.

     Loài ong, kiến và lúa ḿ nhờ các Đại Thiên Thần ở bầu Kim tinh đem qua bầu Trái Đất, chúng nó không sanh hoạt giống hệt như những loài vật tại Địa Cầu nầy: bởi v́ một hồn khóm có thể làm hoạt động cả muôn ngàn triệu kiến hay ong, bởi một ư chí duy nhứt. Mỗi con kiến hay con ong là một bộ phận của một cơ thể duy nhứt, cũng như tay chơn là bộ phận của thân thể con người vậy.

     Ta có thể nói rằng: chúng nó chẳng những có một hồn khóm chung mà c̣n có một h́nh thể chung nữa.

     Ông Macterlinck, nhà khoa học trong quyển “Vie des Termites” cũng công nhận như thế. Ông nói rằng:

     “Loài ong hay loài kiến trong ổ giống như có chung một cơ thể. Mỗi một con như là một bộ phận của thân. Toàn thân hay toàn thể chúng nó đều qui phục một mạng lệnh chung. Cũng tỷ như cả trăm, cả ngàn con ong hay con kiến chết một lượt cũng không làm giảm đặng sự động tác và uy lực của vị cầm đầu duy nhứt, những tế bào của thân thể con người dẫu có chết hằn muôn hằng vạn đi nữa, sự sống con người cũng không v́ đó mà giảm đi (bởi v́ tế bào nầy ṃn th́ có tế bào khác hóa sanh). Loại ong hay kiến giống như một người bất tử, chúng nó măi sống với thời gian, tuân theo ư chí duy nhứt: nhơn đó mà không có một sự kinh nghiệm nào mất, một sự hoạt động nào bị ngưng trệ: bởi v́ cái kư ức chung vẫn c̣n và vẫn gom lại những điều hay của hồn chung (tức là hồn khóm). Và cái hồn chung ấy có lẽ là dính liền với hồn chung của loài ong hay kiến ở thế gian, và cũng chắc chắn là dính liền với Một Tâm Thức Đại Đồng của vũ trụ”. 

     Vậy th́ một hồn khóm cai quản được chừng bao nhiêu hồn thú? Một hồn khóm làm hoạt động cả muôn ngàn triệu ruồi và muỗi, cả trăm ngàn thú vật như sư tử, cọp, beo, nai, chó sói và heo rừng. Con đối với thú vật nhà như: trừu và ḅ th́ một hồn khóm làm hoạt động một số thú ít hơn nhiều.

Một hồn khóm có thể làm hoạt động một ngàn con chó rừng, nhưng đối với con chó nhà khôn ngoan, th́ nó chỉ làm hoạt động chừng mười hay 12 con. Hễ thú càng trở nên khôn ngoan, th́ cái bọc hồn khóm càng có ít phần tử chừng nấy.

 

CHƯƠNG THỨ BỐN MƯƠI CHÍN

Thoát Kiếp Thú

     Nay ta đi đến giai đoạn trọng yếu trong đời vô tận của ta là: lúc thoát kiếp thú làm người hay là lúc khởi sanh Chơn Thân.

     Muốn biết rơ ràng cái hiện tượng nầy, ta nên ôn lại những điều đă học trước.

     Trước nhất, ta thấy ngôi Thái cực sanh hóa các Chơn thần tại cơi Tối đại Niết bàn và Chơn thần xuống ngụ tại cơi Đại Niết bàn muôn kiếp, ngh́n đời. Nhờ Thiên thần đưa đến cho mỗi Chơn thần 3 hột Lưu tánh nguyên tử ở 3 cơi Niết bàn, Bồ đề và Thượng thiên để làm ra 3 “Ba Ngôi Cao” hay là Atma   Buddhi—Manas. Lại nữa, Ba Ngôi Cao lại sanh ra Ba Ngôi Thấp (mà ta đă gọi là Hồn Thơ). Ba Ngôi Thấp cũng có một hột lưu tánh nguyên tử thượng thanh khí cơi thấp (hay là chất Hạ trí), một hột lưu tánh nguyên tử thanh khí (chất vía) và một hột lưu tánh nguyên tử tinh khí (chất phàm trần).

     Hồn thơ luân chuyển trong ba loài: Kim Thạch   Thảo mộc và Thú Cầm; nó nhờ bọc Hồn khóm che chở và nuôi dưỡng cho tới chừng nào nó đủ điều kiện tách ra sống riêng một ḿnh, cũng như thai nhi ở trong bào thai, phải nhờ khí huyết của cha mẹ nuôi dưỡng cho tới chừng nào cứng cát, mạnh mẻ, mới đúng kỳ tách ra khỏi ḿnh mẹ để sống riêng biệt trong cơi phàm trần và tiếp tục tiến hóa.

     Khi đúng thời kỳ thoát kiếp thú để làm người, th́ luồng sóng Sanh Hoạt của Ngôi thứ II mới tạo ra những cơ thể cho hồn thơ, nhờ đó mà nó sống như một sanh vật riêng biệt trong cơi đời. Muốn vậy, hồn thơ phải chiếm mấy cái thể nầy, để bắt đầu tấn hóa theo hàng nhơn loại. Trước kia, Chơn thần giao thông với cơi dưới nhờ sợi dây làm bằng chất khí cơi Bồ đề (Sutratma) hay là đường Kim quang tuyến, mà các hột lưu tánh nguyên tử xỏ xâu như chuỗi (xem lại đồ h́nh số 64). Nhưng bây giờ, sự giao thông giữa Chơn thần và mấy cơi thấp được đầy đủ hơn. Đường Kim quang tuyến mở rộng cho Sanh lực của Chơn thần xuống dồi dào (đồ h́nh số 65 B). Đồng thời tia sáng Chơn thần chói sáng hơn và lấy h́nh cái quặn “Sợi chỉ nối liền Chơn thần với h́nh bóng nó càng thêm mạnh mẽ và sáng ngời” [[3]  

     Năng lực của Chơn thần càng tuôn xuống các hột lưu tánh nguyên tử. Hột lưu tánh nguyên tử Thượng thiên (Thượng trí) thức tỉnh và tăng trưởng; nó phát ra cùng khắp những luồng rung chuyển và kết hợp lại xung quanh nó những hột nguyên tử cơi Thượng Thiên (đồ h́nh số 65 D) làm thành một vầng mây ṿng tṛn. Đó là cái Thượng trí rung chuyển. Mà hễ Thượng trí rung chuyển th́ nó kéo luôn hột nguyên tử hạ trí cũng rung chuyển như nó vậy. Chi nên trong (đồ h́nh 65 D) ta thấy 2 luồng xoay vần; luồng trên của thượng trí, luồng dưới của hạ trí đang bao bọc hột lưu tánh nguyên tử hạ trí.  Nên nhớ rằng: hột nguyên tử hạ trí nầy c̣n nằm trong bọc hồn khóm.

     Khi ấy,cái bọc chót của hồn khóm bị xét rách và bị lôi cuốn trong luồng xoay vần của Thượng trí (tức là giới Thượng thiên) (đồ h́nh số 66 A). Nơi Thượng trí cái bọc hồn khóm bị tan ră và biến thành chất khí cảnh thứ ba của cơi Thượng thiên.

     Khi luồng xoay vần ấy không chuyển động mau nữa và quây từ từ lại, th́ nó biến thành một lớp vỏ mảnh mai tức là cái thể Thượng trí hay là Chơn thân (đồ h́nh số 66 B).

 

  

     TOÁT YẾU.—( Đồ h́nh số 65 và 66). Đúng thời kỳ chuyển kiếp thú làm người, ba hột lưu tánh nguyên tử của hồn thơ vận chuyển mạnh mẽ hơn. Đường Kim quang tuyến (Sutrâtma) chói sáng hơn: sanh lực xuống dồi dào. Thượng trí rung chuyển, kéo luôn hạ trí cũng rung chuyển theo, tạo thành hai luồng xoay vần như ta đă thấy ở 65 D nhờ sự xoay vần nầy mà bọc chót của hồn khóm bị rách. Từ đây con thú trở nên một chơn linh riêng biệt (individu). Luồng xoay vần ấy chậm lại (đồ h́nh số 66 A) và biến thành một lớp vỏ mảnh mai (đồ h́nh dố 66 B) tức là cái thể thượng trí hay là chơn thân (corps causal). Chơn thân là cái thể của kẻ Làm Người.  Tất cả sự kinh nghiệm trong bao nhiêu kiếp đều gom lại về Chơn thân, để làm nền tảng cho sự tiến hóa của con người.

 

     Muốn hiểu rơ điều nầy, người Á đông lấy tỷ dụ một cái ṿi rồng (trompe d’eau) như vầy: Một đám mây to lớn bay trên mặt biển; nơi đây, những ngọn sóng chuyển động không ngừng. Th́nh ĺnh ở trên đàm mây tḥng xuống một luồng gió h́nh cái quặng, đầu nhọn ở dưới (V) quây cuồn cuồn như con trốt: Trong khi ấy, trên mặt nước lại nổi sóng, ban đầu nhỏ, sau to; một luồng trốt từ đâu đưa lại xoay vần trên mặt biển. Ngọn sóng lại từ từ nổi lên khỏi mặt nước cao hơn, giống như cái quặng, mà chót nhọn ở trên (A), lần lần 2 cái luồng trốt: (luồng trên mây và luồng dưới nước) xáp lại gần nhau. Hay nói cách khác nữa là chót cái quặng trên mây tḥng xuống đụng cái chót cái quặng ở dưới nước đưa lên. Tức th́, sức xoay chuyển của luồng trốt trên mây quá mạnh, hút nước dưới biển lên, làm thành một ống nước to lớn vô cùng; ở xa, ta trông thấy nước lên cuồn cuộn, và hai luồng trốt đă biến thành một cây nước mà ta gọi là cái ṿi rồng.

     Chính theo phương pháp nầy mà những hồn thơ chuyển kiếp thú làm người. Hồn thơ tỷ như ngọn sóng trên mặt biển. Khi ngọn sóng ấy vượt lên thật cao để hiệp nhứt với đám mây bay liệng ở trên (tức là luồng sóng Sanh hoạt III) (3è vague vie) của ngôi thứ I hay là Ngôi Thái cựcc [[4]th́ hồn thơ mới phá đặng bọc hồn khóm mà làm người, như con gà con phải phá vỡ trứng mới chun ra được.

     Ngọn sóng nhô lên là tượng trưng hai luồng sóng Sanh hoạt I và II của Ngôi Tứ tượng và Lưỡng nghi; c̣n luồng trốt trên đám mây là như luồng sóng Sanh hoạt III do Ngôi Thái cực xạ xuống. (Muốn hiểu rơ đoạn nầy xin xem lại H́nh số 18 và những lời giải nghĩa). Thế th́ hồn thơ từ đây đă thành người và nó sẽ không bao giờ trở lại đầu thai làm thú nữa. (chỉ trừ một vài trường hợp hết sức bất thường). Hồn thơ đă thoát ly hồn khóm: v́ trước kia nó hoạt động trong chất hạ trí, nay chất hạ trí bị xoay vần rút lên để gặp luồng sóng Sanh hoạt III của Ngôi Thái cực. Luồng nầy tạo ra Chơn thân (corps causal) (bằng chất Thượng trí) là cái thể của kẻ đă được làm người. Lúc bây giờ những điều của thú học hỏi, kinh nghiệm, đều gom về Chơn thân để làm nền tảng cho sự tấn hóa của con người.

     Khi cái Chơn thân đă được tạo ra rồi, th́ Tam thể Thượng mới có thể điều khiển và giúp đỡ các Hạ thể đắc lực hơn trước nhiều. Con người bấy giờ có cái “Tinh thần vượt lên” khác hẳn với thú, bởi v́ sau khi thác rồi, con thú nhập trở về hồn khóm, c̣n con người lại được siêu thăng măi măi, càng ngày càng cao, đến một ngày kia, trở về hiệp nhứt với Đấng Từ Phụ đă hóa sanh ḿnh.

     Ta đă thấy luồng sóng Sanh hoạt III không thể xuống thấp hơn cơi Bồ đề đặng. Nó bay luyện ở cơi ấy như một đám mây to lớn, đợi đến ngày hiệp nhứt với luồng Sanh hoạt thứ II [[5] ở dưới nhô lên, giống như ngọn thủy triều vượt lên mặt biển, đặng hiệp nhứt với luồng trốt của đám mây vận chuyển ở trên, để hóa ra cái ṿi ṛng vậy.

     Theo ta đă thấy về cái ṿi rồng, th́ dường thể tất cả đều nhờ luồng trốt của đám mây; nhưng ở đây lại khác: Con thú thành người là nhờ sự cố gắng của nó, cũng như luồng Sanh hoạt thứ II muốn hiệp nhứt với luồng sóng Sanh hoạt thứ III, th́ nó phải nỗ lực nhô lên, chớ lượng sóng Sanh hoạt thứ ba không thể xuống thấp để tiếp nó. Khi cái Chơn thân đă tạo ra rồi, th́ Chơn nhơn xuống chiếm lấy, để tiếp tục tiến hóa.

     Những người học về khoa Pháp môn có giải nghĩa “Con người” là một sinh linh trong vơ trụ có một phần tinh thần quá ư tuyệt diệu và một phần vật chất hết sức trọng trược: cả hai phải hiệp nhất lại, để làm một Tiểu Thiên Địa dơi bước trên đường tiến hóa mênh mông, vô bờ bến! Tương lai con người thật là vinh diệu vô cùng!

 

CHƯƠNG THỨ NĂM MƯƠI 

Bảy giai đoạn tiến hóa của muôn loài vạn vật

     Muôn loài vạn vật đều phải trải qua bảy giai đoạn tiến hóa. Người Ấn độ gọi là ba giai đoạn đầu I, II, III là Pravritti Mârga: lúc khởi điểm, tinh thần nhập vào vật chất (Nhập Thế) và ban cho vật chất đức tánh và năng lực. Giai đoạn thứ IV là giai đoạn tinh thần đi sâu vào vật chất thấp hơn hết: tức là nhập vào loài kim thạch. Đó là thời kỳ xung đột giữa tinh thần và vật chất; ấy là trận Đại chiến của Vơ trụ. Chính trong thời kỳ chiến đấu nầy mới nảy sanh ra điểm quân b́nh giữa vật chất và Tinh thần. Tinh thần, v́ quá đi sâu vào vật chất, nên đầu tiên bị vật chất chế ngự. Rốt lại, sau cơn chiến đấu mănh liệt, hai bên không bên nào thắng, bên nào bại; rồi cả hai mới ổn định và đi đến mực quân b́nh, nhưng về sau, tinh thần lần lần chiến thắng vật chất để khởi sự Qui Nguyên tức là đi trên con đường Nivritti Mârga.

     Ba giai đoạn sau V, VI, VII là ba giai đoạn phản bổn hườn nguyên (Xuất thế). Tinh thần càng trở nên thanh cao và thoát ly sự ràng buộc của vật chất. (đồ h́nh số 66).

 

 

 

     TOÁT YẾU.    Trong đồ h́nh 66, ta thấy 7 giai đoạn tiến hóa. Ba giai đoạn đầu I, II, III chơn linh nhập thế nghĩa là nhập vào vật chất. Đến giai đoạn thứ tư (IV) th́ sinh linh đi sâu vào vật chất thấp hơn hết: tức là nhập vào kim thạch. Nơi đây, xảy ra cuộc chiến đấu giữa tinh thần và vật chất. Tinh thần th́ muốn vượt lên cao, vật chất lại muôn trở xuống thấp. Sau cơn chiến đấu mănh liệt, đôi bên mới ổn định lại và đi đến mực quân b́nh. Nhưng cuối cùng, Tinh thần thắng vật chất, rồi bắt đầu đi lên để phản bổn hườn nguyên, tức là lúc xuất thế. Đến giai đoạn thứ bảy (VII) con người đă đoạt dược Mục Đích là thành bậc siêu nhân, sắp sang qua hàng Chơn Tiên.

 

     Khi con người đi đến giai đoạn thứ VII, th́ ví như người thợ gặt đă gặt hái xong, quay trở về với mấy bó lúa vàng là biểu hiệu của bao nhiêu sự kinh nghiệm đă thâu thập trong muôn kiếp. Bấy giờ, Tâm Thức được mở mang trọn vẹn, và con người sẽ thành một bậc siêu nhân trong thiên hạ, có đủ năng lực giúp đời. Đó là giai đoạn chót của kiếp làm người để sang qua hàng Chơn Tiên.

     Trong thời gian tiến hóa đầu tiên của con người, hạ trí lấn lướt thượng trí, hay nói rơ hơn nữa là phàm nhơn lấn lướt Chơn Nhơn. Chơn Nhơn phải nhượng bộ cho phàm nhơn hay là hạ trí cầm quyền điều khiển Tinh thần. Tinh thần tuy tự nhượng bộ chớ vẫn nom nom nhắc nhở hạ trí một cách lặng lẽ êm đềm, và gián tiếp điều khiển nó. C̣n hạ trí lúc ban đầu lại bị vía và xác chế ngự, nhưng kết cuộc cũng thống trị đặng chúng nó.

     Trong lúc hạ trí tranh đấu với các thể thấp: vía và xác, th́ tinh thần tức là Chơn nhơn lặng lẽ đợi chờ và tiếp tục học hỏi và kinh nghiệm. Rồi một ngày kia, là ngày vinh quang vô lượng, thượng trí thắng hạ trí; và hạ trí thống trị đặng vía, xác; phàm nhơn sẽ dâng cho chơn nhơn những đóa hoa tuyệt đẹp của nó đă hái tại cơi trần. Chừng đó con người sẽ nhập vào hàng Chơn Tiên, chủ trị đặng ba cơi thấp là: cơi Thượng giới, Trung giới và Hạ giới. Hay nói cách khác là Chơn Tiên đă chủ trị đặng phàm nhơn mà phản hồi nguyên bổn được toàn năng, toàn trí, toàn lực.

     Cái hạ trí là mầm chia rẽ. Nó chia ly giữa “Ta” với “Người”. Nó tự cho là trọng đại, c̣n Người là không đáng kể và không liên quan ǵ đến nó. Hạ trí là nguyên lư chiến đấu, tranh giành. Nó xem vạn vật đều là “Phi Ngă”

     Sự hiệp nhứt “người” và “ta” thực hiện được là khi nào con người đă thức tỉnh trên cơi Bồ Đề, v́ nơi đây không c̣n sự chia rẽ nữa. Người nào đă mở Tâm Bồ Đề rồi, th́ sẽ biết một cách xác thực rằng: vạn vật là ḿnh, ḿnh là vạn vật, và ḿnh là một phần tử thật sự trong Toàn thể Vĩ đại. Và chỉ tại cơi Bồ đề con người mới thực hiện đặng “T́nh Huynh Đệ Đại Đồng” thực sự mà thôi.

     Ta chớ lầm tưởng rằng: con người chỉ là trí hóa linh động trong chơn thân, mà thật ra con người là một Điểm Linh quang của Đức Thượng đế, nghĩa là một Chơn thần với ba trạng thái như ta đă biết là: Atma—Buddhi  Manas tức là Tinh thần ở cơi Niết bàn (Atma ou Nirvana). Huệ giác ở cơi Bồ đề (Buddhi) và Thượng trí ở cơi Thượng giới (Manas).  Ba Ngôi Cao Atma   Buddhi—Manas hiệp lại là Chơn nhơn (Ego) ngụ trong Chơn thần.

     Chơn nhơn là phần tử của Chơn thần (monade) tức là con người Thật trong thời kỳ tiến hoá của Nhơn loại. Chơn nhơn được trường sanh bất tử trong thời gian tiến hóa của nhơn loại, từ khi thoát kiếp thú làm người, cho đến ngày nó khởi hiệp nhứt với Chơn Thần tại cơi Đại Niết Bàn. Trong thời gian đó, chơn nhơn chẳng hề bị ảnh hưởng của sự luân hồi. Sự sanh và sự tử đối với nó là những sự thay đổi không trọng hệ ǵ. Mỗi lần đầu thai là mỗi lần chơn nhơn có một phàm nhơn mới. Mà phàm nhơn có ba hạ thể là: trí, vía , xác (đoạn nầy sẽ nói về sau). Chơn nhơn chỉ ở cơi Thượng thiên (tức là cơi Thượng trí) chớ không xuống thấp hơn nữa; nó mới phân thân xuống ba cơi dưới là Hạ thiên (tức là Hạ trí), Trung giới và phàm trần để hoạt động đặng tấn hóa. Ba hạ thể: trí, vía, xác   tức là phàm nhơn là những lớp y phục của chơn nhơn; lúc mặc vào là lúc đầu thai: c̣n lúc cởi bỏ là lúc thác. Những phàm nhơn sanh ra rồi chết để lần lượt học hỏi và kinh nghiệm trong ba hạ giới.

     Thế th́, con người là Chơn nhơn bất tử, có một phàm nhơn hữu hoại.

     Trên con đường tiến hóa của nhơn loại, có ba giai đoạn quan trọng hơn hết:

     1.   Thời kỳ thứ nhứt, khi cầm thú được chuyển kiếp qua nhơn loại. Vào hàng nhơn loại, Linh hồn hết ở trong hồn khóm, và sống riêng biệt trong chơn thân. Đó là thời kỳ khởi sống theo Chơn Nhơn.

     2.   Thời kỳ thứ nh́, lúc con người được Điểm Đạo [[6]]   

     3.    Thời kỳ thứ ba, là lúc con người thành một bực Chơn Tiên muôn thuở thoát được kiếp luân hồi và thấu đặng cơ tiến hóa của Dăy Địa cầu.

     Mục đích sự tiến hóa của loài người là được thoát kiếp người làm vị Chơn Tiên, nghĩa là được 5 lần Điễm Đạo (Aseka).

     Trước khi con người khởi bước vào hàng Tiên Thánh, th́ chỉ là một Chơn nhơn tuổi trẻ, yếu đuối và do dự. Muốn được nhiều nghị lực và cương quyết, th́ con người phải tạm dùng tánh ích kỷ, hung bạo. Tấm màn ích kỷ, hung bạo nầy quá ư dày đặc trong nhiều kiếp luân hồi, và con người nhờ sự ích kỷ ấy kích thích mà đời sanh hoạt của tâm thức được nảy nở.

    Tánh ích kỷ như cái giàn tṛ cần kíp cho sự cất nhà, và khi nhà đă cất xong th́ phải phá nó đi. Nếu cứ măi duy tŕ cái giàn tṛ ấy, th́ nhà không đẹp và không thể ở được, nhưng nếu không có nó th́ không kiến trúc được.

     Sở dĩ con người được sanh ra là do thiên ư muốn tạo ra một trung tâm điểm thành một vận hà, một ống dẫn lực để thâu thần lực của Đức Thượng đế ban rải khắp hồng trần.  Nhưng nếu cái Trung tâm điểm ấy bị lớp màn ích kỷ bao vây th́ không thể rút Thiên lực đặng hầu bước trên đường tiến bộ cho mau lẹ. Cái tánh ích kỷ chỉ hữu ích lúc ban đầu, v́ nó đem lại cho thần hồn cái nghị lực và chí cương quyết.

     V́ lẽ trên đây, ta thấy rằng: tánh xấu hay tốt đều có sự hữu ích trên đường tiến hóa của con người. Chi nên ta chớ quá nghiêm khắc đối với những ai c̣n mắc trong ṿng ích kỷ và hung tàn, v́ đó là dấu vết của sự tiến hóa c̣n thấp kém của linh hồn trẻ trung. Chi nên người hiểu Đạo Trời rồi, th́ tự nhiên khoan dung và từ ái. Ngày nay con người tiến bộ khá nhiều, th́ phải dẹp bỏ những tánh xấu ấy, nghĩa là rán trau dồi cho chúng nó được trong sạch và cao thượng và chúng nó sẽ hóa thành tánh hy sanh và ḷng bác ái.

     Đồ h́nh dưới đây (số 67) là tiêu biểu những điều ta đă học về sự tiến hóa từ kim thạch đến loài người có được cái chơn thân (corps causal).

 

 

     TOÁT YẾU.—Trong đồ h́nh số 67, ta thấy Chơn Linh sanh tại cơi Adi (là Tối Đại Niết Bàn) ngự tại cơi thứ nh́ là Anupadaka hay Đại Niết Bàn. Rồi từ cơi ấy phân thân xuống 3 cơi dưới (Niết Bàn, Bồ Đề và Thượng Trí) với danh hiệu là Chơn Nhơn. Nhưng chơn nhơn dù có đủ đức tánh thiêng liêng song c̣n phôi thai   cần phải xuống thấp hơn để tập rung động theo sự rung động của các cơi dưới (Hạ Thiên hay hạ trí, Trung giới và Phàm trần). Nó lại phải phân thân xuống thấp nữa, v́ bản tánh quá tinh vi của nó không thể chịu nổi với sự ô trược cảnh dưới. Phần tử của nó trong ba cảnh ấy, ban đầu là gọi là hồn thơ. Hồn thơ nhập vào hồn khóm kim thạch, thảo mộc, cầm thú. Khi hồn thơ được thành người, ta mới gọi là Phàm Nhơn.

     Trong đồ h́nh ta thấy kim thạch có cái phách làm bằng lớp tinh khí hồng trần.  Thảo mộc có đặng cái vía tại cơi Kamas là Trung giới, thú cầm có thêm hạ trí (do đường gạch tại cơi manas là cơi hạ trí). Lúc sắp làm người, thú vật có hạ trí đầy đủ.  Khi Thượng Trí của nó (thuộc về ba cảnh trên của Thượng giới) đă mở, th́ nó thành một cá nhơn riêng biệt, tức là một người ta vậy!

 

CHƯƠNG THỨ NĂM MƯƠI MỐT

Thoát  Kiếp  Thú  (tiếp theo)

Phương pháp và Tŕnh độ 

     Ở trước ta đă thấy sự chuyển kiếp thú làm người là đi từ ở dưới lên trên, hay nói một cách khác hơn, là con thú phải tự ḿnh bước qua hàng nhơn loại, chớ chẳng phải nhờ sức ở ngoài. Có 3 phương pháp thoát kiếp thú. Mỗi phương pháp đều có ảnh hưởng lớn lao cho trọn cả kiếp tương lai con người. Con thú sẽ đầu thai làm người trong 3 trường hợp nầy:

     1.) trường hợp thứ nhứt bằng trí hóa.

     2.) trường hợp thứ nh́ bằng t́nh cảm.

     3.) trường hợp thứ ba bằng ư chí.

     Bây giờ ta hăy xem qua từ trường hợp trên đây.

 

1.     Chuyển kiếp làm người bằng trí hóa

       Nếu con thú liên kết thân mật với một người chủ ưa hoạt động về trí hóa, th́ cái hạ trí sơ sanh của nó sẽ bị kích thích, và v́ sự cố gắng của nó để t́m hiểu ư người chủ, th́ chắc chắn nó sẽ chuyển kiếp làm người bằng trí hóa.

2.    Chuyển kiếp làm người bằng t́nh cảm.

     C̣n trái lại, nếu người chủ của nó là người đa cảm có những t́nh thương bồng bột, th́ chắc chắn cái vía nó (là cái thể t́nh cảm) sẽ được mở mang nhiều hơn hết. Nếu nó thương mănh liệt chủ nó, hoặc nó có dịp bộc lộ t́nh cảm mến một cách th́nh ĺnh đối với một người nào, th́ mănh lực của t́nh thương sẽ chạm đến trạng thái Bồ đề của thú mà làm ra cái chơn thân. Khi chơn thân được thành lập rồi, th́ con thú mới chuyển kiếp tách khỏi hồn khóm mà làm người.

3.    Chuyển kiếp làm người bằng ư chí

     Nếu người chủ là người đạo hạnh cao siêu hay có một ư chí quyết liệt, con thú sẽ hết ḷng thương yêu và kính phục, ư chí nó sẽ bị ư chí của người chủ kích thích nhiều hơn hết. Cho nên xác thân con thú sẽ hoạt động mănh liệt với một ư chí bất chuyển, hướng vào một mục đích duy nhứt là phụng sự chủ nó.

    Thế th́ tánh nết đặc biệt của người chủ sẽ có ảnh hưởng lớn lao cho tất cả kiếp vị lai của con thú. Sự rung động về t́nh cảm và trí hóa của con người rất mạnh mẽ và phức tạp hơn con thú nhiều, cái ảnh hưởng ấy dồn măi vào con thú như một áp lực.

     Ta chớ lầm rằng: mối liên quan giữa Atma [[7] và xác thân không chặt chẽ, bằng giữa hạ trí và thượng trí. Mối liên quan chặt chẽ cũng không chẳng phải do sự xa gần, mà do sự rung động phù hợp với nhau.

    Nếu con thú có ư muốn vượt lên cao, th́ cái ư muốn nầy sanh ra một áp lực liên tiếp từ dưới đưa lên và phá tan mọi điều trở ngại để liên kết Phàm nhơn với Chơn thần. Sự liên kết ấy xác định những đặc tánh của Chơn nhơn sau nầy.

     Mối liên quan giữa chơn thần và phàm nhơn được thành lập tức khắc trong trường hợp chuyển kiếp bằng ư chí hay t́nh cảm, nhưng nếu con thú chuyển kiếp bằng trí hóa, th́ sự liên kết nầy sẽ chậm hơn. Cách liên kết khác nhau buổi đầu giữa Chơn thần và Phàm nhơn đánh dấu sự phân biệt quan trọng trên đường tiến hóa của con người mai sau.

     Trong số cầm thú ở dăy Nguyệt Tinh được chuyển kiếp làm người bằng ư chí và t́nh cảm, th́ tiến hóa mau lắm. C̣n những cầm thú tại Nguyệt Tinh được chuyển kiếp làm người bằng trí hóa, th́ tiến bước rất chậm. Mặc dầu chúng nó đầu thai trước cả bảy trăm ngàn năm, mà tŕnh độ tiến hóa hiện giờ của hai nhóm cũng gần bằng nhau!

     Sự chuyển kiếp qua nhơn loại đă khác nhau về phương pháp mà lại c̣n khác nhau về tŕnh độ tiến hóa của con thú nữa. Tỷ như con chó rừng được thoát kiếp thú làm người, th́ thuộc về hàng nhơn loại rất thấp kém, cái thượng trí chưa đủ h́nh dạng; nó giống như một cái sườn h́nh bầu dục chờ cho chất Thượng Thanh khí (là chất thượng trí) đến choán, khi linh hồn đă thâu nhập nhiều kinh nghiệm. C̣n con chó nhà hay con mèo khôn ngoan được chủ dưỡng nuôi săn sóc và mến thương như người bạn thân, th́ khi thành người, nó sẽ có một cái thượng trí tốt đẹp và mở mang nhiều. Con thú nào đă đi đến một tŕnh độ tối cao trong loài cầm thú, th́ khỏi bị bắt buộc đầu thai làm người dă man của nhơn loại. Nó có thể chuyển kiếp làm người thường nhơn. Do đó mà một vị Chơn Sư mới nói về sự độc ác của phần đông nhơn loại trong câu này: “Chúng nó chuyển kiếp quá sớm, nên chưa đáng mang h́nh thể con người”. Ba phương pháp chuyển kiếp bằng trí hóa, ư chí và t́nh cảm là ba phương pháp chính qui. Ngoài ra, c̣n có nhiều phương pháp bất thường khác nữa.

 

PHƯƠNG PHÁP CHUYỂN KIẾP BẤT THƯỜNG:

 a) Chuyển kiếp bằng tánh kiêu căng, phách lối

     Trong buổi đầu cuộc tuần hườn thứ bảy của dăy Nguyệt Tinh, một nhóm thú vật được hữu phước ở gần với vài bực tu hành, đức hạnh cao thâm. Chúng nó nhờ ảnh hưởng của chủ mà được mở mang trí hóa và t́nh cảm một cách đặc biệt hơn chúng bạn. Nhưng rủi thay, chúng nó tiến hóa đến một mức, rồi lại ngưng, v́ chúng nó sanh tánh kiêu căng phách lối. Chúng nó hành động là để chủ ngợi khen chớ chẳng phải v́ ḷng thương chủ; chúng nó muốn trổ tài trí hơn đồng loại, và kích thích sự thèm muốn của những con thú gần bên chúng nó. Lư do ấy thúc dục chúng nó rán sức cần kíp để mau được làm người.  Cái thượng trí của chúng nó có màu sắc đặc biệt là màu da cam. Chúng nó được phép chuyển kiếp qua hàng nhơn loại có lẽ v́ nếu chúng nó ở trong kiếp thú bao lâu nữa, chúng nó cũng không tiến thêm một bước nào! Nhóm nầy gồm lối hai triệu linh hồn, chúng nó được đầu thai làm người bằng tánh phách lối; và ngoài trí hóa khôn ngoan, chúng nó không có đức tánh ǵ tốt đẹp nữa.

     Nhóm chơn nhơn nầy có hào quang màu da cam, nên người ta gọi là chơn nhơn màu cam.

     Khi các h́nh thể ở dăy Địa cầu đă thành lập xong rồi, th́ các vị Đại Thiên Thần của Nguyệt Tinh (Barishads Pitris) dắc dẫn các chơn linh được chuyển kiếp thú làm người đến các xứ của Địa cầu hầu chiếm lấy những xác thân vừa được các Ngài cấu tạo ra.

     Có ba nhóm chơn nhơn ở dăy Nguyệt Tinh :

     a)  Hơn hai triệu chơn nhơn màu cam ở bầu A.

     b)  Gần ba triệu chơn nhơn của nhóm màu vàng ở bầu B.

     c)  Hơn ba triệu chơn nhơn của nhóm màu hường ở bầu C.

     Trong các nhóm chơn linh nầy có một phần ba từ chối, không chịu chiếm lấy những thể xác đă tạo sẵn: v́ chúng nó chê là xấu xa, ô trược bởi tánh tự ái kiêu căng.

     Trái lại với nhóm màu da cam, hai nhóm màu hường và màu vàng tuân thiên lịnh xuống trần để thành lập những bộ lạc. Các chơn linh nầy vui vẻ chiếm những thể xác đă có sẵn, và lần lần cải thiện và tinh luyện chúng nó.

     C̣n những chơn linh màu cam, bất tuân thiên lịnh, phải bị nghiệp báo, mà rốt cuộc rồi cũng phải thọ lănh những thể c̣n thô trược hơn các thể đă dành sẵn cho chúng nó buổi đầu. Nhóm ấy trở nên quỉ quyệt, hung bạo và tiến hóa chậm trễ. Các chơn linh nào khôn nhứt th́ thành những vị Hắc Thần của châu Atlantide thuở xưa. Các vị Hắc Thần phá hoại Địa Cầu không phải ít, và không màng đến sự sinh tồn của muôn triệu sinh linh khốn nàn, đói  khát, miễn thỏa ḷng cao vọng th́ thôi. Hiện giờ có một số rất ít Hắc Thần thuộc về châu Atlantide c̣n tồn tại đến ngày nay. Các vị nầy rán sức phân chia nhơn loại, thích cuộc binh đao, tàn sát, chớ không hề nghĩ đến cái tương lai đen tối đang chờ đợi ḿnh! 

b)  Chuyển kiếp bằng sự thù oán và sợ hăi

      C̣n một cách chuyển kiếp bất thường nữa là cách chuyển kiếp bằng sự sợ hăi và oán thù. Trong vài trường hợp, nhiều con thú bị người hành hà tàn nhẫn, nên v́ sợ hăi mà tập mở tánh gian xảo, quỉ quyệt để t́m hiểu và tránh sự độc ác của người, chi nên chúng rút ra khỏi hồn khóm, và đầu thai làm người với trí hóa thấp kém.

     C̣n một nhóm chơn linh nữa, trước sự hung bạo của người đời, lại sanh ra oán thù chớ không sợ hăi. Khi sự oán thù tăng lên cực điểm, chơn linh có đủ sức mạnh tách ra khỏi hồn khóm với mục đích trả thù kẻ đă áp bức ḿnh. Nhơn đó mới có tại thế gian một hạng hung tợn, khát máu, và lấy sự hành khổ kẻ yếu đuối làm vui cho ḿnh. 

c)  Chuyển kiếp bằng ư muốn thống trị

     Có một nhóm chơn linh thoát kiếp thú làm người bằng ư muốn thống trị mănh liệt; người chuyển kiếp bằng cách ấy, th́ ác độc vô cùng, ưa thích đánh đập, tra khảo đồng loại một cách tàn nhẫn, để tỏ cái uy quyền của ḿnh.

d)  Chuyển kiếp bằng t́nh thương thuộc về tŕnh độ thấp kém

    Con thú c̣n ở vào tŕnh độ tiến hóa thấp kém chưa đáng bước qua hàng nhơn loại, nhưng nhờ t́nh thương mến mà đầu thai, nên thành người rừng rú, song có tánh vui vẻ, hiền lành và nhơn đạo.

*

     Biết đặng điều trên đây, ta thấy có bổn phận phải lo cho cầm thú: che chở, thương yêu, mơn trớn, cho chúng nó nhờ điễn lành của ḿnh mà mau tấn hóa. Ta chớ v́ tánh ích kỷ mà làm cho chúng nó phải đau đớn và oán thù. Ta đă hại cho kiếp tương lai làm người của chúng nó; nếu chúng nó v́ nguyên nhân độc ác đầu tiên của ta mà chuyển kiếp, th́ làm sao chúng nó trở nên người lương thiện? Có phải là tại vô t́nh, mà ta mang nghiệp chăng?

     Chúng nó sanh ra với tánh sợ hăi và thù hận rùng rợn để sau nầy gây những tai hại đáng khiếp. Vậy cái nguyên nhân của gánh quả nghiệp nầy có phải là do ta chăng?  Rồi ai vào chia quả báo với chúng nó? Chi nên các bậc Thánh nhơn chẳng bao giờ ăn thịt cầm thú. Các Ngài cho chúng nó là đàn em dại, cần phải săn sóc, thương yêu và giúp đỡ.

  

CHƯƠNG THỨ NĂM MƯƠI HAI

Hột nguyên tử trường tồn

Sự liên quan giữa nguyên tử 

     Ở trước, ta đă thấy cách tạo ra ba hột nguyên tử trường tồn cái trí, cái vía và cái xác của Tam Thể Hạ hay phàm nhơn. Bây giờ hăy học qua sự liên quan giữa chúng nó và các nguyên tử khác.

     Khi ba Hột Nguyên tử trường tồn của Tam Thể Thượng Atma Buddhi Manas hay của chơn nhơn đă tạo xong rồi, th́ cái mầm thiêng liêng trong ấy nhờ Thần lực của Đức Hóa công xạ xuống mới bắt đầu chuyển động. Sự chuyển động bên trong đưa lần đến sự chuyển động bên ngoài. Trong khoảng thời gian vận chuyển ấy lại sanh ra một sợi chỉ vàng nhỏ chói sáng bằng chất khí cơi Bồ đề. Ấy là đường Kim quang tuyến (Sutrâtmâ).  Mỗi Tam Thể Thượng tḥng xuống một sợi chỉ vàng như thế, bay phất phơ trong bảy luồng sanh lực thiêng liêng, chưa bám đặng vào đâu. Nó chờ cho tới chừng nào các vị Thiên Thần đưa đến nó chất khí cơi Hạ Trí, (từ cơi thứ tư) cột dính lại làm ra hột nguyên tử trường tồn cái trí, nó mới trụ lại một chỗ đặng (đồ h́nh số 65).

 

Hạ trí lần khai

     Xung quanh hột nguyên tử trường tồn cái trí mới gom lại những tinh chất của loài tinh hoa thứ nh́. Tinh chất nầy gom lại, rồi ră đi, cứ măi như vậy nhưng vẫn giữ nguyên cái đơn vị trung tâm là hột nguyên tử trường tồn cái trí. Cái trung tâm điểm nầy là căn cứ của vô số h́nh thể phức tạp và thay đổi măi. Nó bị sự luân chuyển của những h́nh thể nầy mà lần lần thức tỉnh và tập hiểu ư nghĩa của mọi sự rung động quanh ḿnh. Sự hiểu biết ấy mới tạo ra những sự rung động khác   mặc dầu c̣n yếu ớt   khiến cho trí thức lần khai, tâm linh chuyển động. Với một thời gian vô lượng, hạ trí mới có thể rung động thanh cao theo thượng trí đặng. Những vị Thiên Thần của Tinh hoa thứ nh́ cũng rán giúp đỡ cho hột nguyên tử trường tồn cái trí sớm thức tỉnh, bằng cách rút chất Tinh hoa trong thể xác các Ngài mà bao bọc nó.

     Chất tinh hoa thứ hai nầy là lớp bọc thứ nhứt của hồn khóm.

T́nh cảm lần mở

     Khi hột nguyên tử trường tồn cái trí đă tạo xong, th́ sợi Kim quang tuyến lại tḥng xuống cơi Trung giới để tạo ra hột nguyên tử trường tồn cái vía.

     Xung quanh hột nguyên tử trường tồn cái vía ấy mới gom lại những tinh chất của loài tinh hoa thứ ba; tinh chất nầy gom lại rồi ră đi, cứ luân phiên như thế măi. Bao nhiêu h́nh thể của chất tinh hoa thứ ba, khi tan, khi hợp, tạo ra nhiều sự rung động; và nhờ đó mà hột nguyên tử trường tồn cái vía mới thức tỉnh lần lần, và thu thập nhiều đức tánh của t́nh cảm. Cũng như ở trước, Thiên Thần giúp đỡ hột nguyên tử trường tồn mau hiểu biết, bằng cách rút ở trong thể xác của các Ngài chất tinh hoa thứ ba đặng bao bọc nó.

     Chất Tinh hoa thứ ba nầy là lớp bọc thứ nh́ của hồn khóm.

Xác thân khởi tiến

     Khi một hột nguyên tử trường tồn cái vía đă tạo xong, th́ đường Kim quang tuyến lại tḥng xuống cơi trần đặng chiếm thêm hột nguyên tử hồng trần nữa. Xung quanh hột nguyên tử nầy, chất tinh khí hồng trần cũng kết hợp như trước. Các vị Thiên Thần mới rút trong thể xác các Ngài chất tinh khí đặng bọc nó.

     Chất tinh khí cơi hồng trần là lớp bọc thứ ba của hồn khóm.

     Khi những hột nguyên tử trường tồn hồng trần đă trải qua các hạng tinh khí của kim thuộc, khoáng thạch, và những nguyên tố không thuộc loại kim, các vị Thiên Thần ở cơi Tinh khí hồng trần, mới nhận chúng nó vào trong bảy hạng tinh khí, tùy theo đặc tánh của chúng nó. Từ đây, hột nguyên tử trường tồn hồng trần khởi đầu tiến hóa.

     Những hột nguyên tử trường tồn của Ba Ngôi Cao hay Tam Thể Thượng (Atma Buddhi Manas) và ba ngôi thấp hay Tam Thể Hạ đều liên quan mật thiết với nhau.  Nhưng ở cơi trên, Chơn Thần không thể trực tiếp ảnh hưởng đến những hột nguyên tử trường tồn của Ba Ngôi Cao   chỉ trừ khi nào đoạt đến một giai đoạn tiến hóa cao siêu.  (đoạn nầy sẽ giải sau)

 

 

     TOÁT YẾU.   Trong đồ h́nh số 68, ta thấy Chơn Thần (tượng trưng bằng h́nh tam giác) xạ sanh lực xuống ba hột nguyên tử trường tồn (Niết Bàn, Bồ Đề và Thượng trí) của h́nh tam giác dưới, tượng trưng Chơn Nhơn (égo) hay Tam thể Thượng. Chơn Nhơn phân thân xuống ba cơi dưới bằng đường Kim quang Tuyến.  Đường Kim quang Tuyến phất phơ chưa bám vào đâu. Nó nhờ các vị Thiên Thần đưa nó trước nhất vào cơi hạ trí, cho nó bám vào chất khí cơi ấy, để làm ra hột nguyên tử trường tồn hạ trí. Xong rồi, các vị Thiên Thần mới cho nó bám vào chất thanh khí cơi Trung giới đặng để tạo ra hột nguyên tử trường tồn cái vía. Khi xong rồi th́ Thiên Thần mới đưa đường Kim quang Tuyến đến chất tinh khí (éther) hồng trần đặng kết hợp hột nguyên tử trường tồn cái xác.

     Ba hột nguyên tử trường tồn (hạ trí, vía và xác) là trung tâm điểm của phàm nhơn.

     Thế th́, Chơn nhơn và phàm nhơn liên hệ với nhau bằng đường Kim quang Tuyến.

 

CHƯƠNG THỨ NĂM MƯƠI BA

Đường Kim Quang Tuyến với kẻ hấp hối

     Ta đă nói trước, Tam Thể Thượng (chơn nhơn) nối với Tam Thể Hạ (phàm nhơn) do đường Kim quang tuyến (Sutrâtmâ) làm bằng chất Kim khí cơi Bồ Đề. Trong h́nh số 68 đường Kim quang tuyến là những dấu chấm để nối ba hột nguyên tử trường tồn với góc A B của h́nh tam giác tại cơi Bồ Đề.

     Đó chỉ cho ta thấy rằng: đường Kim quang tuyến phi thường đẹp đẽ nầy dệt ra đời sống của ta, vốn làm bằng chất kim khí tại cơi Bồ Đề.

     Nếu ta lấy huệ nhăn ḍm vào ba hạ thể của ta là: trí, vía, xác, th́ ta sẽ không c̣n thấy chúng nó nữa, mà là ba cái khuôn  [[8]]  dệt bằng những sợi Kim quang tuyến sáng rỡ, tốt đẹp vô cùng. Đường Kim quang tuyến nầy dệt qua dệt lại với nhau, làm thành tấm lưới vàng, bọc ba hột nguyên tử trường tồn; hột nguyên tử nào thô hơn hết, th́ ở trong nhất .

     Tấm lưới vàng nầy bên trong dệt bằng những đường tơ thô kịch, bên ngoài dệt bằng những đường tơ thanh mịn và đẹp sánh hơn.

     Nếu dùng huệ nhăn xem kỹ tấm lưới vàng lại lần nữa, th́ ta thấy nó chỉ có một mối mà thôi: hay nói cách khác hơn là: đường Kim quang tuyến chỉ có một sợi mà dệt thành tấm lưới. Lúc linh hồn luân hồi, th́ đường Kim quang tuyến dài ra khỏi hột nguyên tử trường tồn hồng trần (mà ta gọi là hột nguyên tử trường tồn cái xác) rồi túa khắp nơi, bao trùm thai nhi [[9]. Bao giờ cái xác đứa nhỏ đă kết thành xong, th́ đường Kim quang tuyến mới hết túa ra nữa. Sanh lực (prâna) do theo các chi nhánh của đường Kim quang tuyến xuống nuôi xác thịt. Tới chừng cái xác chết, đường Kim quang tuyến mới rút thun lại. Chỗ nào không có đường Kim quang tuyến, th́ tế bào sẽ chết và tan ră. Lấy huệ nhăn ḍm vào người hấp hối, th́ ta sẽ thấy như vầy: đường Kim quang tuyến dang lần xa khỏi xác thịt, cuốn sanh lực theo, rồi nó thun lại đặng bọc hột nguyên tử trường tồn cái xác; đoạn nó rút vào trái tim. Hễ đường Kim quang tuyến bỏ chỗ nào, th́ chỗ đó lạnh như đồng. Ḍm vào trái tim, th́ ta thấy một cái ánh sáng chói chói ḷa, màu vàng tím    tức là sự sống của xác thân   . Trong khi ấy, tuy trái tim c̣n hô hấp chớ tứ chi đă lạnh ngắt.  cái thứ lạnh của thây ma    Rồi cái ánh sáng ấy, với đường Kim quang tuyến và hột nguyên tử trường tồn cái xác mới trút lên đầu theo đường chính giữa xương sống gọi là sushumna nâdi. Đường sushumana nâdi nầy là đường đi từ tim thất thứ ba tới năo thất thứ ba. Bấy giờ cặp mắt người sắp chết sẽ lộn tṛng; đường Kim quanh tuyến bọc chặc hột nguyên tử trường tồn cái xác rút lên đỉnh đầu theo chỗ khớp xương lư đỉnh cốt (pariétal) và hậu chẫm cốt (occipital) mà bay ra khỏi xác. Chừng ấy, xác mới thật là chết.  Những tia sáng của đường Kim quang tuyến mới siết chặt hột nguyên tử trường tồn cái xác. Hột nguyên tử nầy giống như con nhộng nằm trong ổ kén; nó nằm yên như vậy cho tới chừng nào con người đầu thai nữa, nó mới khởi hoạt động lại. 

     Cái xác tan ră rồi, th́ đến lượt cái vía và cái trí. Khi ba hạ thể: trí, vía , xác của phàm nhơn đă tan ră rồi, th́ Tam thể Hạ, làm thành một khối với ba hột nguyên tử trường tồn, trở nên sáng ḷa, chiếu diệu trong chơn thân (corps causal).

 

CHƯƠNG THỨ NĂM MƯƠI BỐN

Sự hữu ích của những hột

Nguyên tử trường tồn

    Bây giờ đây, ta hăy trở lại vấn đề: lúc Chơn thần chiếm những hột nguyên tử trường tồn ở ba cơi cao là: Niết bàn, Bồ Đề, Thượng giới, và t́m hiểu sự ích lợi của những hột nguyên tử ấy.

     Trước nhứt ta nên nhớ rằng: chất khí làm ra mỗi cơi đều có 7 hạng khác nhau.  Chúng nó khác nhau là do sự có nhiều hay có ít đặc tính của vật chất là: “Tịnh, Động và Nhịp”, hay nói cách khác, chúng nó khác nhau là do chúng nó đồng tính nhiều hay ít với ba trạng thái của Đức Thượng Đế là: Ư Chí, Minh Triết và Bác Ái.

     Ba trạng thái chánh nầy mới chia ra 7 trạng thái phụ gọi là 7 “Cung”. Mỗi “Cung” đều có một vị “Chúa Tể” gọi là “Đức Hành Tinh Thượng Đế”.  Đức Hành Tinh Thượng Đế mới nhuộm màu sắc đặc biệt cho “Cung” của ḿnh. Chi nên dầu có muôn triệu Chơn thần đi nữa cũng tùy màu sắc ḿnh mà chia làm 7 “Nhóm” hay 7 “Cung”. Mỗi người chúng ta đều có một đặc tánh riêng, một chất khí đặc biệt của mỗi nhóm đó. Mỗi Chơn Thần tự chọn “Cung” ḿnh hầu tăng cường cái đặc tánh của ḿnh. Khi chọn rồi, các Đấng Thiêng liêng mới đem tia sáng của Chơn Thần tḥng xuống cơi dưới cho nhập vào hột nguyên tử đồng tánh, đồng màu.

     Những hột nguyên tử trường tồn của Tam Thể Thượng cũng đồng khí chất với ba hột nguyên tử trường tồn của Tam Thể Hạ, chi nên chúng nó mới liên quan mật thiết với nhau đặng.

     Ở cơi trên một khi các thể của chơn nhơn đă lập thành, th́ có thể nói, chúng nó là vĩnh viễn tương đối với ba hạ thể của phàm nhơn. Chúng nó có thể giữ màu sắc nguyên thỉ riêng. Chớ ở ba cơi dưới (Hạ Thiên, Trung giới và phàm trần), chất khí và màu sắc của ba hạ thể khó theo ư định và đặc tính của chơn nhơn; đó là luật Nhân Quả (sẽ nói sau).

     Những điều nói trên đây có thể tóm tắt như vầy:

     Những nguyên tử trường tồn có nhiệm vụ lưu lại đời đời những sự kinh nghiệm đă trải qua. Bây giờ ta hăy lấy thí dụ về hột nguyên tử cái xác có lẽ dễ hơn là nói về những hột nguyên tử khác.

     Theo khoa học, th́ mỗi sự chấn động nào chạm phải một vật ǵ, đều sanh ra một sự rung động đồng tánh với nó. Sự rung động nầy có thể cục bộ (ở tại chỗ) hay là khái quát (lan rộng khắp nơi) tùy theo tánh chất và sức mạnh của sự chấn động. Nhưng mặc dầu cục bộ hay khái quát đều nhờ đường Kim quang tuyến chuyển sự rung động đến hột nguyên tử trường tồn cái xác. Sự rung động đi từ bên ngoài thấu đến bên trong, trở thành một mănh lực rung động tại hột nguyên tử trường tồn; tự nhiên hột nguyên tử nầy cũng phải rung động y như vậy.

     Trong đời sống vật chất hằng ngày, xác thân ta thọ không biết bao nhiêu là sự rung động; mà mỗi sự rung động đều để di tích lại cho hột nguyên tử trường tồn. Khiến cho hột nguyên tử trường tồn nầy lập lại những sự rung động đă qua. Thế th́, tất cả sự kinh nghiệm về xác thân đều ghi vào hột nguyên tử trường tồn cái xác bằng những cơ năng rung động. Khi cái xác tới thời kỳ tan ră, hột nguyên tử trường tồn hồng trần rút về chơn thân với bao sự rung động đă kinh nghiệm ở cơi trần; và nó có thể lập lại những sự rung động đă kinh nghiệm vừa qua một cách dễ dàng.

     Ta đă nói ở trước: khi tế bào cái xác đă chết rồi, th́ hột nguyên tử trường tồn nằm trong bọc Kim quang tuyến siết chặc lại như con nhộng trong kén. Nó ngủ như vậy cho đến chừng nào linh hồn đầu thai xuống trần, nó mới khởi hoạt động lại. Trong khi nó ngủ, chơn nhơn cứ măi học hỏi và hoạt động nơi mấy cơi khác. Khi đến thời kỳ đầu thai, th́ hột nguyên tử hồng trần rung chuyển lại, và phải nhờ có nó, cái thai mới đậu.

     Khi cái thai đậu rồi, th́ những màu sắc và đặc tánh của hột nguyên tử trường tồn mới phát lộ ra. Rồi Thiên Thần mới nương theo đó mà chọn vật liệu cho cái xác thân mới sau nầy được phù hạp với tánh chất riêng của hột nguyên tử trường tồn cái xác. Nhưng các Ngài cũng chọn lựa cách nào cho xác thân mới ấy có thể rung động ḥa nhịp với nguyên tử trường tồn đó, hoặc giả không quá trái nghịch. Bởi thế nên các Ngài mới chọn giờ sanh của nó hạp với thần lực của Ngôi sao chiếu mạng. Khoa Chiêm Tinh dựa theo đó mà đoán số. Thật ra, chẳng phải “ngôi sao chiếu mạng” làm cho ḿnh có đặc tính nầy hay đặc tính khác, mà chính bản tính ḿnh khiến cho ḿnh sanh đúng ngày giờ chiếu mạng của một ngôi sao nầy, hay một ngôi sao khác.

    Người ta sẽ lấy làm lạ và không thể tưởng tượng nổi điều nầy: một hột nguyên tử trường tồn cái xác   nhỏ bé như thế ấy, lại là một trường hoạt động cho bao nhiêu điều phức tạp ở cơi trần sao? Nhưng sự thật là thế! Ta nên nhớ rằng: Khoa học cũng kinh nghiệm như vậy. Con sinh trùng Weissmann tạo ra đứa nhỏ với tất cả tính nết di truyền của tổ tiên. Hột nguyên tử Weissmann nầy đem cho đứa nhỏ cái đặc tính xác thịt của ông, cha; c̣n hột nguyên tử trường tồn đem cho nó những đặc tính kiếp trước của nó. Các nhà thông thái cổ kim đều chứng thật sự kinh nghiệm của nhà khoa học Weissmann. Theo sự kinh nghiệm nầy, ta sẽ lấy làm kinh ngạc mà thấy cháu mấy đời c̣n giống hệch ông tổ ḿnh, đă từ trần qua nhiều thế kỷ. Có hai vợ chồng kia, người nước da trắng lại sanh ra đứa con đen thui như người Ấn. Chừng truy ra tông tích, th́ thấy ông cố của người mẹ là người Ấn độ. Tại sao có sự kỳ lạ thế? Nhưng sự đó không lạ ǵ! Cái không gian không làm giảm đặng quan năng của nguyên tử. Nó không ngăn đặng làn tư tưởng, th́ làm sao ngăn đặng sự biểu lộ của tư tưởng trong h́nh thể vật chất? Thường thường hột nguyên tử trường tồn cái xác tiến hóa, th́ tự nhiên nó gặp trường hợp phù hạp với nó, chỉ trừ quả báo nặng nề của nó làm cho nó lạc bước mà thôi. Bây giờ ta nên xem ảnh hưởng của hoàn cảnh đối với nó. Trong lúc ở thời kỳ thai dựng, hột nguyên tử trường tồn cái xác rút xung quang nó những nguyên tử hồng trần phù hạp và đồng tính với nó: thường là những nguyên tử của cha mẹ đứa nhỏ và của người lân cận.

     Sau khi sanh ra rồi, và trọn đời như vậy, cái xác thân mới nầy cứ tiếp tục rút những nguyên tử đồng tính xung quanh nó. Nếu cái xác thân ấy ở gần những người tiến hóa cao, th́ nó sẽ rút nhiều hột nguyên tử tốt đẹp của họ mà tiến rất mau về vật chât, t́nh cảm và trí hóa. Chi nên bên Nho Giáo, Ông Khương Tiết Thiện tiên sanh có nói rằng: “Thân hiền như tựu chi lan, tị ác như úy xà yết”, nghĩa là “tới lui với người hiền như gần cỏ chi lan, lánh xa kẻ dữ như sợ loài rắn rết”. Người Langsa có nói: “Qui s’assemble, ressemble” nghĩa là “gần ai th́ giống nấy”.  Câu  “gần mực th́ đen, gần đèn th́ sáng” là lời ngạn ngữ xưa nay rất có lư vậy.

     Hột nguyên tử trường tồn cái vía cũng liên quan chặt chẽ với cái vía như hột nguyên tử cái xác liên quan chặt chẽ với cái xác vậy. Lúc chết rồi, con người bỏ xác và ở trong cái vía tại cơi Trung giới một thời gian, đường Kim quang tuyến mới rút ra khỏi cái vía —như đă rút ra khỏi cái xác trước kia )    và bọc theo hột nguyên tử trường tồn cái vía. Bây giờ cái vía mới bắt đầu tan ră ra từ nguyên tử thanh khí. Hột nguyên tử trường tồn cái vía mới ngủ êm trong bọc Kim quang tuyến, đợi chừng nào con người đi đầu thai, cần có cái vía, nó mới thức dậy.

      Đối với hột nguyên tử trường tồn cái trí cũng y thế. Khi cái xác và cái vía lần lượt tan ră, th́ con người lên cơi Hạ Thiên ở trong hạ trí, tức là cơi Trời hay cơi Thiên đàng (Devakhan). Nơi đây, nếu con người ít tiến hóa th́ không học hỏi ǵ nhiều, v́ lẽ thời gian trên Thiên đàng rất ngắn ngủi, mà nhứt là do tư tưởng c̣n yếu ớt, không đem lại kết quả ǵ trọng đại cho hột nguyên tử trường tồn. Nhưng nếu con người tiến hóa cao, th́ đời sống tại cơi Thiên đàng là nguồn học hỏi bao la: cái thời gian ở cơi ấy đem lại sự phát triển vô biên của kiếp sống vô tận của con người. Học hỏi được một thời gian, lâu mau tùy theo tŕnh độ, con người phải bỏ cái  trí, như đă bỏ cái xác và cái vía. Đường Kim quang tuyến sẽ rút ra khỏi cái trí. Chừng ấy cái trí mới bắt đầu tan ră ra từ nguyên tử thượng thanh khí. Thế th́ phàm nhơn chỉ c̣n lại có ba hột nguyên tử trường tồn   tượng trưng ba hạ thể vừa tan ră.

     Như ta đă nói, ở trước, những hột nguyên tử trường tồn nầy chói sáng làu làu, giống như khối linh quang, rút vào Chơn Thần đợi đến kỳ đầu thai mới tỉnh dậy.

     Khi giờ đầu thai đă đến, chơn nhơn bắt hột nguyên tử trường tồn cái trí vận chuyển.  Bấy giờ, cái bọc vàng Kim quang tuyến mới khởi chuyển động. Cách chuyển động nầy giống như đá nam châm rút vào từ giới (champ magnétique) những hột nguyên tử cái trí đồng nhịp với nó. Chính nhờ những vị Thiên Thần giúp tay trong ấy: các Ngài đưa đến gần hột nguyên tử trường tồn cái trí những nguyên tử thượng thanh khí phù hạp. Nếu linh hồn bắt đầu tiến hóa, th́ các Ngài làm cái trí không được mảnh dẻ giống như một lùm mây bao xung quanh hột nguyên tử trường tồn cái trí. Nhưng về sau, khi linh hồn tiến hóa cao, th́ các Ngài làm cái trí dày khít hơn và tốt đẹp hơn.

     Khi cái trí đă làm xong rồi, th́ đến lượt cái vía và cái xác (như đă nói ở trước).  Người ta thường hỏi rằng: “Làm sao ba hột nguyên tử trường tồn của ba thể (trí, vía, xác) ở mấy cơi thấp lại nhập vào chơn thần ở cơi cao đặng? Lại nữa, khi chúng nó nhập vào chơn thần, hỏi chúng nó có mất đặc tính chăng?  Nhưng người nào hỏi câu đó đều quên sự trọng đại nầy: “Các cơi đều đi thấu ngang qua được và chơn thần có thể chứa tất cả nguyên tử của ba cơi: trí, vía và xác vậy. Mỗi phần chơn thần đều liên quan với mổi phần của phàm nhơn. Tuy chúng ta ở dưới trần, chớ chúng ta choán trọn bảy cơi trong vơ trụ.  Nhơn đó, mà hột nguyên tử trường tồn hồng trần làm sao mất đặng đặc tính, khi ngụ trong chơn thần?”        

     

CHƯƠNG  THỨ  NĂM  MƯƠI  LĂM

Những hột nguyên tử trường tồn

Và khi hết dùng đến chúng nó nữa

     Ở chương trước, chúng ta đă thấy, khi xác thịt chết rồi, th́ đường Kim quang tuyến bọc hột nguyên tử cái xác rút theo đường sushumna nâdi là đường nối trái tim với óc, rồi mới xuất ra tại khớp xương lư đỉnh cốt và hậu chẫm cốt. Đó là sự xuất hồn ra khỏi xác.  Bấy giờ cái xác mới thật là chết.

     Ba hột nguyên tử trường tồn: lần lượt ra khỏi ba hạ thể xác, vía, trí, mới rút lên chơn thân nằm yên như trong giấc ngủ. Ba hột nguyên tử quư báu nầy nằm trong bọc kim quang tuyến làm bằng chất bồ đề màu vàng sáng rỡ, chúng nó là cái kết quả sự học hỏi của phàm nhơn trong những kiếp đă qua, và chính chúng nó cũng là mầm tiến hóa của kiếp sẽ tới.  (đồ h́nh số 43).

     Cắt nghĩa.    Trong đồ h́nh số 69 ta thấy:

     Tại cơi phàm, lúc con người c̣n sống, th́ hột nguyên tử trường tồn của cái xác ở ngoài hết, kế trong, th́ hột nguyên tử trường tồn cái vía, rồi mới đến hột nguyên tử trường cái trí.

     Khi con người bỏ xác rồi, th́ nguyên tử trường tồn cái xác rút vào trong hết. Khi bỏ cái vía rồi, hột nguyên tử trường tồn cái vía cũng rút vô nằm gần bên hột nguyên tử cái xác. Bây giờ chỉ c̣n có hột nguyên tử cái trí. Khi cái trí chết rồi, th́ hột nguyên tử của nó rút vào nằm gần bên hai hột nguyên tử kia trong chơn thân.

*

     Chúng ta đă thấy rằng: lúc con người bỏ xác phàm, vía và trí rồi, th́ ba hột nguyên tử trường tồn rút vào chơn thân. Điều nầy rất cần ích: bởi v́ người tiến hóa phải làm chủ các cơi, và chỉ có ba hột nguyên tử nầy nối cơi của chơn nhơn với mấy cơi thấp. Nếu chơn thân mà tiến hóa không cần có ba hột nguyên tử nầy làm môi giới, th́ là một chuyện tuyệt diệu lắm rồi! Nhưng như thế, chơn thân chỉ có mạnh mẽ ở cơi trên chớ bất lực ở cơi dưới, v́ không thể cảm xúc và suy gẫm được. Bởi thế mà chúng ta cần phải có ba hột nguyên tử nầy, và c̣n phải điêu luyện chúng nó trở nên tinh khiết và mở mang mới đặng.

     Nến chủ ư rằng: hột lưu tánh nguyên tử tiến hóa trổi hơn những hột nguyên tử khác đồng thứ với nó. Tỷ như hột lưu tánh nguyên tử cái xác tiến hóa hơn những hột nguyên tử làm ra cái xác, v.v…

     Khi con người tiến đến bực Chơn Tiên rồi (nghĩa là đă hoàn toàn chủ trị ba cơi:  thượng giới, trung giới, và hạ giới) th́ không cần phải đầu thai nữa; chừng ấy những hột lưu tánh nguyên tử sẽ không c̣n bổ dụng nữa. Chơn Tiên sẽ bỏ chúng nó lại. Nhưng khi Đức Phật (như Đức Thích Ca) [[10]muốn hoạt động nơi mấy cơi dưới, th́ ngài góp nhặt những hột nguyên tử trường tồn của các vị Chơn Tiên vứt ra, dùng làm cơ thể tạm cho Ngài. Nếu những hột nguyên tử trường tồn không đủ cho Ngài dùng, th́ Ngài rút những hột nguyên tử khác xung quanh, thanh hơn hết mà thêm vào. Nếu có một vị nào mới đắc quả Chơn Tiên mà bỏ hột nguyên tử trường tồn ra, th́ Ngài lấy thay vào những hột nguyên tử nầy. Cái thể của Đức Phật làm bằng những hột nguyên tử trường tồn của các vị Chơn Tiên bỏ ra, là cái thể độc nhứt của quả địa cầu, nghĩa là nếu có một vị Thiêng Liêng nào muốn làm kim thể như Đức Phật cũng không làm đặng: v́ thiếu những hột nguyên tử trường tồn. Cái kim thể nầy giữ ǵn kỹ lưỡng và đă có lần Đức Phật cho Đức Chúa và Đức Di Lạc mượn.

 

 

     TOÁT YẾU .  Trong đồ h́nh số 69 (nơi A) ta thấy h́nh tṛn tượng trưng con người c̣n sống, có đủ xác, phách, vía và trí với ba hột nguyên tủ trường tồn. Khi con người chết, sanh lực bọc hột nguyên tử trường tồn cái xác rút vào tim, theo đường Sushumna nâdi (là đường nối trái tim với óc thất thứ ba) mà lên đỉnh đầu, rồi xuất ra khỏi xác. Lằn kim quang tuyến (Sutrâma) bọc theo hột nguyên tử trường tồn cái xác mà lên cơi vía. Khi cái vía ră rồi, đường Kim quang tuyến mới bọc hột nguyên tử trường tồn cái vía mà lên cơi trí. Khi cái trí tan ră rồi, th́ đường kim quang tuyến bọc hột nguyên tử cái trí, cùng hai hột nguyên tử xác, vía, kia mà rút vào cái thể thanh đẹp hơn là Chơn Thân (corps causal). Trong Chơn Thân, hột nguyên tử cái xác nằm trong hết kế bên hột nguyên tử cái vía rồi mới đến hột nguyên tử cái trí. Khi con người đầu thai (nơi B) Hột nguyên tử trường tồn cái trí mới khởi hoạt động để tạo ra cái trí, có đặc tánh của hột nguyên tử ấy. Rồi kế hột nguyên tử cái vía và cái phách khởi hoạt động để làm ra cái vía và cái phách cho xác thân sau nầy.

 

CHƯƠNG THỨ NĂM MƯƠI SÁU

Sự  cần  ích  của  Luân Hồi

     Ta đă nói: trường tiến hóa của con người thật vô tận, kiếp sống của con người thật vô biên; th́ dù ta có bận việc cho lắm hay phải khó khăn thế nào, ta cũng phải rán t́m hiểu tại làm sao thế? Thực ra, nếu ta xem con ngưởi trong kiếp hiện tại, từ buổi sơ sanh tới lúc thở hơi cuối cùng, th́ ta không thể nào công nhận rằng: con người với mấy mươi sanh sống ngắn ngủi, có thể thực hiện được nền tiến hóa vĩ đại nầy? Hẳn nhiên, ta phải nghĩ rằng: nếu con người mà đạt đến sự chí thiện, chí mỹ th́ phải tuân theo một cái Luật đă định sẵn trong ṿng hợp lư. Vả lại dưới trần nầy, không hề xẩy ra một sự ǵ mà không hợp lư, v́ lẽ vơ trụ là Biểu Hiệu của Trời, mà Trời là Đấng Minh Triết hoàn toàn.

     Vậy ta giải nghĩa luân hồi là thế nào?

     Ta không nói đến sự luân hồi buổi sơ khai của loài kim thạch, thảo mộc, và thú cầm; sự biến chuyển và sự tiến triển của chúng nó rất phức tạp, nhưng nếu ta khảo cứu đến, th́ ta sẽ có được nhiều hứng thú và nhiều tia sáng, giúp ta am hiểu điều mà ta đang học đây.  Ta chỉ nói vắn tắt rằng: các loài ấy là hột giống để thành người (xin xem lại đoạn Hồn khóm). Sự Luân Hồi mà ta nói đây là thuộc về nhơn loại.

     Thông Thiên Học dạy ta rằng: một khi linh hồn đă chuyển kiếp làm người, th́ không c̣n trở lại làm thú cầm hoặc cây cỏ, kim thạch nữa. Nhưng trước khi đi sâu vào vấn đề ta nên tự hỏi linh hồn là ǵ? [[11].  

     Linh hồn là điểm linh quang của Đức Thượng Đế, ông C. Jinarajadasa có giải về linh hồn như vầy: Linh hồn là một Trí Thức trường tồn, lấy chơn thân làm thể xác[[12]]. Linh hồn không phân nam nữ, xung quanh có một chất khí h́nh bầu dục bao bọc sáng ḷa, thanh dịu như ánh mặt trời chiều. Cái thể h́nh bầu dục nầy là cái nhà vĩnh viễn dùng để che chở linh hồn, mà ta gọi là Chơn nhơn. Đối với linh hồn, th́ không có sanh, lăo, bịnh, tử. Nó trường sanh bất tử, luôn luôn tinh tấn với thời gian. Mỗi phút qua, là mỗi phút nó nẩy nở đến gần Đấng Chí Tôn đă sanh ra nó. Mục đích của nó là hành theo cơ Trời. 

     Linh hồn là một điểm Tinh thần ngụ trong thể xác. Con người vốn là một điểm linh quang của Đức Thượng Đế, nhập vào hạ thể; và hạ thể ví như y phục mặc bên ngoài, có thể vứt ra. Quư bạn mặc y phục vào; có bao giờ quư bạn cho chúng nó là quư bạn chăng?  Th́ đối với hạ thể cũng vậy; chúng nó chẳng phải là con người thật, là Chơn nhơn.  Nhưng muốn mở quyền năng ở mấy cơi thấp, Chơn nhơn phải nhập vào hạ thể do chất khí của các cơi thấp làm ra. Tỷ như xác thân là do chất hồng trần tạo ra. Chơn nhơn nhập vào hạ thể để kinh nghiệm học hỏi, được lần lần đến chỗ chí thiện, chí mỹ. Hạ thể là vô thường: v́ nó luôn luôn thay đổi. C̣n Chơn nhơn vốn trường tồn. Những cơi cao là quê hương thực sự của các bạn. Bên Gia Tô giáo có nói như vầy: “Quê hương của con vốn ở trên Trời”. Chi nên, người hiểu Đạo rồi, th́ dẫu ở nước nào cũng vậy, không ḷng khinh hay trọng: v́ cơi thế gian không phải thật quê nhà. Ví như chim kia tung cánh dưới trời, nhẹ nhàng lướt gió, đầy vẻ hân hoan, thỉnh thoảng lại xạ xuống biển trần, phớt trên làn nước biếc để gắp mồi ngon, rồi lại cất cánh bay lên giữa đám mây hồng, linh động, bên trời xa thẳm! Linh hồn bất tử của con người, từ cơi thượng thiên hạ sang trần tục, để thu thập cái ǵ ích lợi cho sự tiến triển của ḿnh, và khi xong rồi, hai tay ôm đầy quả đẹp, mới cất cánh bay về chốn cũ, hầu đồng hóa những điều của ḿnh đă góp nhặp. Xong rồi, linh hồn lại xuống trần, đầu thai một lần nữa, và khi gặt hái xong, lại trở về. Cái ư nghĩa nầy là nền tảng của sự Luân Hồi. Con người đầu thai xuống trần, chiếm lấy một xác thân.  Ban sơ con người không bộc lộ đặng thiên tánh của ḿnh.

     Mục đích của con người dưới thế gian là tập làm chủ cơi vật chất; và cứ tập như vậy trong nhiều kiếp mới thu thập được những bài học hay và những điều kinh nghiệm giỏi.  Trước nhứt linh hồn lấy xác thân của người dă man. Với cái xác thân không thanh đẹp ấy, linh hồn chỉ kinh nghiệm những điều thô kệch, và có khi cũng bạo tàn nữa. Đó là những bài học đầu tiên trên đường tiến hóa của nhơn loại. Người dă man nầy, một ngày kia cũng sẽ bỏ xác thân, chừng ấy linh hồn mới thấy sự lầm lẫn của ḿnh, sự tàn ác của ḿnh ở dưới thế gian mà bây giờ ḿnh phải chịu đau khổ; tuy nhiên nó cũng được nếm một vài hạnh phúc lúc nó tưởng đến sự công b́nh của Trời Đất. Một khi linh hồn đă đồng hóa đặng tất cả sự kinh nghiệm của kiếp vừa qua, và đổi chúng nó ra năng lực trí hóa và đạo đức, th́ chừng ấy, linh hồn mới đầu thai xuống thế lần nữa, lấy cái xác thân tốt đẹp và thanh bai hơn trước, cho phù hạp với tiến triển tinh thần của nó. Nhờ cái xác thân mới và tốt nầy, nó có thể trong một kiếp dưới trần, gặt hái đặng nhiều quả đẹp. Rồi một lần nữa, sau khi bỏ xác, nó sẽ đổi những quả nầy ra năng lực tinh thần, và thời gian ở trên trời [[13]   dài hơn lần trước, (v́ thời gian ở trên trời lâu mau tùy theo sự tiến hóa của linh hồn nhiều hay ít). Vậy con người thác đi rồi sống lại như vậy, không biết bao nhiêu kiếp, cho tới chừng nào đi hết đường tiến hóa mới thôi: nghĩa là linh hồn khởi từ bực dă man để tiến lần tới bực toàn năng toàn thiện. Ấy vậy linh hồn có một đời sống dài vô tận, mà mọi kiếp là mỗi phút của đời sống ấy. Hỏi con người có thể thay đổi tánh t́nh trong một vài ngày chăng? Thật không, muốn được toàn thiện phải trải qua nhiều kiếp luân hồi. Mỗi kiếp là mỗi giai đoạn hành hương thiên diễn. Hễ mang nợ, th́ phải trả: ai gieo quả nào, th́ gặt quả nấy; bởi Trời có một Luật bất di, bất dịch cai trị càn khôn vũ trụ là: Luật Công B́nh. Trên đường tiến hóa diệu viễn, tâm thức và tánh t́nh sẽ lần hồi được thanh cao và con người sẽ trở nên Trọn Lành. Đến giai đoạn nầy, con người đă thoát kiếp luân hồi; bởi có ích ǵ trở lại trần nữa, một khi không c̣n điều chi để học? Khi ta học hết tiểu học, th́ ta lên ban trung học. Con người đầu thai xuống, th́ cũng giống như đứa học tṛ đến trường. Học tṛ học hết ban cao đẳng rồi, th́ ra trường Đại Học; c̣n con người hễ thoát kiếp đầu thai rồi, th́ thành một vị Aseka, tức là Chơn Tiên vậy. Đấng Chơn Tiên hết làm một học sinh ở trường đời nữa. Ngài lên cơi Thượng Thiên để tiếp tục tiến lên măi, hầu có thể hiệp nhứt cùng Đức Thượng Đế. 

 

CHƯƠNG THỨ NĂM MƯƠI BẢY

Luân Hồi là cần kíp

     Ta đă giải nghĩa thế nào là sự Luân Hồi. Bây giờ ta hăy chỉ tại làm sao Luân Hồi là cần kíp? .

     Luân Hồi cần kíp do ba nguyên nhân nầy:

     1.   Luân Hồi là hợp lư. Cái thuyết Luân hồi làm thỏa lư trí. Nếu không nh́n nhận nó, th́ cuộc Đời là một bài toán không thể giải đặng. Hỏi sự đau đớn nào bằng, sự lo sợ nào bằng, khi ta thấy xung quanh ta những điều mà trí khôn ta không thể hiểu nổi!. Trái lại, nếu ta hiểu đặng, th́ ta sẽ có can đảm và b́nh tĩnh mà kéo dài đời sống dưới trần.  Không phải những tai nạn dập dồn, những điều đau đớn về xác thịt và tinh thần là điều thảm khổ thực sự của người đời đâu. Mà chính là khi cái trí khôn của con người phải lâm vào cảnh đen tối của đêm khuya, ở giữa muôn vàn hiện tượng không giải nổi, và cứ măi ngờ ngờ, vực vực! Đó mới thật là sự đau khổ vô cùng! Cả đời cứ măi lo sợ, không biết: Đâu là chơn lư? Đâu là ánh sáng? Trong khi quanh ḿnh chỉ thấy sự hỗn loạn và nỗi bất công! Mà hy vọng có thể nẩy nở ở chỗ hỗn loạn và ngờ vực bao giờ? Chỉ có cái lư thuyết luân hồi mới đem lại ánh sáng cho đời sống mà thôi.  

     2.   Khoa học hiện đại đành bất lực trước nhiều câu hỏi của cuộc đời. Trước đây mấy mươi năm, khoa học xem dường giải nổi những bài toán đố khó khăn ở đời. Nhà thông thái Darwin nghĩ ḿnh sẽ được hài ḷng trong tất cả phương diện. Nhưng ngày nay, không nhà khoa học nào giải nổi câu hỏi mắc mỏ về sự tiến triển của loài người, nếu bài trừ thuyết luân hồi ra.

     3.    Về mặt đạo đức, thuyết luân hồi sẽ không giúp ích cho một số người quanh năm chỉ sống về lư trí một cách ích kỷ, không có chút t́nh cảm, biết thương yêu kẻ khác.  Những người nầy chẳng khỏi thắc mắc về nhơn sinh, và cho rằng: thiên địa bất công, thế gian tàn ác! Nếu họ hiểu rơ luật luân hồi, th́ họ sẽ thấy cơ trời là Điều Ḥa, Nhơn Ái, và Minh Triết vậy. Tóm lại, về phương diện lư trí, khoa học và đạo đức, thuyết luân hồi rất cần kíp. Vậy chúng ta hăy lần lượt giải bày một cách rơ rành hơn.

 

I.      VỀ MẶT LƯ–TRÍ  

    Ta hăy để ư đến một người c̣n dă man đời thượng cổ như mọi Aborigènes ở Australie, mọi Veddhas ở Ceylan, hay mọi ở Bornéo ḿnh mẩy đầy lông lá. Những mọi ấy là những sinh linh kém hơn nhơn loại ngày nay tuyệt mù! Chúng nó chỉ tỏ tâm sự bằng dấu hiệu hay bằng tiếng động, chứ không biết dùng ngôn ngữ. Chúng nó chỉ hơn loài khỉ một chút ít thôi.   

     Bây giờ ta rán xem người mọi ấy về hai phương diện: vật chất và tinh thần. Y không có trí khôn ngoan, không có ḷng đạo đức, hai đức tánh ấy chỉ c̣n trong thời kỳ phôi thai mà thôi! Nếu quư bạn đă đọc qua những quyển du kư nơi xứ mọi, ắt quư bạn sẽ thấy người mọi chỉ đếm 1, 2, 3, thôi. Con mèo cũng có thể làm y như vậy được, khi nó đếm con nó.

     Bà A. Besant có thuật câu chuyện về mọi Aborigènes ở Australie như vầy: “Chánh phủ Australie thấy mọi Aborigènes phải chịu lạnh lẽo mới đem mền phát cho họ; nhưng khi nắng lên, họ lại lật đật đem mền đổi lấy vật khác, mặc dầu vật ấy không đáng giá. Họ không ngờ rằng: đêm khuya trời sẽ lạnh. Đó chỉ cho ta thấy rơ trí năo của họ thật là thấp kém! Đối với với t́nh cảm của họ cũng vậy. Nếu bạn họ mập béo, họ nhắm ăn ngon miệng th́ họ không ngại ǵ mà bắt làm thịt để ăn. Ông Darwin có kể một người mọi đói bụng cứ bắt vợ mổ ruột ăn tươi. Một ông cha bên Thiên Chúa Giáo rán cắt nghĩa cho y hiểu rằng: làm như vậy là quấy lắm; nhưng y vừa lấy tay vỗ bao tử, vỡ bụng bạch bạch vừa trả lời như vầy: “Tôi quả quyết với ông rằng: thịt nó ngon lắm!” Ông cha hỡi ơi! mới rán cắt nghĩa cho y hiểu rằng: đồ ăn ngon với tánh hiền là hai thứ khác nhau xa. Nhưng nói với người mọi về sự lành, sự dữ cũng như nước đổ lá môn! Họ ăn cha mẹ họ, khi mấy người nầy trở nên già yếu và vô dụng. Họ ăn con họ, lúc nó c̣n nhỏ chưa giúp họ được việc ǵ. Họ giết, cướp, bóc, và say sưa vất vả. Nhưng tất cả tôn giáo đều nói rằng: “Họ là công tŕnh tạo tác của Đức Thượng Đế toàn năng toàn thiện”. Vậy người c̣n dă man như thế, khi chết rồi sẽ về đâu? Có phải cảnh trời chắc chắn là không dành cho họ sao?” Vậy người ta có thể d́m họ xuống địa ngục chăng? Không thể đặng v́ điều họ làm không phải là tự ư họ muốn. Nguyên nhân là sự vô minh. Đời sống của họ dưới thế gian dường như đời sống của loài thú. Hỏi có phải đời đă tạo họ ra như vậy chăng? Thật không, bởi v́ bên cạnh người dă man, c̣n nhiều nhơn vật phi thường, cao siêu, hơn phần đông nhơn loại tuyệt mù! Có phải số phận người mọi phải thừa hưởng cái gia tài vô minh của Đấng Cha Chung, bên cạnh anh em ḿnh đang nảy nở, xinh tươi như hoa buổi sáng, mà nhơn loại kính thờ như bậc thánh hiền chăng? Mấy câu hỏi nầy khiến cho ta để ư đến lư thuyết Luân Hồi.

     Vậy ta nên lấy ánh sáng Thông Thiên Học mà t́m hiểu chơn lư trong sự Luân Hồi.

     Bây giờ ta hăy trở lại vấn đề người mọi giết vợ mà ăn, có lẽ y c̣n giết nhiều người khác nữa; y cứ giết, cứ cướp, trong lúc y c̣n khỏe mạnh. Nhưng trước sự hung tợn và tàn sát ấy, ta có thể khép tội y vào án sát nhơn chăng? Y chỉ là người không hiểu đạo lư mà thôi! Ví dụ y bị người mạnh hơn giết chết, nhưng thật ra y có chết đâu? Chỉ có cái xác chết mà thôi. Y sẽ qua thế giới khác, và sẽ phát giác rằng: “những người bị y giết, vẫn c̣n sống, và chắc chắn là họ không tử tế ǵ với y: mà lại c̣n thù nghịch và cọc cằn đối với y nữa”.

     Bài học tuy dễ và ngắn, cũng có thể làm cho họ suy nghĩ và biết rằng: “nếu ḿnh giết một người bữa nay, ngày mai ḿnh sẽ gặp lại; th́ chắc chắn vợ ḿnh không để ḿnh yên thân đâu”. Người mọi trên Trung giới khởi sự học bài học hiền lương. Nhưng không phải học một lần mà thuộc hết, họ phải trở lại trần nhiều lần như vậy, cho tới bao giờ bài học đầu tiên đă ghi vào tâm khảm, và làm cho họ hiểu rằng:  “Giết là quấy, cướp là quấy.”  Nhưng chẳng phải họ chỉ kinh nghiệm điều ấy sau khi từ trần mà thôi. Có thể họ có chút t́nh thương vợ, trước khi có ư nghĩ hạ sát để ăn thịt. Nhưng khi thèm thịt, th́ lại quên t́nh thương ấy đi! Song dẫu t́nh thương có mảnh mai cách mấy cũng không bao giờ mất: bởi trong vơ trụ không có vật chi là mất cả. Cái t́nh thương đối với vợ, dù hết sức mảnh mai cũng là cái mầm lương thiện, nó sẽ nẩy nở trong ḷng và đem lại một vài hạnh phúc.  Về sau, khi chết rồi, họ đem lên cơi trung giới một vài kinh nghiệm tốt; sự kinh nghiệm nầy sẽ hóa thành một đức hạnh. Và khi tái sanh lại cơi tràn, họ sẽ đem theo cái đức hạnh ấy. Mỗi kiếp luân hồi, trước sự chém giết, người mọi sẽ biết ghê tởm hơn trước, và khi người ta nói với y rằng: “Giết là quấy”, th́ y lại công nhận ngay. Khi trải qua nhiều kiếp luân hồi, người mọi sẽ văn minh lần lần và có thể sống với đoàn thể, biết tuân kỷ luật chung của nhóm, mà y cho là đúng: v́ nó hạn chế và kính nễ quyền cá nhơn. Y cứ măi kinh nghiệm kiếp nầy sang kiếp khác, măi xây gạch, đấp nền, mà trên đây, y cất đền lầu kiếp sống của y, cho đến khi trở thành một nhơn vật phi thường, kỳ diệu dưới thế gian. 

     Ta thử xem đứa con ta với người mọi, ta sẽ thấy hai người khác nhau bực nào [[14].

      Bà A.BESANT có thuật điều bà đă mục kích về sự nầy: Một làng mọi kia bị tiêu diệt, tất cả dân sự ở trong làng đều tàn sát lẩn nhau nên chết hết, chỉ c̣n sót lại một em bé mọi. Đứa trẻ nầy được một bà phước nhặt đem về Anh Quốc, nuôi dưỡng, dạy dỗ đàng hoàng. Nhưng trước sự giáo hóa tận t́nh, giữa cảnh văn minh, đứa trẻ mọi vẫn ngơ ngáo và không hiểu nổi một tí ǵ về luân lư, mặc dầu là sơ giản nhứt! Tấm ḷng của nó không rung động chút nào trước sự giáo hóa của bà phước. Thật ra, cũng có một số mọi tấn hóa hơn, linh hồn già dặn hơn, có thể thông cảm đặng, nhưng đó là phần ít.

     Ta hăy xem đứa con ta. Nếu ta nói với nó rằng: dành giựt đồ chơi của em nó   yếu đuối hơn nó   là quấy, th́ nó hiểu ngay. Tại sao vậy? Có ǵ lạ đâu: v́ đứa con ta tri thức đặng việc nó làm. Những sự tri thức nầy, chẳng phải của Trời cho: nó vốn là kết quả của sự kinh nghiệm. Con của ta sanh ra với những sản nghiệp đă thu hoạch từ bao nhiêu kiếp, nên ngày nay thâm hiểu một cách tự nhiên những điều phải và điều quấy. Nếu nó không để ư liền, th́ chỉ vài lời nhắc nhở cũng đủ làm cho nó hồi nhớ lại. Ta nên nhơn dịp nầy mà dạy dỗ nó. Trước mắt ta chẳng phải là một linh hồn c̣n thuần khiết vừa mới được hóa sanh, mà một linh hồn đă chịu biết bao lần sanh tử, đă giàu kinh nghiệm cuộc đời. Trẻ con của dân tộc văn minh, mới sanh ra, đều có một đặc tánh riêng của nó; ai học về giáo dục nhi đồng đều biết sự nầy.

     Mỗi kiếp sống dưới trần đều đem lại nhiều kinh nghiệm hơn, khiến cho con người càng thêm hiểu biết.

     Khi từ trần, ta lên cơi trung giới với những món quà đă thu đặng trong kiếp sống đă qua. Nơi đây, ta sẻ thấy những lỗi lầm đă phạm, ta sẽ phải khổ v́ chúng nó. Bao giờ ta đă xác định những tội ác của ta rồi, th́ ta sẽ bỏ cơi Trung giới mà sang qua Thượng giới.  Những sự lành, sự phải của ta đă làm, sẽ trở thành những phần thưởng quí giá cho ta tại cơi nầy. Chúng nó kết thành cái măo vinh quang, sáng lạng để trên đầu ta. Những hy vọng cao thượng, những t́nh cảm thanh bai, trong sạch, đă có tại cơi trần, sẽ phát lộ rơ ràng tại cơi Thượng giới và sẽ được tăng cường.

     Một h́nh tượng được chạm trỗ khéo léo, một là do tài người nghệ sĩ, hai là do tánh chất của đá cẩm thạch. Những đức tánh về trí thức, t́nh cảm và cảm giác cũng thế, chúng nó được tốt đẹp là do Chơn Nhơn hoạt động tại cơi trần. Đồ chạm trỗ bằng cẩm thạch là kết quả công tŕnh của ta ở thế, c̣n người thợ chạm là linh hồn. Nếu không có cơi trần đem vật liệu cho ta, làm sao ta chạm trỗ đặng? Nếu linh hồn tiến hóa là nó biết chọn vật liệu tốt đẹp: hay nói cách khác là: “cái quả đi theo cái nhân”.

     Ấy vậy, để cho ta thấy rằng: nhờ luật luân hồi mà con người có cơ hội tạo ra số mạng ḿnh. Và nhờ luật ấy mà những điều kinh nghiệm mấy kiếp trước được góp nhặt lại, và đổi thành đặt tánh; chi nên, mỗi lần xuống thế và lúc trở về, con người tấn hóa hơn trước.  Sở dĩ ngày nay ta có đặng đức tánh nào là do lúc ta chưa đầu thai, c̣n ở trên Thượng giới, ta đă rèn đúc nó với những kinh nghiệm mà ta đă thâu thập ở cơi trần. Mỗi tật xấu của ta là triệu chứng sự thiếu đức tánh đối chiếu. Dẫu đối với người chậm chạp nhứt dưới thời gian, luân hồi cũng làm cho họ tiến bước và đem lại cho họ một ngày sẽ tới, cái tương lai vinh diệu phi thường! Thế th́, tất cả chúng sanh không sớm th́ muộn, cũng đi trên đường sáng lạng và sẽ đạt đến mức cuối cùng là: sự Minh Triết

     Tất cả chúng ta là chủ nhân của số mạng: ta muốn tiến mau hay chậm là do ở ta.  Nhưng luật trời bắt buộc ta phải tiến, ta có thể biếng nhát dừng chơn một lát rồi cũng phải đi nữa. Mà nếu ta càng kéo dài con đường sanh tử, th́ ta phải chịu trăm cay, ngàn đắng, trong khi các bạn đồng hành với ta đă nhẹ bước thang mây, đắc quả Bồ Đề, mà sang qua miền Cực Lạc. Theo giáo lư Thông Thiên Học, th́ người c̣n dă man, một ngày kia, cũng sẽ thành một vị thánh nhơn, rồi một vị Thượng Đế.

     Nếu ta cho rằng: không có thuyết luân hồi, th́ một đứa trẻ kia vừa mới sanh ra lại chết, hỏi có ích lợi ǵ cho nó chăng? Rồi làm thế nào giải đặng sự bí ẩn nầy? Hỏi đời sống người lành hay dữ có ảnh hưởng ǵ đến sau lúc chết chăng? Nếu công nhận rằng: có, th́ đời sống ngắn ngủi của đứa hài nhi ấy có phải là một điều thiếu sót khốc hại cho sự tiến hóa của nó chăng? Mà sự thiếu sót nầy không thể lấp bằng đặng! Tại sao mới sanh nó ra vài giờ, hoặc vài ngày, để cho nó đủ nh́n thấy ánh sáng mặt trời, rồi bắt nó an giấc ngàn thu… không cho nó tái sanh, được có cơ hội để tiến hóa, có phải là một sự bất công chăng? Nếu ta không công nhận đứa bé ấy sẽ đầu thai xuống trần nữa, th́ tức nhiên ta xâm chiếm quyền tiến hóa của nó; ta không cho nó nếm cái giá trị quí báu của cuộc đời, để học hỏi và kinh nghiệm, hầu một ngày kia được xứng đáng ở cơi Trời. Như thế, ta truất của nó một phần gia tài thiêng liêng, đời đời, kiếp kiếp, trong khi nó chưa làm ǵ nên tội!.

     Có người lại trả lời như vầy: “Đứa hài nhi chết đi không hại ǵ cho tương lai của nó, c̣n như chúng ta đây đă trưởng thành, chúng ta có thể sống một cuộc đời may rủi, và gây nhiều nghiệp chướng đau thương. Cố nhiên chết non như thế là có phước chớ?” Câu trả lời ấy không làm hài ḷng đặng và c̣n gây ra lắm điều ngờ vực. Làm sao nh́n nhận được rằng: con người không có quyền thực hiện cái quan niệm của ḿnh, trong khi trời đă phú cho ḿnh một cái mănh lực của tư tưởng?  

     Mà thôi, chúng ta hăy để một bên cái ví dụ về người mọi và đứa hài nhi, chúng ta hăy quan sát đến sự khó khăn khác nữa. Nếu sống một kiếp là hết, th́ có ích ǵ thực hiện những đức hạnh mà ta phải chịu tốn bao nhiêu công phu, bao nhiêu đau khổ mới đạt đặng? Thường thường các bậc lăo thành có nhiều kinh nghiệm và khôn ngoan hơn đàn hậu tấn, và một khi ta thắc mắc điều ǵ có phải là ta đến cầu cứu với người chăng? Nhưng trong lúc mà sự minh triết của các ngài đă nẩy nở, đáng làm ngọn đuốc cho đời soi chung, các ngài lại từ giả cơi trần mà an giấc ngàn thu! Các ngài, một là lên thiên đàng, hai là, xuống địa ngục như tôn giáo đă nói; th́ sự học hỏi của các ngài có giúp ích cho ai đâu?

     Chính tại trần gian, nhơn loại mới cần có những bậc cao minh như thế. Theo thuyết không luân hồi, th́ đời sống của nhơn loại ở thế gian hóa ra vô vị, và tất cả sự kinh nghiệm tốn bao nhiêu mồ hôi, nước mắt, sẽ hóa ra bọt nước ở đầu gành; mây bay trong gió!

     Chúng ta càng suy nghiệm, để giải cho hợp lư những bài toán đố nầy, th́ chúng ta càng thấy cái thuyết luân hồi là cần kíp.

II.    VỀ MẶT KHOA HỌC

     Đối với khoa học, thuyết luân hồi cũng cần nữa. Vào đời Ông DARWIN, th́ có nhiều sách viết ra về sự tiến hóa của loài người. Theo thuyết Darwin, th́ sự tiến hóa nầy đều do sự di truyền. Nhơn đó người ta mới mở nhiều trường để dạy kẻ làm cha mẹ phải ăn ở thế nào đặng sanh con quí. Đối với nhà thông thái DARWIN, th́ ở đời phải tranh đấu để đi đến chỗ hay giỏi và chỉ có tranh đấu, nhơn loại mới mong tiến bộ đặng. Nhưng theo thuyết truyết tranh đấu nầy, th́ chung qui, chỉ có kẻ mạnh là thắng, là bậc đàn anh của nhơn loại ở tương lai sao? Lúc bà Annie Besant đang học về luật sanh sản của dân tộc, th́ bà có viết thơ cho nhà bác học DARWIN để phản đối cái thuyết của ông. Nhà bác học trả lời với bà như vầy: “Người ta đừng t́m thế làm cho dịu bớt sự tranh đấu ở đời, nếu ta không muốn cho dân tộc tương lai được tốt đẹp”. Bà A. Besant kết luận và cho đó chẳng phải là ư kiến của nhà khoa học tân tiến, v́ những vị nầy không hề quả quyết rằng: cha mẹ di truyền cho con tánh hạnh và trí hóa của ḿnh; mà trái lại, hễ trí hóa của cha mẹ càng cao thượng chừng nào, th́ càng khó di truyền chừng nấy. Tỷ như thiên tư về âm nhạc: cha mẹ là nhạc sĩ có thể sanh con ra có xác thân hạp về âm nhạc: thinh giác dễ thọ những nhạc điệu thanh nhẹ, ngón tay và thần kinh miêu tả đặng những tiếng cầm, tiếng sắt. Nhưng với xác thân thuận lợi cho âm nhạc, một linh hồn có thể không nhạc sĩ chút nào! Nếu may ra một chơn linh của nhạc sĩ đến đầu thai trong xác thân ấy, th́ thiên tài sẽ nẩy nở mau lẹ, và tài ba xuất chúng khiến cho danh tiếng bay khắp năm châu thế giới.  Những nhạc sĩ, nếu có con, th́ chúng nó thường không có tài ba ǵ và danh tiếng của ông cha khi xưa sẽ bay dần theo gió! Ấy ta thử xem những gia quyến của bậc tài hoa về âm nhạc như Beethoven, Mozart hay những nhạc sĩ khác ra thế nào? Khoa học hiện đại công bố rằng: “ Có sự di truyền về thể xác, chớ không có di truyền về trí hóa và đạo đức, bởi v́ thiên tài không thể lưu truyền cho con cháu đặng”. Như thế th́ cơi trần sẽ đi đến chỗ lụng bại sao hay? Nhưng may thay, cái thuyết luân hồi đến giải rơ các điều thắc mắc nầy!.

*

     C̣n một bài toán đố về khoa học cần phải giải quyết là: những đức tánh chung của xă hội tiến triển thế nào? Có phải là do sự tranh đấu về mặt sinh tồn chăng? Sự thật là: trong khi tranh đấu, những người không có tánh cách xă hội lại là những người thành công nhứt! Bà A. Besant nói rằng: “Trong thương trường tân tiến, thường thường chẳng phải là người ngay thẳng nhứt mà được thành công; những người quỉ quyệt, lanh lợi nhất lại chiếm được địa vị khả quan. Trên thế giới hiện giờ; những kẻ chiếm địa vị giàu sang nhất trong xả hội thường là những người có óc khôn quỉ nhất và có một lương tâm ít thương xót nhất”.

     Tại Oxfort, Ông Dr. Huxley có nhấn mạnh điều trên đây. Ông cho rằng: “Con người tấn hóa chẳng phải là chà đạp kẻ yếu, mà là người biết thương họ, và biết giúp họ cùng tiến như ḿnh. Những đức tánh cần yếu cho sự tiến hóa là: Đức hy sinh, ḷng nhơn ái và dạ từ bi, biết bênh vực và che chở kẻ khốn nàn, yếu đuối”.

     Nếu một người kia hy sinh để cứu kẻ khác mà phải bỏ mạng, th́ có phải nhơn loại mất một vị anh hùng chăng? Trừ phi người ấy trở lại trần lần nữa; những vị tuẩn tiết v́ Đạo; nếu một khi chết là biệt dạng đời đời, th́ làm sao nhơn loại có đặng người quư giá?  Nếu thuyết luân hồi là đúng, th́ người nầy sẽ trở lại trần với một tâm thức thanh cao hơn, mạnh mẽ hơn và ḷng yêu thương nhân loại lại tăng gia thập bội: v́ trên cơi thượng thiên những đức tánh cao quư, đă có tại cơi trần, sẽ đặng vun quén thêm: ḷng hy sinh và t́nh bác ái sẽ được mạnh mẽ hơn trước nhiều.

     Nhưng thuyết luân hồi là điều chánh đáng, th́ dưới trần nầy không có chi là mất cả; nó chỉ rơ rằng; tinh thần và xác thịt đồng chung tiến bước.

III.   VỀ MẶT ĐẠO ĐỨC

     Bà A. Besant nói rằng: “Đối với tôi, th́ trong vũ trụ không thể có sự bác ái và công b́nh, nếu không nhận thuyết luân hồi”. Chỉ có hai giả thuyết nầy: một là con người do Trời hữu ư sanh ra, hai là: con người do cha mẹ sanh ra với những tánh di truyền. Cả hai giả thuyết đều xô con người vào chỗ bí lối, không thể ra được, và bắt buộc con người phải chịu cảnh tê bại, cứ cúi đầu tuân theo mạng số của ḿnh và mất cả chí tiến thủ để sửa đổi thời thế và tánh t́nh.

     Khi đứa trẻ mới sanh, ta chớ ví hồn nó như tờ giấy trắng mà trên đó ta muốn viết chi th́ viết. Ai học về khoa giáo dục nhi đồng đều biết rằng mỗi đứa bé mới sanh ra với tài năng, đức hạnh hay với tật xấu hèn đặc biệt của nó. Người Hồi giáo nói với chúng ta rằng: “Con người sanh ra mang số mạng ḿnh trên cổ”. Điều nầy trúng một phần lớn, bởi v́ mỗi người dưới thế gian đều có đặc tính rơ ràng.

     Người ta có thể tùy sức ḿnh sửa đổi cái đặc tính nầy; nhưng cũng chẳng được là bao. Chi nên ông LUDWIG BUCHER nói rất trúng rằng: “Sự giáo dục khó thắng đặng tánh nết tự nhiên”. Nếu trời sanh một cách hửu ư, th́ làm sao giải đặng tánh từ bi, bác ái và sự công b́nh vô lượng của Ngài? Tại sao, một người sanh ra lại nằm trêng giường ngà, chiếu ngọc, sống trong nhung lụa nuông ch́u; c̣n kể khác lại nằm trong cḥi tranh, vách đất? Tại sao trẻ nầy khôn ngoan, với tương lai đầy hứa hẹn, c̣n đứa kia lại đần độn, ngu mê? Mà chúng lại khác nhau ngay từ lúc lọt ḷng! Tại sao thế? Trẻ con làm ǵ nên tội mà phải chịu điều bạc phước, đớn đau?

     Tôi xin trao lời cho bà A. Besant v́ bà đă để tâm đến hoàn cảnh của các em bé tại Londres. Bà nói: “Tôi biết rơ thành Londres (Luân Đốn) từ hang cùng đến ngơ hẻm: bởi v́ tôi là nhơn viên của hội School board ở tại East End là một vùng nghèo nhất. Nơi đây, tôi có trách nhiệm phải lo cho chín mươi sáu ngàn đứa con nít. Ngoài ra, tôi c̣n phải gần gũi với dân nghèo khổ. Người nào biết vùng East End, th́ phải biết cái cảnh nghèo khổ của nhơn loại là thể nào! Lại nữa có nhiều em bé, mắc phải bịnh độc di truyền của cha mẹ, sanh ra với thân h́nh kỳ quái, với trí ngu mê hay độc ác. Chúng nó có nhiều triệu chứng trở thành sát nhơn.

     Tại sao những đứa bé như vậy lại đến cho chúng ta? Các Ngài hăy đi theo tôi vào những nóc nhà lụp xụp, bẩn thỉu, những nhà tối om, gần bên đống rác thúi tha, mà cả năm không có ánh sáng mặt trời rọi vào! Các Ngài hăy đi theo tôi đến ngơ hẻm sinh lầy, hôi hám! Bây giờ, các Ngài hăy dừng bước trước cái sân ẩm thấp đầy rác rến, ruồi, lằn.  Các Ngài cứ tiến theo tôi; chúng ta hăy bước trên thang lắc lẻo, xuống cái hầm mà cả năm không có ánh sáng mặt trời rọi vào! Không khí thật là khó thở! Nhưng đó là nơi những kẻ khốn nàn sống năm nầy, tháng nọ! Trong góc hầm, trên đống giẻ vụn, một người đàn bà ốm nhom, nằm úm một đứa bé trai mới sanh. Ta hăy lại gần xem em bé: trán nó trợt lớt cho đến đỗi xem dường như không có, mặt mày hung tợn; từ mũi, miệng, g̣ má, lỗ tai và vóc vạc tay chơn đều chứng tỏ nó là đứa sát nhơn sau nầy. Với trí óc cạn hẹp, với dục t́nh mạnh mẽ, đời nó sẽ là đời khốn khổ và bị tội tù! Đó là đứa trẻ khốn nàn được Trời ban cho một cái linh hồn! Mẹ nó là ai? – Là phu đập đá! Cha nó là ai? Chắc chắn là người say rượu; là phu bến tàu! Từ lúc mở mắt chào đời, nó đă nghe những tiếng chưỡi thề thô tục; tới chừng biết nói   mặc dầu không hiểu   chớ nó cũng bập bẹ những lời ấy rồi! Lớn lên chắc chắn là nó bị đánh đập, và bị xúi đi móc túi. Tối lại, nó đụng đâu ngủ đó; dưới gầm cầu, nơi mái hiên: v́ ở nhà nó cũng khổ cực như vậy. Ngày nầy qua ngày nọ, nó sống nhờ ăn cắp vật. Một ngày kia, nó sa vào tay c̣ bót. Rồi lại được thả ra, rồi lại bị bắt nữa!  Cứ măi như thế. Một hôm, án nó càng chồng chất, nó bị đày, một thời gian khá lâu, chung với tù nhơn trọng tội. Nơi đây nó gần gũi với đám người bất lương, luôn luôn xúi giục nó làm ác. Chừng được thả ra nữa, th́ nó c̣n xấu hơn trước muôn phần. Đối với nó, th́ luât pháp là thù địch. Không một ai nhớ tới sự giáo dục của nó, không ai buồn nh́n vào người nó, v́ nó là tên tù mới ra khỏi khám! Mà nó cũng chẳng cần ai biết đến nó: nó cứ phá, cứ hại. Ngục tù đối với nó như quán trọ. Rồi một ngày kia, trong lúc giận dữ, nó lại giết người! Người ta bắt nó. Trước toà án, nó nghe lời buộc tội một cách thản nhiên, nó cúi đầu lẳng lặng, chưa biết ḿnh phải hay quấy? Người ta kết án tử h́nh nó. Rồi trong đêm lạnh lẻo, người ta đem nó ra hành h́nh! Xác nó chôn vùi chung với các tội nhơn khác, dưới ṿm trời âm u, đầy thảm đạm! Vậy ta thử hỏi, chếr rồi hồn nó về đâu? Lên thiên đàng ư? Chắc chắn là không! Xuống địa ngục đời đời ư? Có thể, nhưng không công b́nh: v́ tên sát nhơn khốn nàn nầy, trọn đời, không có dịp nào thuận tiện để làm phải! Nó chưa biết chi là tội, chi là phước!  

     Cái trường hợp của bà A. Besant vừa kể trên, chẳng phải là cái trường hợp đặc biệt cho một cá nhơn nào mà cho đa số nhơn loại của các nước văn minh trên địa cầu. Nếu nói trời tạo ra một sinh linh xấu xa như thế, th́ hỏi ai tin đặng?

     Bây giờ ta hăy xem cảnh tượng khác lạc quan hơn. Một đứa trai mới lọt ḷng mẹ đă được bao nhiêu người nưng đỡ, vuốt ve, âu yếm. Ta hăy lại gần xem nó. Mặt mày mở mang, ngũ nhạc phân minh, nó có nhiều triệu chứng sẽ trở nên một bậc thiên tài tột bực.  Nét mặt thanh kỳ chỉ nghĩa t́nh cảm nó cao thượng, quan niệm nó siêu quần; xung quanh nó có bao nhiêu người tiến hóa đỡ nâng, dạy dỗ. Không bao giờ nó nghe tiếng chưỡi thề, thô tục. Cha mẹ nó trông nom từ chút. Lớn lên, nó được giáo hóa đàng hoàng.  Từ trường mẫu giáo đến đại học đường, nó luôn luôn được ban thưởng, tặng khen; v́ nó có nhiều đức tánh, mà trẻ khác không có. Dường thể sự hạnh phúc và sự vinh quang cứ măi liên tiếp nhau, mà dệt ra cuộc đời nó. Dường thể Trời dành sẵn cho nó muôn ngàn hạnh phúc; c̣n đứa bé khốn nàn kia sanh trong hầm tối, để rồi bị án tử h́nh, bỏ thây trong đêm lạnh, không kẻ đoái, người hoài! Ôi! thử hỏi hai đứa ấy đă làm ǵ? Chúng nó chỉ mở mắt chào đời, có thế thôi! Đứng trước bài toán đố như thế, nếu không lấy thuyết luân hồi mà giải, th́ ta phải vô cùng thắc mắc. Tin rằng: đứa bé xấu số kia là do ư định của trời phải sanh ra người vầy, người khác, th́ là một sự phạm Công B́nh Thiêng liêng, mà tất cả nhơn loại đều đặt hy vọng vào. Ta không nói đến ḷng Bác ái của Đức Thương Đế. Ta chỉ kêu nài đến sự Công B́nh mà thôi. Tên sát nhơn trên kia, khi thác rồi, có thể đứng trước ṭa án thiêng liêng mà la lên rằng: “Tại sao Trời sanh tôi như thế?” Ôi! Ta hăy lấy câu chơn ngôn của người La Mă, mà trả lời hai câu hỏi nầy, th́ càng thêm vô lư.

“Người ḷ gốm không thể nắn đồ vật y như nhau được: phải có cái tṛn, cái méo”. Không thể giải nghĩa như vậy đặng! Trời không có thể tạo ra con người để hành khổ trọn đời! Người sẽ trách rằng: hai trường hợp vừa kể trên là quá lố: nhưng trên đời, ta thường thấy đó là sự có thật, chớ chẳng phải là điều bịa đặt. Bà A. Besant sở dĩ nêu ra hai gương nầy, quá tương phản nhau, để cho ta thấy rơ rành hai trạng thái của con người, và để cho ta tự hỏi: “Có phải Đức Thượng Đế, v́ sự dị chủng của muôn loài trên địa cầu, mà sanh ra kẻ vầy người khác chăng?”.

     Nhưng nếu hai trường hợp nầy, mà để dưới ánh sáng Luân Hồi, th́ không c̣n làm cho ta phải thắc mắc nữa: người sát nhơn kia là một linh hồn trẻ tuổi, mới khởi vào trường tiến hóa, c̣n bậc siêu nhơn ấy là một linh hồn giàu kinh nghiệm, sắp ra Đại Học Đường với cấp bằng tấn sĩ. Cả hai đều tạo ra số mạng ḿnh, và một ngày kia cả hai đều đạt chung một mục đích.

     Thế th́: người sát nhơn kia mà xă hội ruồng bỏ và ghê tởm vốn là anh em với ta, y cần phải đi một bước dài mới đến kịp ta. C̣n bậc siêu nhơn cũng là anh em với ta, nhưng đă bước xa trên đường tiến hóa hơn ta nhiều. 

     Cái thuyết luân hồi đem đến cho ta một sự hy vọng, làm cho ta tin chắc sự thành công cuối cùng của nhơn loại. Luân hồi đưa ta đi từ nấc thang nầy, đến nấc thang khác, từ lúc ta c̣n ở trong loài kim thạch, thảo mộc, thú cầm, đến lúc ta làm người. Bao giờ ta đến chót thang, th́ ta thành bậc Chơn Tiên, thoát kiếp luân hồi. Một khi ta hiểu thấu đặng thuyết luân hồi, th́ ta cộng tác với nó; nhơn đó, ta tiến hóa lẹ. Chẳng những ta tiến hóa về phần ta, mà ta c̣n làm người khác tiến nữa, như thế, ta cộng tác với Thiên Cơ. Ví dù ta nhận có thuyết luân hồi cùng không, ta cũng không thể tránh nó đặng.

 

CHUƠNG THỨ NĂM MƯƠI TÁM

Luân Hồi  (tiếp theo)

GIẢI THÍCH NHỮNG BÀI TOÁN ĐỐ KHÓ KHĂN Ở ĐỜI

(viết theo lời giải thích của bà A. Besant)

(La Réincarnation page 95.)

     Câu hỏi thứ nhứt.    Trong Vơ trụ phải có một số nhơn vật nhứt định, hay là khi tăng, khi giảm?

       Khi loài thú ở dăy Nguyệt tinh (dăy hành tinh thứ 3) đă đến thời kỳ đầu thai làm người, th́ nó sang qua dăy Dăy Địa Cầu (dăy hành tinh thứ 4). Tại đây nó nhập với một số người chậm bước tiến hóa c̣n đọng lại, (trong khi đồng loại của ḿnh đă sang qua dăy dăy hành tinh thứ năm là dăy Kim tinh). Thế là nhơn loại tại dăy Địa Cầu đă có số nhứt định.

     Câu hỏi thứ nh́.    Nếu số nhơn loại đă nhứt định như thế, th́ làm sao cắt nghĩa sự tăng gia chủng tộc cho đặng?

     Câu trả lời nầy rất dễ: “Đối với những chơn linh đang sắp luân hồi, số người đầu thai chỉ là một phần ít thôi. Cũng tỷ như số dân sự của một đô thị, như đô thị Ba lê, có thể gọi là nhứt định. Nhưng nếu ta đi đến chỗ diễn đàn, ta có thể thấy pḥng giảng lơ thơ ít người hay chật nức, th́ đó đâu có phải là triệu chứng rằng: dân sự Ba lê đa số hay thiểu số đâu. Đối với nhơn loại ở thế giới cũng thế. Có lúc nơi Châu nầy, tùy theo phương tiện tiến hóa, th́ dân sự đông; nhưng đó không phải bằng cớ rằng: dân sự thế giới tăng gia.  Tóm lại những sinh linh đă đầu thai khi đa, khi thiểu, không làm tăng, giảm đặng số sinh linh của dăy Địa Cầu. Những chơn linh tấn hóa cao, th́ lâu đầu thai hơn những chơn linh tấn hóa thấp. Nhưng nên để ư điều nầy: một khi dân sự trên thế giới tăng, th́ chơn linh trên cơi Dévakhan (là cơi Trời) giảm [[15]]

     Câu hỏi thứ ba .    Tại sao người dă man và bậc siêu nhân đồng là con Trời lại khác nhau xa thế?

     Mỗi người chúng ta là một điểm linh quang của Đức Thượng Đế phát triển kiếp nầy sang kiếp khác, cũng như hột giống gieo xuống đất, tháng nầy qua tháng kia, sẽ thành một cây to. Người dă man chỉ là một linh hồn c̣n bé, đầu thai xuống thế sau người văn minh rất nhiều. Tuy cả hai vốn là Tiểu thiên địa, nhưng khác nhau chỉ v́ thời gian: kẻ làm người trước với kẻ làm người sau. Tỷ như cây da kia mới mọc rễ với cây da nọ đă gần ngàn năm, cành lá xum xê, tốt đẹp.

     Sự tiến triển của linh hồn không hề bị hạn chế v́ vật chất, và mục đích chung qui của loài người là đồng đến Đảnh Núi Thiêng liêng cao cả tuyệt vời. Sự khác nhau giữa hai cá nhân là nguyên nhân do thời gian, chớ chẳng phải do sự bất công của trời đất.

     Một người, th́ mới khởi đi hành hương [[16], c̣n một người th́ đi đă gần mút đường.  Ta đă nh́n nhận sự phát triển của thể xác mà tại sao ta lại không nh́n nhận sự phát triển của linh hồn? 

     Câu hỏi thứ tư.    Cha mẹ c̣n thấp kém có sanh con thấp kém chăng? C̣n cha mẹ tiến hóa có sanh con tiến hóa chăng?

       Thường hễ cha mẹ c̣n thấp kém, th́ có nhơn quả với chơn linh c̣n thấp kém, c̣n hễ cha mẹ tiến hóa, th́ có nhơn quả với chơn linh tiến hóa. Rồi cái nhơn quả ấy gom họ vào một gia quyến để cùng trả quả với nhau. Nhưng đó chẳng phải là điều nhứt định. Có nhiều “Cha mẹ cú mà đẻ con tiên và cha mẹ hiền sanh con dữ” như lời xưa hằng nói. Bà A. Besant có thuật chuyện tên mọi ở Mỹ Quốc tên là Booker Washington, mà thế giới đều biết tiếng. Tâm trí của y tiến triển hơn đa số thường nhơn cho đến đỗi người ta có cảm tưởng rằng: “Cái xác thân mọi của y không xứng đáng cho y chút nào! ” Y rất thông minh, với tinh thần rất cao thượng đối với đồng bào; y dám hy sinh tất cả để đưa họ lên đường tiến bộ, xứng đáng cho loài người. Y lên diễn đàn, dùng cam ngôn, mỹ từ để cảm hóa đồng bào, cho họ mau tiền bước. Y là một gương mẫu tiến hóa của dân mọi, mà tất cả người mọi, một ngày kia, phải đạt cho được. Thật ra, tên mọi Booker Washington thuộc về một chơn nhơn tiến hóa; mà v́ ḷng từ bi, bác ái, chịu hy sinh nhập vào tấm thân thô kịch kia, để chung lộn với hạng người dă man, hầu t́m phương giúp đỡ và đưa họ lần lần đến một địa vị xứng đáng của nhơn loại.

     Xem qua lịch sử người đời, ta thấy thỉnh thoảng một vài chơn linh tiến hóa hy sinh nhập vào một xác thân thô kịch để giúp cho đồng bào ḿnh tiến thêm một bước nữa, và để cho người ta thấy rằng: cái xác thân và đẳng cấp xă hội không thay đổi đặng linh hồn.  Bên Ấn độ miền Nam có nhiều bực đại thánh sanh trong những gia đ́nh ba ria (paria) là những gia đ́nh hạ đẳng trong xă hội. Nhưng các Ngài được mọi người tôn sùng và quư mến như bậc vương giả. Cái trường hộp nầy chẳng phải hiếm có. Người ta thường thấy trong chốn nhà quê rẩy bái, hay những nơi bỉ ổi của xă hội, nhiều người đàn ông, đàn bà, con nít nẩy nở một cách thanh cao và trong sạch; giống như hoa sen, thơm ngát trên vũng bùn! Trái lại có nhà quí phái có giáo dục đàng hoàng, mà sanh đứa con bất trị, đủ tánh xấu xa mà người ta gọi là “con chiên ghẻ của gia đ́nh”; cha mẹ và giáo sư đành thúc thủ.  Ánh sáng Thông Thiên Học cất nghĩa điều trên đây như vầy:  “con chiên ghẻ ấy” có thể trong kiếp trước đă làm một vài điều thiện, khiến nó có liên quan mật thiếc với một linh hồn cao thượng, nay nó sinh cùng một gia quyến, để cho người nầy có dịp đền ơn nó, bằng cách tạo ra cho nó một hoàn cảnh hết sức thuận tiện để nó tiến hóa mau lẹ”.

     Câu hỏi thứ năm.    Tại sao đứa trẻ mới mở mắt chào đời lại chết đi? Vậy sự sanh nó trong thời gian ngắn ngủi ấy có lợi ích ǵ?

     Bà A. Besant nói rằng: đứa nhỏ nầy (mà bà mở huệ nhăn xem) có nhơn quả phải trả bằng cách chết yểu, bởi kiếp trước nó có làm chết một người; nhưng không phải là ác ư.  Kiếp trước nó là một người đàn ông quẹt diêm hút thuốc, lại vô t́nh quăng dựa đống rơm, trước khi giục tắt. Người đàn ông đi xa một đổi, th́ rơm bắt cháy, rồi lan ra nhà kế cận, làm chết một người. Trong trường hợp nầy; người ta không thể nói đó là một sự sát nhơn, và người gây hỏa hoạn kia, cũng không phải là kẻ giết người: y chỉ vô t́nh làm sái luật Trời mà thôi. Bởi tội y không trọng mấy, nên phải chết yểu để trả quả. Khi trả quả xong, y lại trở xuống trần liền trong vài tháng kế đó, và lắm lúc cũng trở lại với gia đ́nh trước ấy, nếu y có nhơn quả với kẻ làm cha mẹ.

     Nhưng thường, chính quả báo của cha mẹ mới khiến cho đứa con có số chết yểu sanh vào nhà ḿnh, đặng ḿnh chịu đau khổ mà trả quả. Đứa con chết, cha mẹ khổ nhiều nhứt: v́ đứa con là hy vọng thiết tha, trông chờ  từ bấy lâu! C̣n đứa trẻ nầy không có thiệt hại ǵ, bởi v́ nó sẽ đầu thai lại trong vài tháng sau đó, nó chỉ mất một ít thời giờ mà thôi.  Thường thường quả báo của cha mẹ và đứa con giống nhau, nên mới cùng chung chịu.

     Nếu vợ chồng người kia hành hạ, đánh đập con ḿnh; sự thiếu t́nh thương ấy, sự độc ác ấy khiến cho họ kiếp nầy phải đền tội. Cái nghiệp báo đó ẩn dưới lớp h́nh đứa con yêu mến vô ngằn, nhưng nó phải chết yểu! Sự chết yểu của con sẽ làm cho họ lần lần biết dịu dàng, thương mến mấy trẻ khác; mà chừa tánh nham hiểm ác độc kiếp xưa. Bà A. Besant có thuật một câu chuyện nầy:  “Tôi biết một chị đàn bà nọ sanh bao nhiêu lần đều không nuôi đặng đứa con nào! Đó là cách chị đền tội! Chị có nói với tôi rằng: “Tôi đem t́nh mẫu tử thiêng liêng của tôi mà thương tất cả trẻ con tôi gặp trên đường đời. Con tôi mất rồi, th́ tôi coi các em bé đó như con của tôi vậy”. Khi mà chị ấy nói đặng mấy lời nầy, chị đă thọ đặng bài học, và quả xưa của chị đă trả rồi. Chị hiểu luật trời nên không rên siết, không thở than, không phiền muộn, chị lấy sự đau khổ của chị đổi ra cái ân lành cho các trẻ con bạc phước; chị làm cho chúng nó không c̣n thấy ḿnh trơ trọi nữa. Tôi nghĩ đó là cách Đấng Chí Tôn dạy chúng sanh mở ḷng bác ái và từ bi vậy”

     Câu hỏi thứ sáu.    Thuyết luân hồi có thể giải tại sao một Quốc gia thành bại hay suy vong chăng?

     Trước hết tôi xin nói Quốc gia là ǵ?

         Là những dân một nước. Quốc gia thành hay bại là do dân trong nước tấn hóa nhiều hay ít. Thường thường, linh hồn c̣n trẻ trung lại đầu thai nơi xứ c̣n dă man; và khi linh hồn thọ nhiều kinh nghiệm, th́ đầu thai nơi nước văn ḿnh. Mà một nước văn minh là nhờ đâu?  Ấy là nhờ nhiều linh hồn tiến hóa đến đầu thai. Những linh hồn nầy sẽ đem lại cho xứ sở các điều tốt đẹp, cao quư. Những ai có ḷng mến nước, nên để ư tŕnh độ chung của dân tộc, và làm thế nào cho dân tộc được mở tâm, mở trí, hầu trở nên sáng suốt, thông hiểu luật trời. Nếu xứ ta dân c̣n mê muội, th́ bổn phận của ta phải rán cầu nguyện cho những linh hồn tấn hóa xuống đầu thai để dắc d́u họ. Đồng thời ta rán tạo xung quanh ta một hoàn cảnh thuận tiện cho họ có dịp làm nẩy nở tinh thần của họ. Ta rán giúp xung quanh ta những linh hồn chưa tấn hóa bằng gương tốt, lời nói, sách báo và tư tưởng của ta. Ta chỉ cho họ biết cách nào để mở tâm, mở trí, nếu ta dạy họ tại sao phải ở sạch sẽ, phải hiền lương, tử tế, siêng năng, ngay thật và thanh liêm; tại sao phải ăn uống có tiết độ, đừng rượu chè, đừng đổ bát. Những điều nầy giúp ích họ rất nhiều. Nếu phần đông giới thấp kém của một xứ mà khởi tiến hóa lần lần, th́ những chơn linh tốt đẹp sẽ vui ḷng đầu thai xuống xứ ấy để giúp họ bước thêm một bước nữa. Ấy vậy, sự thạnh, vong của một nước là tùy ở dân tộc. Nếu bỏ mặc cho dân sống sao cũng được, không thương yêu giúp đỡ họ, tức là d́m Quốc gia xuống vực sâu!

     Câu hỏi thứ bảy.    V́ lẽ kẻ sát nhơn vốn là anh em với ta, ta có nên trả tự do cho họ không?

        Người sát nhơn là một linh hồn c̣n bé ta cần phải giúp đỡ. Nếu ta bắt y cầm tù một thời gian, lại thả y ra, để rồi bắt y lại nữa, th́ cũng như ta đem người bịnh đến nhà thương trong một tuần, rồi cho về, hai tuần sau lại đem vô nữa. Nếu cứ thế măi, th́ bịnh đă không giảm mà lại c̣n tăng. Trái lại, ta phải để cho bịnh nhơn thật lành rồi sẽ cho về. Đối với kẻ bịnh về tâm trí   là những kẻ đă gây ra tội ác   ta cũng phải trị như những kẻ bịnh về xác thịt mới được. Ta phải dạy dỗ họ; ta phải rèn tập họ. Ta chớ hành phạt họ một cách tàn nhản và dă man; bởi v́ làm cho họ đau đớn về thể xác có ảnh hưởng ǵ nhiều đến tâm trí họ đâu? Nhưng thật ra, cũng không phải thả họ tự do, để họ làm chi th́ làm, cũng như ta không thể thả một con thú dữ cắn hại công chúng đặng. Họ cũng như con thú dữ: v́ họ là những kẻ sát nhơn, mặc dầu cầm nhốt họ, nhưng phải t́m cách sửa trị họ, cho tới chừng nào tánh nết họ được thuần lại, họ có thể thành người lương thiện, mới thả họ ra. Người ta đă nói nhiều về sự tự do; nhưng tự do như thế đă không ích ǵ, mà c̣n nguy hiểm, một khi nó không đi đôi với tính tri thức nhiệm vụ. Điều người ta phải ghi vào trí nảo tội nhơn là: luật lệ và giáo dục. Tội nhơn có quyền đ̣i hỏi, chẳng phải sự tự do, mà một nền giáo dục đàng hoàng. Tội nhơn không cần biết luật toà án trừng trị mấy năm, do một tội ác nào, mà phải hiểu luật công dân lao động, chủ trị dục vọng, để trở nên người lương thiện. Nếu được vậy, th́ ngục thất là chốn học đường, là nơi người ta  thương yêu, dạy dỗ, cải thiện đời sống của kẻ lạc lầm.

     Câu hỏi thứ tám.    Tại sao có người mới sanh ra lại mang tật què, hay có thân h́nh dị tướng?

         Tại kiếp trước họ độc ác với kẻ khác, nên bây giờ họ phải trả quả bằng những dị tướng. Bà A. Besant nói rằng: “Kiếp trước làm cho kẻ khác đau khổ, th́ kiếp nầy phải mang một thân h́nh dị tướng. Những kẻ hành hạ thú vật, những người ỷ thế hiếp cô, những nhà giáo học nóng nảy đánh đập học tṛ, để thỏa ḷng tức giận, chớ không chịu dịu dàng dạy dỗ chúng nó, đều là những người phải mang một xác thân dị tướng”. Những kẻ yếu đuối hơn ḿnh là những trách nhiệm đến cho ḿnh phải che chở bảo bọc, chớ chẳng phải là những cơ hội cho ḿnh bóc lột, áp chế, hành hà. Nếu tư cách ḿnh như thế, th́ chắc chắn kiếp sau của ḿnh sẽ thảm khổ. Người xưa thường nói: “Kiếp sống hiện tại là phản ảnh của dĩ văng”. Thật là đúng vậy.

     Câu hỏi thứ chín.    Tại sao có sự đồng cảm và sự bất đồng cảm?

         Tại sự liên giao kiếp trước giữa ḿnh và người ḿnh thương hay ghét kiếp nầy.  Người ta tưởng sự luân hồi làm cho người thân ḿnh xa cách ḿnh, chớ sự thật không phải thế. Trước nhất, khi ta bỏ cái xác và cái vía rồi, ta ở trong cái trí, lên cơi trời (tức là cơi Hạ thiên: Dévakhan) ta sống ở đó nhiều năm (có khi cả ngàn năm) chung với những người thân yêu của ta lúc sanh tiền. Khi luân hồi, trở xuống thế gian, ta có khuynh hướng đầu thai chung với mấy người ấy. Nếu v́ lẽ riêng, người thương của ta phải đầu thai bên kia trời, xa ta muôn dặm tuyệt mù, nhưng dầu vậy đi nữa, t́nh thương của ta và nhơn quả chung thường khiến ta đến xứ đó để gặp gỡ người ấy với danh từ, ân nhân, bằng hữu hay vợ chồng. Dù ở trên trời hay dưới đất, t́nh thương không bao giờ tan ră. Chỗ nào có t́nh thương chơn thật là chỗ đó có sự liên quan mật thiết giữa linh hồn; sự liên quan nầy không bao giờ bị bàn tay giá lạnh của tử thần hay sự tái sanh làm cho dứt được.

     Có bao giờ ta cảm thấy một người nào lần thứ nhứt mà dường như đă quen biết lâu rồi chăng?  Chỉ vài giờ đàm thoại, cũng đủ thấy ta và người đồng thinh, đồng khí hơn anh em ruột một nhà. Có bao giờ ta cảm thấy người nào lần thứ nhứt, mà ta ghê tởm không dám lại gần chăng? Đó là người nghịch của ta kiếp trước. Tốt hơn là ta nên tránh chung đụng với y, đồng thời nên đem tư tưởng hiền lành, tử tế và nhơn ái mà ban rải cho y và cầu chúc cho y được tốt đẹp hơn. Như vậy ta có thể trả quả của ta đối với người kiếp xưa.  Rồi vài năm sau, khi ta gặp lại người, ta sẽ không c̣n thấy như là kẻ nghịch mà có thể là người thân. Đó là cách ta đổi quả xấu ra quả tốt. 

     Có khi ta vừa thấy người nào lần thứ nhứt, mà tấm ḷng ta bổng nhiên sôi nổi một niềm cảm mến nồng nàn: đó là tiếng gọi của chơn linh nầy đối với chơn linh khác. Sắc tướng không thế nào cản đặng tiếng gọi của tâm hồn. Luân hồi đặt để ta ở xứ nầy, hoặc xứ khác, với thân h́nh nam nhi hay phụ nữ; nhưng linh hồn vẫn không lầm nhau và tự nhiên gọi nhau bằng tiếng vô thinh.

     Tiếng gọi của linh hồn là một bằng cớ vững chắc nhứt của t́nh thân ái mà ta có thể hoàn toàn tin cậy. Nhưng ta cũng đừng lầm t́nh thân ái bạo phát, do bên trong, chớ chẳng phải do bên ngoài, mà người ta thường cho là: “T́nh chớp nhoáng”. Thật ra, cũng có tiếng gọi của linh hồn, mà cũng có tiếng gọi của xác thịt giữa nam và nữ. Một t́nh thương như vậy sẽ tan ră với thời gian, và sẽ hoá ra sự chán nhàm, buồn tẻ!

     Luân hồi làm cho t́nh thương được măi bền vững; nhờ đó mà ta chắc chắn rằng: chẳng bao giờ ta mất đặng người thương của ta. Lại nữa, luân hồi đem lại cho ta hy vọng và an ủi khi t́nh thương của ta không đặng bồi đáp. Ta sẽ tự nói rằng “T́nh thương của ta ăn sâu trong dĩ văng; nếu bây giờ bạn không thương ta lại, là tại xưa kia ta có  làm điều chi bất tường cho bạn ta. Vậy ta c̣n phải thương nhiều hơn nữa đặng trả cho rồi mối nợ tiền khiên; và nhơn đó, một ngày kia, t́nh thương chơn thật và đậm đà của ta sẽ hiệp ta với bạn ta một lần nữa, tại cơi trần”

     Thuyết luân hồi làm cho ta trở nên mạnh mẻ, có thể đảm đương tất cả nhiệm vụ khó khăn ở đời và chịu nổi tất cả những điều sầu khổ.

     Câu hỏi thứ mười.     Nếu có luân hồi, tại sao ta không nhớ kiếp trước của ta đặng?

     Có biết bao nhiêu chuyện dưới trần mà ta c̣n không nhớ hết thay, lựa là những kiếp đă qua! Lúc thiếu thời của ta có xảy ra chuyện ǵ, hỏi ta nhớ đủ hết không? Ta chỉ nhớ vài chuyện hiển minh mà thôi: như con ngựa gỗ của ta cởi, cuốn vần đầu tiên, cuộc đi du lịch trên tàu thủy hay trên xe lửa lần thứ nhứt. Ngoài các điều ấy ra, ta không c̣n nhớ chi về đời ấu trỉ của ta hết. Ta không nhớ chẳng phải có nghĩa là kư ức hoàn toàn tiêu mất trong trí ta đâu. Không phải thế. Nếu ai thôi miên ta, và bảo ta tả lại tất cả thời kỳ ấu trỉ của ta, th́ ta sẽ tả không sót một mảy!  Bởi v́ những kỷ niệm xưa chỉ khuất dưới lớp màn hiện tại thôi. Nhưng khi xuất thần (lúc bị thôi miên) th́ sự hiện tại không lấp đặng cảnh dĩ văng. Người xuất thần có thể nói lại những kỷ niệm xưa với thứ tiếng thông thường, mà chính ḿnh cũng không hiểu được. Như thế, th́ cái thuyết truyền thần không đứng đặng ở chỗ nầy. Người ta cũng có thể nhớ rơ ràng những điều ǵ đă quên từ lâu, trong khi bịnh nặng, hay trong cơn mê sảng. Tại sao cái óc lại hồi nhớ dễ dàng trong lúc xuất thần đặng? Bởi v́ những kỷ niệm xưa không xóa nḥa đặng trong kư ức. Những người tự tử, trước khi chết, thấy rơ đời họ trả ra trước mắt như tấm phim. Sức rung động của nguyên tử cái óc   làm ra trí nhớ   đă giảm bớt nên khiến cho quên; lại nữa những nguyên tử nầy rung động từng nhóm, nên mới có sự liên tưởng. Tỷ như một mùi thơm thoảng qua làm cho nhớ đến mùi thơm mà ta ngửi khi xưa trong trường hợp nào, cùng với người nào. Một nguyên tử trí năo bị kích động, th́ nó lôi cuốn các nguyên tử của toàn nhóm, chi nên những kỷ niệm xưa mới diễn lại đặng.

     Chính cái thuyết nầy giúp ta giải nghĩa tại làm sao ta không nhớ lại kiếp trước, mà ta có thể nhớ lại tất cả chi tiết xảy ra ở kiếp nầy?

     Kiếp nầy ta là một linh hồn ở trong một xác thân mới; cái óc ta, cái thể t́nh cảm và tư tưởng của ta không có ghi chép những điều xảy ra ở kiếp trước, làm sao hồi nhớ đặng.  Chỉ có “linh hồn” ta là trường tồn, không bị thay đổi nên giữ đặng tất cả kỷ niệm của thời dĩ văng mà thôi. Nó không bao giờ quên.

     Nếu nói như thế, th́ tất cả người dưới thế gian không thể nhớ lại kiếp trước sao?

         Cũng có người nhớ đặng [[17]], nếu biết tập luyện theo phương pháp. Cái phương pháp nầy bà A. Besant đă chỉ rơ dưới đây. “Tất cả lực lượng của quư ngài đều gom ở ngoại giới; nó quan hệ đến quyền lợi, dục vọng và tư tưởng của quư ngài hiện giờ. Tất cả lực lượng của chơn nhơn trường tồn đều luôn luôn quay về hạ thể: trí, vía, xác để tiếp xúc với ngoại giới. Đó là điều làm hầu hết của mọi người ở thế gian. Nếu muốn nhớ kiếp trước, th́ quư ngài phải làm trái ngược lại: quư ngài phải quay cả lực lượng tinh thần về bên trong, về chơn nhơn bất tử, nó ghi chép tất cả kỷ niệm cổ kim của quư ngài. Ngày nào mà quư ngài hiệp nhứt với chơn nhơn đặng, th́ trí nhớ của chơn nhơn tức là trí nhớ của quư ngài. Tự nhiên quư ngài nhớ lại tất cả kiếp trước. Chơn nhơn đă trả qua cảnh dĩ văng tiền khiên. Khi phàm nhơn tan ră, những sự kinh nghiệm đă thâu thập dưới trần sẽ đổi thành đức tánh tại cơi trời, rồi chí cái kết quả của sự kinh nghiệm (mà ta gọi là đức tánh) sẽ gắn vào thân, vía và trí của con người mới, khi trở lại đầu thai tại cơi trần. Tỷ như người thương gia làm sổ kế toán, biên số thâu nhập và số chi xuất của năm vừa qua, để làm căn bản cho năm sẽ tới, chớ không có biên những tế khoản: th́ chơn nhơn cũng vậy. Trên cơi trên, chơn nhơn làm kế toán rồi, th́ khóa sổ lại; nhưng vẫn nhớ trong trí cái quả vừa qua. Cái kết quả nầy sẽ ghi vào trí thức chơn linh. Cái kết quà của sự sát nhơn ở trần sẽ biến thành cái xu hướng sát nhơn ở cơi trời. Quư ngài chớ quên rằng: nó chỉ là cái xu hướng thôi. Cái xu hướng nầy sẽ ghi vào trí năo của người mới đầu thai, nó sẽ chịu ảnh hưởng xấu hay tốt của nền giáo dục gia đ́nh và xă hội. Nếu giáo dục đàng hoàng, th́ cái xu hướng sát nhơn kia sẽ phải mất dần. C̣n trái lại, con người gặp phải hoàn cảnh xấu xa, hung tợn, th́ cái mầm sát nhơn kia sẽ nảy chồi, mọc lá,và con người dễ phạm vào tội chém giết như kiếp trước.” 

     Đó là điều giải thích tại làm sao ta không nhớ đặng kiếp trước. Nhưng tôi (bà A. Besant) đă nói với quư ngài rằng:

     “Ta có thể t́m lại trí nhớ của chơn nhơn và nhớ đặng tiền kiếp bằng cách tham thiền đem cả tâm lực chú vào cơi trên, chớ không phải hạn chế tâm ḿnh nơi mấy cơi thấp, măi quay quần nơi hạ trí, t́nh cảm và nhục dục của trí, vía và thân. Quư ngài hăy sống với tinh thần, nghĩa là rán trau dồi ba thể cho được tinh khiết, cao thượng mới có thể đem phàm nhơn nhập với một chơn nhơn. Hễ phàm nhơn nhập một với chơn nhơn rồi, th́ tự nhiên các tiền kiếp sẽ trải ra mắt ta một cách rơ ràng. Tôi biết có nhiều người nhớ đặng mấy kiếp trước, họ có thể ḍ từ kiếp một, để ghi lại những bài học đă qua nhiều thế kỷ.  Nhưng theo ư tôi: th́ người nào chưa thoát tục được, mà nhớ đặng kiếp trước, th́ có hại hơn là lợi. Tỷ như ta ở trong một gia đ́nh, rủi người cha là kẻ thù của ta xưa kia, nếu ta biết đặng quá khứ chi cho khỏi sanh ra sự đau đớn trong ḷng? Biết bao nhiêu người lầm lỗi, có thể trở nên tử tế, nếu họ quên được cái kỷ niệm tội lỗi ám ảnh sự tiến hóa của họ rất nhiều.

     Trong đời cũng có vài chuyện ta phải quên. Người ta nói ông Shri Ramachandra, chiều lại, rán quên tất cả tội lỗi của ông đă làm trong ngày, dù tội lỗi ấy đến số 20, nhưng đồng thời, ông không hề quên làm một điều thiện. Người học Đạo cũng thế, chỉ nên nhớ điều thiện đă làm và quên điều ác của người đối với ḿnh và của ḿnh đă gây. Quên điều ác của ḿnh chẳng phải để tránh sự cắn rứt của lương tâm, mà bởi sự cắn rứt lương tâm đă không đem đến kết quả, mà c̣n thêm hại. Điều cần yếu là khi ta phạm lỗi, ta chớ buồn rầu, mà phải lập tâm, lập chí cho có can đảm đừng tái phạm lần thứ nh́.

     Nếu quư ngài không có đủ nghị lực để lập chí không giận hờn, không buồn rầu, không phiền trách những điều khó khăn, rắc rối tại kiếp nầy, th́ quư ngài chớ mong ǵ thêm vào kiếp hiện tại, cái gánh nặng của muôn kiếp đă qua!”

 

CHƯƠNG THỨ NĂM MƯƠI CHÍN

Luật Luân Hồi

Những thể của Linh Hồn

     Thông Thiên Học dạy rằng: Con người là Chơn Thần, là Điểm Linh Quang của Đức Thượng Đế sanh tại cơi Tối Đại Niết Bàn và ngụ tại cơi Đại Niết Bàn. Chơn thần quá trong sạch không thể ở cơi thấp đặng, mới phân thân xuống ba cơi dưới (Niết Bàn, Bồ Đề và Thượng Thiên) lấy tên là Linh Hồn hay Chơn Nhơn. Chơn nhơn cũng quá tinh anh không thể ở cơi thấp đặng mới phân thân xuống ba cơi dưới nữa (là Hạ Thiên, Trung giới và phàm trần) lấy tên là Phàm nhơn.

     Ta đă nói: Linh Hồn luôn luôn bất diệt, luôn luôn tinh tấn với thời gian, và không bao giờ bị nạn tứ khổ: sanh, lăo, bịnh, tử. Mỗi phút qua là mỗi phút linh hồn vươn ḿnh bước tới, hầu đến kề Đức Từ Phụ toàn tri, toàn năng và toàn diện. Mục đích của Linh Hồn là làm theo Thiên Cơ.

 

 

        Sự tiến triển mà Linh Hồn khởi diễn từ loài thấp nhứt ở cơi trần, như loài kim thạch; và cứ măi đầu thai để tấn hóa, được phản bổn hườn nguyên.

     Linh hồn đi đầu thai, có nghĩa là lấy ba hạ thể: trí, vía, và xác. Ban đầu Linh Hồn gom chất khí cơi Hạ thiên, làm ra hạ trí dùng để suy nghĩ; đoạn gom chất khí cơi Trung giới làm ra cái vía dùng để cảm kích. Sau rốt, Linh Hồn mới nhập vào thai nhi để hoạt động trong giới vật chất.

     Thông Thiên Học dạy rằng: một khi Linh Hồn đă lấy xác con người rồi, th́ không c̣n đầu thai lại làm thú vật, cây cỏ và sắt đá nữa, trừ khi vài trường hợp bất thường, nhưng ít khi xảy ra lắm.

     Khi con người từ trần, bỏ xác phàm, th́ c̣n lại hai thể vía và trí. Cái vía sẽ lần lần tan ră, Linh Hồn chỉ c̣n có hạ trí. Sau cùng hạ trí cũng tan ră. Linh Hồn mới nhập vào chơn thân hay là Thượng trí (corps causal). Ở trong chơn thân, con người mới thật quy hồi quê cũ.

 

Dưới đây là bảng chỉ rơ các hạng linh hồn đang đầu thai :

CÁC HẠNG LINH HỒN ĐANG ĐẦU THAI

     1.    Các  Đấng  Chơn Tiên .    Các Ngài đă thoát kiếp Luân hồi, nhưng vui ḷng đầu thai để hy sinh giúp đời.

     2.    Linh Hồn đang đi trên đường Đạo.    Đầu thai lại liền sau khi thác, dưới sự chỉ huy của Đức Thầy hay là các Đấng Chơn Tiên. Hy sinh cảnh Trời huyền diệu để trở lại trần.

     3.    Linh Hồn Trí Thức, tần hóa khá. .    a) Đầu thai hai lần trong mỗi giống dân phụ.   Ở tại cơi Trời trung b́nh 1200 năm.

     b) Đầu thai hơn hai lần trong mỗi giống dân phụ.    Ở tại cơi Trời trung b́nh 700 năm.

     4.    Linh Hồn kém thấp.    Đầu thai nhiều lần trong mỗi giống dân phụ, trước khi sang qua giống dân phụ khác.

     5.    Linh Hồn chưa mở mang.

     Có hai hạng linh hồn : a) Linh hồn trẻ và b) Linh hồn già.  Linh hồn trẻ là Linh hồn chưa đủ nghị lực chủ trị dục vọng đang bồng bột, nổi sôi, cái trí cũng chưa mở mang, khó suy tính đặng điều cao thượng. Hiện giờ những Linh hồn ấy sanh trong những nước chưa văn minh, hay vừa mới văn minh. C̣n Linh hồn già là những Linh hồn tiến hóa cao, không lấy gia đ́nh hay tổ quốc làm biên cương, tâm hồn bao gồm bốn biển, lấy hạnh phúc nhơn sanh làm nền tảng và rán thực hành theo Thiên Cơ. Cái Linh hồn ấy ví như Bông Hoa của Nhơn Loại, đă bước gần mức tột thang tiến hóa, và đang hướng về chúng sanh để t́m phương phổ độ.

     Trên bảng đây ta thấy :

     1.    Đấng Chơn Tiên.    Chơn Tiên đă thoát kiếp luân hồi. Tất cả sự văn minh trên đời Ngài đều rơ cả. Ngài không c̣n điều chi học hỏi tại trần nữa. Ngài trở thành cột trụ muôn đời của Đức Thượng Đế vậy. Tuy nhiên, có nhiều vị Chơn Tiên đầu thai xuống thế để đem người đến Đức Thượng Đế. Khi một vị Chơn Tiên đầu thai, th́ Ngài tự chọn nơi và giờ sanh, v́ Ngài cầm vận mạng Ngài trong tay.

     2.    Linh Hồn trên đường Đạo.    Là những vị đệ tử Tiên. Thường sau khi bỏ xác chừng vài tháng hoặc vài năm chớ chưa bỏ cái vía và trí như thường lệ, cũng trở lại trần.  Theo luật tự nhiên, th́ khi bỏ xác phàm rồi, linh hồn ở trên cơi Trung giới một thời gian ngắn; đến khi bỏ cái vía rồi, th́ linh hồn qua cơi Hạ thiên ở trong cơi Hạ trí nhiều trăm năm. Cơi Hạ Thiên gọi là Thiên Đàng hay Dévakhan (theo văn từ Thông Thiên Học).  Nơi đây, linh hồn hưởng đủ mọi điều hạnh phúc đă khao khát lúc ở trần. Trải qua nhiều thế kỷ, Linh Hồn sống trong cảnh phúc lạc miên trường, cho chí ngày nhàm chán mới bỏ cái hạ trí, mà sống trong chơn thân. Tại chơn thân, tất cả sự kinh nghiệm đă thu thập trong ba cơi dưới sẽ hóa thành đặc tài và quan niệm. Nhưng muốn đạt sự chí thiện chí mỹ, linh hồn phải hoạt động, tập rèn nhiều hơn nữa, bằng cách đi xuống cơi dưới, lấy ba hạ thể mới: trí, vía, xác.

     Những vị đệ tử cao cấp không bị bắt buộc phải tuân theo luật chung: Họ hy sinh mấy trăm năm hạnh phúc hưởng tại cơi Trời, bương bả xuống trần để phụng sự Đức Thầy trên đường độ chúng. Đức Thầy chọn cách nào cho ngày giờ và chỗ đầu thai của họ phù hợp với công việc giúp đời. Họ vẫn giữ y hai thể vía và trí của họ, mà chỉ lấy xác mới thôi.

     Bà A. Besant và ông C. W. Leadbeater lấy huệ nhăn xem mấy kiếp trước của 4 người A. B. C. D. [[18]]  thuộc về hạng linh hồn tấn hóa. Theo chi tiết của của sự luân hồi, người ta có thể lấy trung b́nh mà kết luật theo bảng dưới đây:

 

     Trông vào bốn bảng trên đây ta thấy:

 

           Thứ nhứt .    Linh hồn trí thức chia ra làm hai nhóm:

          1) Nhóm A, B, và D thời gian trung b́nh, giữa hai kiếp lối 1200 năm  

          2) Nhóm C thời gian trung b́nh, giữa hai kiếp, lối 700 năm.

   

      Khoảng thời gian nầy (phần nhiều ở tại cơi Hạ thiên) lâu hay mau tùy theo sức và lượng của nhiệt vọng con người lúc c̣n sống tại cơi trần. Đối với linh hồn không tấn hóa, đời sống dưới trần lối 60 tuổi, có thể ở cơi trời từ 2 đến 3 thế kỷ. Nếu đời sống dưới trần mà ngắn ngủi như trường hợp của kẻ chết yểu, th́ thời gian trên Trời sẽ rút ngắn lại.

     Đối với phần đông linh hồn trí thức, đời sống dưới trần lối 60 năm, có thể ở tại cơi Trời từ 1000 tới 2000 năm. Tại sao mấy người nầy lại ở lâu trên trời?   V́ đời sồng dưới thế gian đem lại cho họ nhiều kinh nghiệm, mà những sự kinh nghiệm nầy phải đổi ra tài đức tại cơi trời. Nếu kinh nghiệm nhiều, th́ phải kéo dài thời gian. Ta thấy nhóm linh hồn trí thức như nhóm C (Bảng thứ Tư ba trang 318) chỉ ở trên Trời có 700 năm mặc dầu họ có nhiều kinh nghiệm bằng nhóm A, B, C, (mấy nhóm nầy ở trên trời lối 12 thế kỷ).

 

  

 

 

 

     II Thứ Nh́.    Những linh hồn trí thức thường đầu thai ít nhứt hai lần trong mỗi giống dân phụ, của một giống dân chánh (xin xem lại đoạn giống dân). Ta hăy xem nhóm người A, th́ ta thấy linh hồn đầu thai năm 23.650 trước Chúa giáng sinh trong giống dân phụ thứ nhứt của giống chánh Atlante (nghĩa là giống dân chánh IV). Mấy kiếp sau, linh hồn ấy cứ đầu thai trong các giống phụ của giống dân chánh ấy tùy theo số thứ tự (từ giống dân phụ thứ 1 tới giống dân phụ thứ 7). Sau khi đầu thai trong giống dân phụ thứ 7; linh hồn trở lại giống dân phụ thứ nhứt; nhưng thường đổi xác nam hay nữ. Rồi cũng cứ tuần tự luân chuyển măi như vậy. Có khi linh hồn không tuân theo thứ tự của giống dân phụ. Tỷ như đầu thai trong giống dân phụ thứ 6, bỏ nhóm dân phụ thứ 7, lại trở đầu thai trong nhóm dân thứ nhứt. Đó chỉ nghĩa là linh hồn đă học hỏi tất cả điều cần kíp trong nhóm dân phụ thứ 7 rồi. 

     III Thứ Ba.    Về vấn đề nam và nữ, th́ ta thấy trong bốn người A, B, C, D, khác nhau xa. Lấy thân đàn ông hay đàn bà để tỉến hóa tại cơi trần, là tùy sự kinh nghiệm khác nhau, chớ không có luật buộc phải mấy kiếp làm nam hay nữ hoặc giả người nữ bị đọa hơn người nam. Thường thường, chẳng bao giờ linh hồn lấy xác thân nam hay nữ liên tiếp trong bảy kiếp, hoặc ít hơn ba kiếp. Tuy nhiên cũng có lệ ngoại, cũng như ta thấy tên A, sau ba kiếp liên tiếp làm đàn ông, đầu thai hai lần làm đàn bà rồi trở lại làm đàn ông.

     IV Thứ Tư.    Linh hồn đầu thai là khi chấm dứt đời sống trên Trời; ngày giờ sanh và tử đều do Đấng Nam Tào Bắc Đẩu [[19] đă định trước. Kiếp sống của ḿnh dưới trần có thể bị rủi ro hay bịnh hoạn thâu ngắn lại, khi các Ngài cho là cần. Trái lại nếu các Ngài thấy linh hồn cần phải sống lâu đặng thu thập một vài kinh nghiệm trọng yếu, th́ các Ngài cho kéo dài đời sống. Tuy các Đấng Nam Tào Bắc Đẩu định đạt số mạng ḿnh như thế, chớ chẳng phải là cái luật phải tuân theo, v́ ḿnh có thể sửa đổi số mạng ḿnh. Tỷ như sự rủi ro gây thiệt mạng, đó chẳng phải luôn luôn là do số mạng: v́ lắm khi sức mạnh bên ngoài cũng có thể làm sái chương tŕnh của Đấng Nam Tào Bắc Đẩu. Nhưng trong đời chẳng có cái chi mất cả. Kiếp nầy rủi thu ngắn: v́ tai nạn; nhưng kiếp tới sẽ được đền bù.

     Trong chương tŕnh luân hồi chẳng có khoản nào nói về sự tự tử. Con người chịu trách nhậm hoàn toàn của sự tự tử. Có nhiều trường hợp: người ta tự tử để tránh tội lỗi, người ta tự tử v́ loạn óc hoặc v́ nguyên nhân cao thượng.

     Đối với linh hồn chưa tấn hóa và c̣n thấp kém, th́ luật luân hồi có thể sửa đổi một đôi phần, chi nên họ sanh đi, sanh lại trong một giống dân phụ rất nhiều lần, trước khi đầu thai qua giống dân phụ khác. Thời gian giữa hai kiếp của họ rất ngắn ngủi chỉ vài năm. Họ thua sút những linh hồn trí thức cả triệu năm. Đó chẳng phải có nghĩa là bản tánh của họ xấu xa. Những đức tánh khôn ngoan, nhơn từ của người trí thức hiện giờ sẽ là gia tài sẽ tới của người c̣n thấp kém, chưa tấn hóa, bởi v́ luật trời bắt buộc tất cả mọi người đều phải đạt cho được sự chí thiện, chí mỹ.

     Tại sao biết đặng người đàn ông ở Đông Phương sẽ đầu thai làm người ở Tây Phương? Câu hỏi nầy cũng chẳng khó trả lời. V́ lẽ, hiện giờ các vị thông thái đă có làm; tỷ như muốn biết chỗ sanh đứa nhỏ, th́ người ta xem tứ cận, coi địa thế có gần biển; núi, hồ, sông chăng? Rồi trông vào bảng  địa đồ, th́ biết đặng rơ ràng. Nếu đứa nhỏ sanh vào đời thượng cổ, địa diện bị đổi thay, th́ nhà sưu tầm của khoa pháp môn huyền bí lấy thần nhăn xem đúng chỗ nào, rồi ḍ lại bảng địa đồ, th́ biết trúng đặng xứ ấy.

     Muốn biết về giống dân, th́ phải có học nhiều về nhân tính học. Người nào đă từng đi du lịch, th́ sẽ biết phân biệt người Tàu với người Nhật, người Anh với người Pháp, người Đức với người Nga. Cũng như xem đặc tính của mỗi giống dân. Người ta có thể biết giống dân nào phụ, giống dân nào chánh. Biết rơ ngày giờ là một chuyện khó. Người có huệ nhăn, có thể thấy đặng bao giờ trái đất đổi thay, và giờ nào, ngày nào quả địa cầu xảy ra điều ǵ, trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Tỷ như nhà Pháp môn muốn xem lại một đoạn đời xưa bên xứ Ai Cập và t́m biết ngày tháng, th́ phải lấy huệ nhăn quan sát triều đ́nh, coi vị vua nào trị v́ thuở ấy, rồi lật lịch sử coi nhằm năm nào hoặc trước hay sau Chúa Giáng sinh. Cũng như người ta có thể biết đặng châu Atlantide sụp hồi năm 9565 trước Chúa Giáng sinh vậy.

     Về sự biết một linh hồn khi lấy xác nam hay nữ, th́ không thể lầm đặng. Thật ra, cái xác thân thay đổi mỗi kiếp luân hồi, nhưng cái chơn thân (hay cái kiếp) chẳng hề thay đổi. Một khi nhà sưu tầm, lấy nhăn quang ḍm vào chơn thân trường cửu ấy, th́ sẽ biết từng kiếp một của linh hồn. Mặc dầu xác thân là đàn ông hay con nít, linh hồn không v́ đó mà già hay trẻ.

     Bây giờ ta hăy trông vào hai bảng dưới đây của các nhà có nhăn quang như bà A. Besant và ông C.W. Leadbeater sưu tầm để biết qua cái dây liên ái chặt chẽ giữa ba linh hồn A, B, C, Nhờ t́nh thương kết chặt, ba linh hồn nầy cầm tay tiến bước, đến Đài Minh Triết Thiêng Liêng, không hề rời nhau. T́nh thương thực sự không bao giờ mất, mặc dầu cái xác bị bao lần thay đổi, đổi thay. T́nh thương thực sự mặc dầu trong gia quyến hay ngoài đời cứ măi tỏ hiện bằng cách giúp đỡ và hy sinh.

     Ở trước ta đă thấy Linh hồn A và B, là những linh hồn tấn hóa khá, bởi đă sống 1200 năm tại cơi Trời, c̣n C th́ chỉ có 700 năm mà thôi.

     Trông vào bảng thứ I ta thấy C gặp A 12 lần, c̣n gặp B và A cùng một lượt có 8 lần.  Nhơn đó mối tương quan giữa A và C rất đậm đà. Mặc dầu hoàn cảnh và nhơn quả của đôi bên không gom họ vào một gia đ́nh đặng, chớ tâm hồn họ vẫn t́m nhau, mà kết bạn thân với nhau.

     Trông vào bảng thứ II ta thấy hai linh hồn E và F gặp nhau nhiều kiếp, và thần t́nh ái đă buộc chặt hai người trong nhiều trường hợp. Khi linh hồn E đổi xác nam đầu thai làm người nữ hai lần, th́ người thương của y lại cũng theo y với tư cách con trai, và chồng.  Đến chừng E làm đàn ông th́ F lại cũng làm đàn ông. Cả hai đồng kết bạn thân yêu không rời. Đến sau, E làm một nhà sư, th́ người ta lại đem đến cho một em gái mồ côi, ở tại đền thờ. Sau hai tháng, nhà sư và em bé trở thành đôi bạn thân; nhà sư đối với em bé như bực cha và sư phụ. Rồi một kiếp sau, hai người làm vợ chồng với nhau. Có một kiếp F không gặp người yêu, nhưng kiếp sau tại (Rome) thành La Mă F và E lại làm vợ chồng.

 

 

CHƯƠNG THỨ SÁU MƯƠI

I.    Ư   muốn  Đầu –Thai

     Ở trước ta đă thấy: Luân hồi là cần kíp, bây giờ ta thử học qua cái ư muốn đầu thai.

     Ta đă biết rằng: Đầu thai nghĩa là Chơn nhơn, từ cơi Thượng Thiện, cho tia sáng xuống ba cơi dưới: hạ trí, trung giới và hạ giới để làm ra ba thể: trí, vía và xác mà ta gọi là phàm nhơn.

     Vậy thử hỏi đầu thai diễn ra lúc nào?

     Khi chơn nhơn muốn kinh nghiệm thêm điều mới lạ, mới phân thân ra đặng đi xuống cơi thấp; sự ham muốn nầy là do ư chí của Đức Thượng Đế giục giă [[20]. Chơn nhơn nẩy sanh cái ư muốn đầu thai. Theo phạn ngữ th́ cái ư muốn đầu thai đây gọi là Trishnâ. Tức là sự khác vọng để biểu lộ sự  SỐNG THẬT” Chữ sống đây không phải theo nghĩa thường mà có nghĩa là làm cách nào để biểu lộ hoàn toàn, cái tâm linh động tại cơi dưới để cùng rung động theo muôn điệu. Không có cái luật nào hay một sứ mạng nào bên ngoài bắt buộc chơn nhơn phải đi đầu thai cả: chơn nhơn đi đầu thai là tự ư ḿnh muốn.  Nếu Chơn Nhơn không chịu, th́ cũng được tự do vậy. Nhưng bao giờ Chơn Nhơn thấy những cơi dưới c̣n hữu ích cho sự tiến hóa ḿnh, th́ lại muốn đi đầu thai.

     Thế th́, Chơn Nhơn không bị áp chế bắt buộc đi đầu thai dưới cơi trần phiền năo nầy. Chơn nhơn muốn đi đầu thai là tự ḿnh khao khát. Ta hăy ví dụ một cách hữu h́nh như vầy: khi ta ăn, đồ ăn sẽ bổ dưỡng ta; rồi ta lại đói nữa, ta cần bổ dưỡng nữa, ta cần ăn nữa. Không ai bắt buộc ta phải ăn, ta tự kiếm lấy mà ăn v́ ta đói. Cũng y như thế, người đi đầu thai v́ thấy ḿnh cần dùng cảnh dưới để tiến hóa, c̣n chưa hưởng tận những cái ǵ hay, quư ở cơi ấy, nên mới bỏ ngôi vị trên thiên đàng (dévakhan) mà chịu cảnh luân hồi.  Bao giờ chưa thực hiện được thiên tánh cho hoàn toàn, th́ cái ư muốn đi đầu thai (Trishnâ) vẫn có luôn luôn. Một khi con người đă tiêu hóa các chất bổ rồi, th́ Trishnâ lại hiện đến để t́m những chất bổ khác. Có hai thứ Trishnâ: thứ th́ “ngoại giới” thứ th́ “nội giới”. Trishnâ ngoại giới là sự khát vọng thâu thập những vật bên ngoài: tỷ như t́m rung động theo sự rung động của cơi dưới. Trishnâ nội giới là cái khát vọng ấy lại quay về bên trong; nó tỏ ra bằng câu nầy: “Hồn tôi khát vọng một vị Thần linh sống thật (Mon âm a soif de Dieu, oui, du Dieu vivant”. Đó là sự khát vọng của nhành muốn về cội, của phần tử muốn về cốt tử. Tuy nhành xa cội, chớ không thể chia ly. Linh hồn cũng thế, bao giờ c̣n xa Đức Từ Phụ (Đức Thượng Đế) th́ c̣n khao khát và chẳng hề được diễm phúc.  Chính đó, mới nảy sanh ư muốn đầu thai; và Trishnâ giục người bỏ cơi Thiên Đàng để đi vào hạ giới đầy chông gai thảm khổ.

Tuy nhiên, cũng có người thấp kém mà thoát đặng luân hồi trong một thời gian rất lâu. Đó là trường hộp những nhà Đạo sĩ bên Ấn độ c̣n thấp kém. Họ rán dùng nghị lực của ư chí để dập tắt ḷng ham muốn sống ở cơi trần. Họ tự cho rằng: trần là giả tạm, là khổ năo, có đáng ǵ mà ham muốn trở lại nữa (nhứt là khi họ đă bị đau khổ, hay thất chí).  Họ tự ḿnh tạo ra tư tưởng dứt bỏ, lănh đạm đối với ngoại giới. Cái trạng thái ấy tiếng phạn gọi là Vairâgya. Kinh Upanishads nói rằng: người ta sanh dưới trần và do trần mới có dục vọng. Vậy nếu đàn áp đặng dục vọng trần gian, th́ sẽ không c̣n trở lại trần gian nữa. Sau khi thác rồi, người sẽ lên cảnh riêng (loka). Dẫu cơi nầy không trường tồn; chớ nó cũng tồn tại đặng một thời gian thật lâu. Cái cảnh Loka nầy có rất nhiều; nơi đây Linh hồn tôn thờ một vị Thần linh và tập tham thiền theo một lối riêng. Linh hồn có thể ở cơi đó lâu vô ngằn. Tuy những vong linh nầy khỏi phải đầu thai (nghĩa là khỏi bị khổ trần ràng buộc trong một thời gian khá lâu) chớ về sau họ cũng sẽ trở lại trần nữa, nếu quả địa cầu của dăy hành tinh nầy chưa tan ră, hay là họ sẽ qua địa cầu của dăy hành tinh khác; và họ phải trở lại mức xưa để tiến hóa tiếp. Luật trời chỉ có một mà thôi; nếu muốn đi ngược, th́ chỉ cũng một thời gian! Chi nên, ta áp dụng cách nầy rất tai hại về sau: v́ ta làm mất thời giờ rất nhiều và phải trở lại giai đoạn tiến hóa cũ mà ta đă bỏ lỡ.

  

CHƯƠNG  THỨ  SÁU  MƯƠI  MỐT

II.    Cách  Đầu–Thai

    Ta đă nói ở trước, ba hột lưu tánh nguyên tử rút vào chơn thân đợi chờ đầu thai.

     Bao giời cái ư muốn đầu thai đă có chắc rồi, th́ chơn nhơn mới gom ư vào ngoại cảnh, kích thích hột lưu tánh nguyên tử cái trí trước nhứt. Một khi bị kích thích, đường kim quang tuyến [[21] mới cử động; nó bắt đầu túa ra; rồi thần lực trước kia yếu ớt, nay lại tăng cường, mạnh mẽ, tưng bừng. Bấy giờ hột nguyên tử trường tồn cái trí giống như cục đá nam châm, nó rút về nó những nguyên tử cơi trí rung động đồng một nhịp với nó.  Nghĩa là nếu nó thanh, th́ nó rút chất thanh, nếu nó trược, th́ nó rút chất trược.

     Các vị Thiên Thần mới đem những hột nguyên tử nầy gần với hột lưu tánh nguyên tử cái trí cho nó rút dễ dàng. Các Ngài gom chúng nó lại làm một lùm mây bao xung quanh hột lưu tánh nguyên tử. Đó là đối với người mới tiến hóa. C̣n đối với người tiến hóa cao, th́ tự chơn nhơn làm lấy cái lùm mây ấy. Cái lùm mây này là cái trí mới tạo.  Khi cái trí vừa tạo, th́ chơn nhơn chuyển động đến hột nguyên tử trường tồn cái vía.  Cũng như làm cái trí, đường kim quang tuyến, bọc hột lưu tánh nguyên tử cái vía, lại rung chuyển, rồi túa ra để rút sanh lực thêm vào. Những nguyên tử cơi vía (trung giới) gom lại xung quanh hột lưu tánh nguyên tử cái vía, làm thành một lùm mây; ấy là cái vía mới tạo. 

     Bây giờ đến cái phách. Cái phách chẳng phải tạo giống như cái trí và cái vía. Hai thể này tạo ra là do chơn nhơn kích động hai hột lưu tánh nguyên tử cái trí và cái vía, như đă nói trên. C̣n cái phách tạo ra là ngoài ư muốn của chơn nhơn; nó đă có sẳn trước khi chơn nhơn nhập vào xác. Vậy ai tạo ra nó?. Chính là những vị Thiên Thần Dévarâjas  [[22]coi sóc cảnh thứ tư sấp xuống của cơi tinh khí hồng trần (sous plan éthérique de la matière physique). Sự làm đầu tiên của Thiên Thần Dévarâjas là làm một cái khuôn bằng tinh khí (mà ta gọi là cái phách) cho cái xác thịt mới của đứa nhỏ. Cái khuôn nầy tốt hay xấu là tùy theo hoàn cảnh và sự tiến hóa của đứa trẻ sau nầy. Người có thần nhăn ḍm vào người đàn bà có nghén thấy một h́nh bé nhỏ như con búp bế, ban đầu vẩn vơ xung quanh bụng, sau rút vào trong, rồi vội cho nó là linh hồn của đứa bé: nhưng sự thật, đó chỉ là cái khuôn xác thịt của nó mà thôi. Khi cái thai đă đủ h́nh hài và choán trọn cái khuôn, th́ bổn phận của Thiên Thần Dévarâjas đă viên măn. Ngài mới lo tạo cái khuôn khác cho người mẹ khác. Bấy giờ, chơn nhơn của bào thai ấy mới xuống coi sóc cái nhà mới của ḿnh sắp ở.

     Ở trước, ta đă nói cái phách của đứa nhỏ tốt hay xấu là tùy theo hoàn cảnh và nhơn quả của nó. C̣n màu sắc cái phách là tùy theo cung của nó. Thiên Thần thay thế cho Đấng Nam Tào Bắc Đẩu để làm việc này một cách công b́nh. Do hột lưu tánh nguyên tử cái xác, Thiên Thần biết dĩ văng của nó mới lựa khuôn mẫu phù hạp với nó. Nhưng sự di truyền rất có ảnh hưởng lớn trong sự chọn lựa này. Thiên Thần lấy hột giống của cha và mẹ làm căn bản để chọn vật liệu cho cái phách đứa nhỏ. Đó mới có câu “Hổn phụ sanh hổ tử” là vậy. Chất cái phách của đứa nhỏ là chất cái phách của người mẹ rút ra. Chi nên người mẹ cần phải ăn uống những vật trong sạch, cho cái phách con ḿnh được tốt đẹp.  Mặc dầu Thiên Thần khởi làm cái nhà mới cho chơn nhơn đă lâu rồi, nhưng chơn nhơn chỉ đến làm chủ ít ngày, trước khi đứa nhỏ chào đời. Nếu Thiên Thần định đứa nhỏ cần phải theo đặc tính nhứt định nào, th́ Thiên Thần không ĺa nó sớm, Thiên Thần có thể ở với nó cho tới khi nó được 7 tuổi. Trái lại, nếu không cần, th́ Thiên Thần ĺa đứa nhỏ sớm hơn, để nó trọn quyền làm chủ cái xác mới của nó.

     Khi cái xác làm xong, th́ cái trí và vía sẽ thông đồng với cái phách và cái xác ấy.  Nhưng chúng ta nên thêm rằng: lúc phôi thai, th́ đường Kim quang tuyến (Sutrâtma) túa ra giống h́nh cái lưới, mảnh mai, thanh đẹp vô song. Cái lưới này cứ to lần măi cho tới chừng nào cái xác đứa nhỏ hiện nguyên h́nh mới thôi. Sanh lực xuống nuôi xác thịt, do những sợi lưới nhỏ nầy.

     Thường thường, người ta cho rằng: Nhờ hột nguyên tử trường tồn cái xác, người mẹ mới thọ thai đặng. Tuy nhiên nhiều cái thai mới sanh ra lại chết, th́ đâu có hột nguyên tử trường tồn cái xác? Biết rằng: có rất nhiều chơn nhơn muốn đi đầu thai, mà phần đông chưa tấn hóa, nên hễ gặp cái xác đứa nhỏ nào c̣n trong bào thai, đă đủ h́nh dạng rồi, th́ cứ nhập vào, bất luận hoàn cảnh nào. Cũng có trường hợp, chơn nhơn t́m không có cái bào thai nào phù hạp với ḿnh, nên không chịu nhập vô. Cái xác không có chơn nhơn, th́ mặc dầu đủ h́nh dạng, cũng phải chết liền khi sanh ra.

     Thường thường, chơn nhơn chưa tấn hóa, không thể tự ḿnh chọn xác thịt và hoàn cảnh cho ḿnh đặng. Sự chọn này phải tùy ba điều kiện:  1) do theo sự tiến hóa của chơn nhơn bắt buộc phải vào hoàn cảnh nào để dễ bề tiến hóa.  2) do luật quả báo. Có lẽ chơn nhơn không được đặc ân ở vào một địa vị thuận tiện, mà phải ở vào một địa vị kém sút.  Hoặc giả chơn nhơn v́ quả báo, nên lâm vào một cảnh khắt khe, tiến tới chậm chạp,  3) do theo sức mạnh của t́nh thương, hay của sự ghen ghét.

     Người tiến hóa cao và đă để chơn trên đường Đạo rồi, th́ có thể tự ḿnh chọn lấy xứ sở và gia quyến của ḿnh sấp đầu thai. Những người ấy phải bỏ ra ngoài những cái ǵ lợi kỷ, cứ tự tin vào cơ trời: v́ chắc chắn rằng: cơ trời chỉ mưu cầu sự hạnh phúc chung cho nhơn loại mà thôi. Ta đă nói chơn nhơn có thể chọn cha mẹ của ḿnh tại dương thế, chớ cha mẹ không có thể chọn linh hồn kẻ là con ḿnh đặng. Nhưng nếu ăn ở ngay chánh, đem tất cả b́nh sinh, chí lực để phụng sự cơ trời, th́ như vậy có thể hấp dẫn những linh hồn quí báu (những vị chơn nhơn tiến hóa) đầu thai làm con ḿnh.

     Chúng ta thấy rằng: khi một Chơn nhơn nào xuống đầu thai, th́ cũng đều có đem theo ḿnh một cái gánh nghiệp kiếp xưa, ghi trong hột lưu tánh nguyên tử bằng sự rung động. Cái gánh nghiệp nầy ở bên nhà Phật gọi là Uẩn (Skandhas). Uẩn là những tánh thuộc về xác thịt, cảm giác, ư tưởng, trừu tượng, xu hướng, trí thức và những quan năng của trí tuệ. Những cái tinh hoa của Uẩn, th́ rút vào Chơn thân, c̣n thừa lại bao nhiêu, th́ dồn vào những hột nguyên tử trường tồn. C̣n cái ǵ thô kịch, xấu xa, th́ rút cục lại. tựa hồ ch́m trong giấc ngủ thôi miên. Bà Blavatsky có nói về người đi đầu thai như vầy: “Quả báo là đạo binh Ngũ Uẩn đang đứng trước cửa Thiên Đàng, để chờ linh hồn đi đầu thai, sau khi ngơi nghỉ trong hạnh phúc hoàn toàn tại Dévankhan (hay Thượng giới) Linh hồn, một lần nữa, phải rơi vào cơi hồng trần, để đền tội của ḿnh đă gây ra dưới luật Công B́nh”.

     Muốn đền tội, con người không cần phải rơi vào Địa ngục   như nhiều người lầm tưởng   với khói lửa mịt trời, với quỉ sứ nhăn nanh, cầm dao lóc thịt, với chảo dầu sôi ùn ục, với hầm rắn độc. Mà chính tại cơi trần mà con người dọn ḿnh, sửa tánh, và có dịp tội đền, ơn trả.

     Nơi đây, linh hồn sẽ gặt cái ǵ mà ḿnh đă gieo. Trong cảnh luân hồi, linh hồn sẽ tái hiệp với những linh hồn khác, đă v́ nó mà phải đau khổ một cách trực tiếp, hay gián tiếp, (Clé de la Théosophie).

     Tại cơi Thiên Đàng, trước khi đầu thai, mọi linh hồn đều sẵn sàng ưng chịu, một cách hiểu biết, tất cả điều kiện của luân hồi sắp đến, mặc dầu những điều kiện nầy trái nghịch hẳn với bản tánh của phàm nhơn: bởi trường đời, bao giờ cũng cam go, gây khổ cho tất cả mọi người, không chừa một ai; và mỗi sự kinh nghiệm thường đem đến cho phàm nhơn chưa tiến hóa một cảnh đau ḷng. Tuy nhiên, trước khi luân hồi, linh hồn đă thấy qua tất cả cảnh bất công, sự đau khổ mà ḿnh sẽ phải chịu. Nhưng với sự sáng suốt, linh hồn thấy, dù trong đau khổ, ḿnh sẽ gặt được cái Chơn Hạnh Phúc ở tương lai. Mỗi lần đầu thai là mỗi lần tăng thêm sức mạnh, là mỗi lần bỏ cơi thấp mà lên cơi cao, để tạo sự vinh quang, đẹp đẻ cho Thần hồn.

     Bà A. Besant có nói một cách lư thú như vầy: “Với cái tương lai sáng lạng ấy, th́ sự đau khổ tạm thời, sự đen tối của đời bạc phước, há có ra ǵ?”.

Vậy, tại cơi Thượng Thiên, Chơn Nhơn đă có can đảm tự nguyện đặt ḿnh vào hoàn cảnh éo le, rắc rối, để hối cuộc tiến hóa của ḿnh tại cơi trần, bằng cách mở nền đạo đức, và cơ năng tinh thần. Nhưng v́ cái óc xác thân không nhớ đặng ư nguyện của ḿnh thuở trước, lại rên siết, khóc than, trách trời, trách đất, và trách người; chớ có dè đâu ḿnh cố ư tự đặt ḿnh vào cảnh huống!

 

CHƯƠNG THỨ SÁU MƯƠI HAI

III.    Xác trẻ con với Luân hồi

     Ở trước ta có nói rằng: cái xác của anh nhi (lúc trong bào thai) giống y theo cái khuôn của cái phách làm bằng chất tinh khí. Nhờ bốn vị Thiên Thần Devarâjas tạo ra cái khuôn nầy. Trước khi sanh đứa nhỏ một ít lâu, th́ Chơn nhơn mới xuống ở cái nhà mới của ḿnh. Thiên Thần, khi ấy, vẫn c̣n ở gần đứa nhỏ, có khi chờ nó đến 7 tuổi mới chịu ĺa.

     Trong thời kỳ ấu trĩ, lúc Thiên Thần c̣n ở với đứa nhỏ, th́ Chơn Nhơn không có hoạt động chi được nhiều; thật ra Chơn Nhơn vẫn liên kết với xác thịt, nhưng v́ xác thịt c̣n non, nên nó ít quan tâm đến. Nó đợi cái xác trưởng thành, có thể lư hội đặng với nó, nó mới giúp được nhiều. Trong lúc thai dựng, xác thịt anh nhi nhờ máu thịt của mẹ tạo ra.  Chơn nhơn đứa bé cũng chăm nom đến người mẹ nó, nhưng nó không thể sửa đổi h́nh dạng cái xác tương lai của nó đặng. Tỷ như nó thấy cái xác của nó xấu xa, tàn tật, nó cũng cam chịu. Chơn Nhơn của bào thai biết rơ vị trí, chớ bào thai không biết đặng cảnh huống của nó, nó chỉ cảm đặng sự sống của nó và của người mẹ nó mà thôi. Nó giao cảm đặng một cách trực tiếp những nỗi vui mừng, lo sợ, hay ham muốn của mẹ nó. Chơn Nhơn thấy nó đang nhiễm những tật xấu của mẹ nó một cách vô t́nh, nhưng không thể ngăn cản ǵ đặng: bởi nó không thể tiếp được ư thanh cao của Chơn Nhơn.

     Trải qua nhiều năm kinh nghiệm, phàm nhơn mới trực tiếp lần lần với Chơn Nhơn.  Bằng cớ là khi Chơn Nhơn trực tiếp với cái xác, th́ óc trở nên linh động nhiều hơn. Có Chơn Nhơn lại lo lắng cho xác thịt rất nhiều. Có Chơn Nhơn lại lơ đăng.

    C̣n trường hợp của các vị tấn hóa cao (như các đệ tử Tiên gia, các vị Thánh nhơn, hiền triết, các bậc địa tiên) th́ lại khác: bởi quả báo ở trần không c̣n nặng nữa, nên không đem lại cái ảnh hưởng xấu xa, làm trở ngại sự cấu tạo cái xác. V́ vậy mà xác thịt được tốt đẹp, mảnh mai vô cùng, chỉ trừ một vài ảnh hưởng di truyền mà thôi.

    Cái xác thịt của ta, v́ già yếu, bịnh hoạn, suy nhược; ăn uống vô độ, hay gặp phải tai nạn mà yếu ṃn đi, rồi chết.

     Chớ c̣n xác thịt địa tiên th́ khác: nó giỏi chịu đựng, và có khả năng làm việc nhiều.  Nếu địa tiên bỏ nó trong kiếp nầy, th́ kiếp sau lại làm cái khác cũng giống như vậy mặc dầu đầu thai làm người của một giống dân khác. Sở dĩ, cái xác ta, kiếp nầy khác với kiếp trước, là tại ta bị ảnh hưởng của quả báo. Nếu nhơn loại tiến hóa cao, th́ sẽ đầu thai làm giống dân thứ bảy của giống dân chánh thứ năm. Chừng ấy, cái xác thịt sẽ tốt đẹp vô cùng (xin xem lại đoạn giống dân).

     Người ta thường nói: “phải đợi con nít được bảy tuổi, nó mới mở trí khôn, hay là Chơn nhơn phải đợi bảy năm mới chi dụng xác thịt”.  Cái lẽ nầy chỉ thuộc về sinh lư mà thôi. Trên đầu đứa trẻ như có nhiều tế bào tựu lại, nhưng không chia nhỏ ra như các tế bào khác. Chúng nó rời rạt với nhau như vậy rất lâu. Một ngày kia, tức là đứa nhỏ được 7 tuổi, chúng nó sẽ chia nhỏ hơn và túa ra, rồi nối liền lại thành nhánh, làm ra một đường vận hà vô cùng tinh tế; chừng đó đứa nhỏ sẽ biết suy nghĩ ít nhiều.

     Những nhà tâm lư học và sinh lư học đều lưu ư đến điều nầy và cho rằng: bao giờ con đường vận hà ấy chưa thành, th́ đứa nhỏ không thế nào xét luận đặng, vậy không nên ép nó học sớm quá, hoặc bắt nó suy nghĩ sớm quá. Nhà khoa học lại chứng chắc rằng: “Trí khôn và đường vận hà nầy đồng mở một lượt”. C̣n nhà Bí Học lại cho rằng: “Hễ khí cụ đàng hoàng, th́ trí khôn sẽ tỏ hiện, bất kỳ là mấy tuổi: v́ trí khôn đă sẵn có.  Chơn Nhơn phải chờ có cái óc có đủ cơ năng, mới biểu lộ đặng sự quang minh của nó tại cơi trần”. 

     Ở trên, ta thấy lúc Chơn Nhơn xuống đầu thai, th́ rút xung quanh hột lưu tánh nguyên tử cái trí và vía những chất khí cơi Thượng giới và Trung giới, để làm ra cái vía và cái trí mới cho đứa nhỏ. Nếu đứa nhỏ không nhờ sự giáo dục của gia đ́nh, th́ cái trí và vía của nó kiếp nầy cũng giống như kiếp trước. Nếu trái lại, đứa nhỏ nhờ cha mẹ khôn ngoan, đạo đức, biết d́u dắc nó vào đường lành, th́ những tánh xấu của nó kiếp xưa sẽ yếu lần và tánh tốt của nó sẽ phát triễn. Nhơn đó, mà những nước văn minh, người ta lấy sự giáo hóa trẻ con làm vấn đề trọng đại: người ta lo từ trong bụng mẹ, đến lúc sanh ra, biết ăn, biết nói, biết suy gẫm. Người ta lo tạo nền đức hạnh cho nó từ lúc bé thơ. Người ta viết nhiều sách vở, người ta hô hào trên diễn đàn cũng không ngoài vấn đề giáo dục nhi đồng! Người ta khuyến khích kẻ làm cha mẹ và những nhà giáo dục nên giúp trẻ thơ mở mang tánh cao thượng, bằng cách chỉ dạy những điều đúng với sự thật, tập nó phân biện, luôn luôn đối với nó bằng một tấm ḷng tử tế, hiền lành, dịu dàng và nhứt là phải thương yêu chúng nó: bởi v́, thật ra, chúng nó cần t́nh thương hơn là vật thực.

     Trái lại, nếu kẻ làm cha mẹ hay các nhà giáo dục lại hung ác, cọc cằn, nóng nảy, th́ sẽ khêu gợi những tánh xấu kiếp trước của trẻ em, làm cho chúng nó trở nên xấu thêm; chúng nó sẽ sanh mưu, thiết kế, sẽ bạo ngược, tương tàn. Cả thảy đều do một phần lớn của những người này. Đừng quá dụng quyền lực của ḿnh đối với trẻ con: v́ sự lạm quyền có thể đem lại cái kết quả khốc hại: trẻ thơ có khi v́ quá sợ mà phát điên, khùng, hay loạn óc v.v… Người nào gây ra tội ác nầy sẽ bị quả báo nặng nề!

     Chúng ta đă nói ở trên: cái xác thịt thai nhi tạo ra trước rồi, lúc gần sanh, Chơn Nhơn mới xuống nhập vào.

     Khi thai nhi đủ h́nh dạng, th́ tế bào cái xác lại hấp dẫn mănh liệt tế bào cái vía đă tạo sẵn (lúc Chơn Nhơn sắp đầu thai). Trước khi cái vía nhập vào xác thịt thai nhi, th́ những tế bào của nó rải rác đều. Nhưng khi nhập vào, th́ 99 phần trăm tế bào của nó lại gom trong xác thịt và chỉ c̣n 1 phần trăm ló ra ngoài, làm hào quang cái vía mà thôi.

     Những tế bào cái trí rút vào cái xác thai nhi một phần lớn, c̣n một phần nhỏ, th́ ló ra khỏi ra khỏi xác, làm hào quang cái trí.

    Cái trí và cái vía cũng tiến hóa theo xác thịt. Bao giờ cái trí và vía hoạt động, th́ đứa bé biết cảm và biết tưởng.

     Nếu tế bào cái trí không thanh, th́ nó càng khắn chặt với tế bào cái vía, và dục t́nh càng thêm mănh liệt.

     Trẻ thơ chưa có cái vía và cái trí rơ ràng với màu sắc đặc biệt; chúng nó vẫn trắng bạch, mặc dầu có màu sắc xấu, tốt kiếp xưa vẫn c̣n in dấu. Nếu trẻ thơ ở vào hoàn cảnh thô bỉ, th́ hai thể nầy sẽ đổi màu xấu, và những tánh độc ác kiếp xưa sẽ nổi dậy. Trái lại, nếu trẻ thơ được ở bên người đạo đức, có giáo dục đàng hoàng, th́ những mầm xấu xưa sẽ bị tiêu diệt, và không c̣n hiện ra trong kiếp tới nữa.

     Trong thời kỳ ấu trĩ, Chơn Nhơn chưa có ảnh hưởng ǵ với phàm nhơn, nó chỉ nhờ cha mẹ giúp nó chủ trị lấy nó. Do đó mà cha mẹ có bổn phận lớn lao đối với tinh thần con ḿnh.

     Những hạ thể: xác, vía và trí của đứa bé thật dễ uốn nắn, dễ rung cảm, nên hấp thụ tất cả sự rung động bên ngoài, mặc dầu xấu,tốt. Vậy cái tương lai trẻ con   một phần lớn   ở trong tay cha mẹ, mà nhiều người làm cha mẹ không thể tưởng tượng nổi cái trọng trách của minh. Đây là một cái thí dụ: một người kia, kiếp trước nghiện rượu; trong vía y đă có ghi dấu nghiện rượu; y có tánh yếu về đó, tuy lúc ở Trung giới, trong thời kỳ dọn ḿnh y đă dứt ư muốn uống rượu. Nếu cha mẹ y là người tốt, đem y vào đường đức hạnh, th́ tự nhiên cái mầm nghiện rượu xưa sẽ mất hẳn.

     Người ta uốn nắn cái xác trẻ thơ rất dễ dàng, như để làm tṛ xiệc. Mà nếu uốn nắn cái vía và cái trí của nó, th́ lại c̣n dễ hơn nữa.

     Theo nguyên lư trên đây, người nào ỷ quyền thề, tiền bạc, hiếp đáp kẻ dưới tay ḿnh, th́ tự tạo một nghiệp quả hết sức xấu xa. Đáng lẽ ǵ họ biết thừa lấy địa vị ḿnh mà giúp ích được bao nhiêu người xung quanh.

     C̣n một điều trọng đại nầy trong nền giáo dục, mà ta cần để ư là: ngày giờ sanh đứa nhỏ rất liên quan mật thiết với ảnh hưởng tinh cầu, nên mới có danh từ: “Ngôi sao bổn mạng”. Chẳng phải ta bị quả xấu là v́ thần lực của ngôi sao xấu xạ đến ta, nhưng tại ta xấu nên mới rút thần lực xấu mà thôi. Bởi cái ảnh hưởng của hành tinh liên quan với đời con người, nên ta cần phải bốc số tử vi của con ta đặng tùy theo bẩm chất của nó mà giáo hóa nó cho trúng đường.

     C̣n về ngày giờ lâm chung, th́ thật ra, không có khoa chiêm tinh nào đoán trúng đặng. Người ta có thể đoán lúc nào suy nhược   có thể đi đến cơi tử   nhưng không lấy đâu làm chắc. Vậy ta chớ để ư đến điều nầy vô ích.

     Sẵn dịp đây, ta nên bàn sơ qua sự sát sanh mạng người, nghĩa là ta diệt sự sống của môt linh hồn tại thế. Giết một mạng người là cướp cơ hội tiến hóa của người ấy dưới cơi trần, mặc dầu kiếp sau y sẽ trở lại nữa; nhưng y phải mất biết bao th́ giờ! Đức Nam Tào Bắc Đẩu phải cực nhọc lập nền tiến hóa lại cho kẻ bị giết.

     Tại sao giết một người lại bị tội trọng hơn giết một con vật? V́ con người có cá tính riêng biệt, có sự tấn hóa riêng biệt và phải tốn nhiều th́ giờ mới đầu thai đặng. C̣n con vật lúc chết rồi chỉ nhập vào Hồn Khóm; sự tiến hóa của thú vật là sự tiến hóa chung của khóm, nên sự đầu thai của chúng nó rất dễ dàng.

     Đối với người tiến hóa, th́ thời kỳ ấu trĩ làm tổn phí ngày giờ rất nhiều. V́ lẽ đó, có một vài linh hồn muốn tránh sự trở ngại ấy, mới mượn xác của vị nào phù hạp với ḿnh, nghĩa là tiến hóa gần đồng chạn với ḿnh. Nên lưu ư sự mượn xác đây chẳng phải như đồng cốt cho vong linh mượn xác. Tỷ như một người kia xác thân, mạnh khỏe, nhưng bị bất đắc kỳ tử, như bị chết ngợp, th́ vị Chơn Nhơn nào muốn mượn xác ấy bèn nhập vô liền và cứ măi luôn luôn trong đấy, cho tới khi bỏ xác mới thôi. Cách mượn xác như vậy cũng có nhiều sự trở ngại. Bởi v́ mỗi người đều có tật riêng, nên hồn của người khác khó phù hợp đặng; mượn xác đứa nhỏ c̣n dễ phù hợp, chớ nếu mượn xác người trưởng thành, th́ khó khăn vô cùng.

    Bởi tạo ra đặng một cái xác thân mất rất nhiều công phu cho người và cho Thần, nên ai, v́ nản chí mà quyên sinh, th́ sẽ gây ra một nghiệp báo chẳng nhỏ ở tương lai! Vậy không nên v́ một lẽ ǵ mà phải tự tử, để đoản đời sống của ḿnh tại thế gian. Chỉ trừ một vài trường hợp bất thường hết sức quan hệ cho nước nhà (như sự tử tiết của ông Phan thanh Giăn chẳng hạn) th́ tất cả sự tự tử đều đáng trách.

  

CHƯƠNG THỨ SÁU MƯƠI BA

Luật Nhân Quả

Qui aufrefois peina esclave,

Peut revenir en tant que prince,

Pour sa dignité douce et son mérite acquis.

                   *

Qui règna comme roi,

Peut errer en haillons,

Pour des actions commises ou omises.

 

(La Lumière de L’Asie)

Thân nô lệ, kiếp xưa phải trả,

Dưới roi cùm, ḷng chả trách than..

Giúp người, giữ vẹn ḷng vàng,

Nay Trời ban phước, sanh hàng Đông cung,

                    *

C̣n ai kia ḷng hung, dạ ác,

Dẫu nay là một bậc Đế vương,

Nhưng sau ắt phải đoạn trường,

Lang thang, rách rưới, trăm đường xót xa,

 

                         NGUYỄN THỊ HAI

 

     Nhà thông thái Emerson hiểu rơ luật nhân quả, khi ông nói rằng: “Mỗi động lực đều đem lại cái phản động lực; động lực và phản động lực không thể chia ly đặng.” Theo ông Emerson, th́ động lực và phản động lực cũng là một.

     Đức Phật Thích Ca có chỉ rơ về nhân quả như vầy: “Không thể nào tách cái nhân ra khỏi cái quả được, cũng tỷ như lúc ta đánh trống, ta không thể chia cái trống riêng ra khỏi tiếng trống đặng. Cái trống đưa ra một tiếng, khi cái dùi khỏ xuống. Khi một việc đă làm, th́ trước đó đă sanh ra cái nguyên nhân động tác rồi. Ấy vậy, cái nguyên nhân động tác đem lại sự động tác, và sự tác động đem lại cái kết quả.

     Mỗi hiện tượng xảy ra vừa là quả vừa là nhân một lượt. Điều nầy người Ấn độ gọi là Karma hay là Nhân quả. Người ta cho Karma là luật căn bản; v́ nhờ nó mới có trật tự, công b́nh và tiến hóa. Bà Annie Besant cũng gọi luật Nhân quả là luật “Hành động và Phản động”

 

NHÂN QUẢ VÀ LUẬT TỰ NHIÊN 

     Người ta không có thể ngờ vực được luật “Động và Phản động” v́ trái banh liệng vô vách tường, th́ nó dội lại, hễ liệng mạnh th́ nó dội mạnh, liệng nhẹ th́ nó dội nhẹ. Người nào biết về khoa học, th́ không thể không nh́n nhận đặng luật tự nhiên. Vậy luật tự nhiên là ǵ?

    Luật tự nhiên chẳng phải là cái giới lịnh bắt buộc ta phải làm cái nầy hoặc cái khác, nó chỉ đưa ra một dọc nhân và quả nối tiếp theo thứ tự nhứt định. Đối với khoa học, th́ luật tự nhiên nầy căn cứ ở sự quan sát và khảo cứu; chúng nó chỉ là những hiện tượng nối tiếp với nhau mà thôi.

     Về tư pháp th́ ai làm ra luật?

       Có thể vua và các nhà lập pháp. Các luật nầy là những lịnh truyến, ai bất tuân phải bị phạt. Sự h́nh phạt nầy tăng, giảm là tùy ở quan ṭa chiếu theo trường hợp nặng nhẹ.  Vậy sự kết án và luật án có lắm khi không đi đôi với nhau. Chớ c̣n luật tự nhiên không thế dời đổi. Nó không phải luật bó buộc, nó để ta tự do hành động. Nhưng hễ phạm đến nó, th́ bị khổ, không một mũi kim qua lọt. Tỷ như trồng khoai, th́ được khoai, trồng đậu th́ được đậu. Nếu ta muốn gặt đậu, th́ chớ trồng khoai. Đó là luật tự nhiên. Thánh nhơn có nói rằng: “Luật tự nhiên không nên phạm: bởi v́ sự liên lạc giữa nhân và quả không thể sửa đổi đặng, các anh chớ hờ hửng, người ta không thể bỡn đặng với Đấng tạo hoá.  Hễ “Chưởng qua [[23] th́ đắc qua, c̣n chưởng đậu th́ đắc đậu”.

     Ấy vậy, luật nhân quả chẳng phải là một luật áp chế; nó dạy cho ta biết những điều kiện nào phải giữ để tạo thành một quả tốt và để tránh quả xấu. Tức là ta chuyển bại thành thắng, chuyển họa di phước vậy.

     Người hiểu đặng luật nhân quả, th́ rán kiểm soát những hành vi, để chuyển xấu ra tốt, chớ chẳng bao giờ chịu bó tay trước những luật tự nhiên: bởi v́ con người tự định số mạng của ḿnh.

Luật tự nhiên không hề ban thưởng hay h́nh phạt. Cái hành động không hay, th́ đem đến cái kết quả không hay. Bởi cái nhân xấu, th́ cái quả tự nhiên phải xấu, chớ chẳng phải có Đấng cao cả nào thưởng phạt ḿnh. Cũng như ḿnh đút tay vô lửa, th́ bị phỏng, chớ có ai phạt ḿnh đâu.

     Ấy vậy, người hiểu biết, th́ không làm nô lệ cho ngoại cảnh, mà lại dùng phương pháp khéo léo để ngăn cản những cái kết quả không hay và đi lần đến mụch đích. Ta biết rằng: trong trời đất, vạn vật đều tuân theo luật thăng bằng và luật điều ḥa. Nếu ta làm mất sự thăng bằng và điều ḥa, th́ tự nhiên tạo vật sẽ phản động lại, để được quân b́nh và điều ḥa như trước. Khoa học gọi đó là: “Luật Quân B́nh”. Ấy vậy trong vơ trụ không có chi mất đặng: v́ hễ mất đó, th́ sẽ được hườn đó.

     Cái luật tự nhiên nầy, nếu nhà khoa học cứ lấy triệu chứng hữu h́nh mà giảng giải một cách khô khan, th́ có thể đem lại sự ngờ vực trong ḷng người c̣n chưa hiểu biết.  Người ấy sẽ tự nói rằng: “Bởi đó là luật tự nhiên, th́ tôi cần chi rán sức làm thế nầy hoặc thế khác?”

     Tỷ dụ như khi ta giải về luật dẫn lực ta cho rằng: tất cả đồ vật, đều luôn luôn bị rút vào trung tâm trái đất. Nếu ta không giải thêm nữa, th́ người chưa hiểu biết sẽ ngồi tại nấc thang lầu mà nói rằng: “Bởi luật dẫn lực ngăn không cho tôi xa mặt đất, vậy tôi làm sao bước lên thang lầu được?” Người đang nói đây rất có lư, nhưng y không chịu suy nghĩ thêm xa chút nữa; đành rằng: luật dẫn lực rút y vào trung tâm trái đất, nhưng trong ḿnh y lại có một động lực khác (do bắp thịt của y) nó phản đối lại, khiến cho y có thể ĺa mặt đất và đứng trên cao đặng. Đó cũng là một nguyên lư căn bản đáng chủ ư, để hiểu luật nhân quả. Mặc dầu bị luật hấp dẫn rút vào trung tâm trái đất, nhưng ta có thể dùng mănh lực tự nhiên trong người của ta, mà làm trái ngược lại. Đó chẳng phải là ta vi phạm luật tự nhiên đâu; ta biết cái mănh lực của nó, nên ta rán sức để chống lại. Sự chống lại nầy tức là nhận thức theo nhà khoa học rằng: “Một luật tự nhiên không thể vi bội”.

     Ta tự do hoạt động dưới luật tự nhiên tùy theo sự hiểu biết của ta. Ta có thể tin cậy vào nó, v́ nó không dời đổi, ta có thể chi dụng năng lực của ta mà chủ trị vạn vật theo lời nhà khoa học nói: “Nhờ sự khuất phục mà thắng đặng vạn vật”.

     Ta đă nói luật tự nhiên không cưỡng bách con người phải theo nó, v́ con người không phải là nô lệ. Con người sống giữa sự biến chuyển của các thứ thiên lực và năng lực; con người phải t́m hiểu, phải suy gẫm, và nhờ sự thông hiểu mà con người chi dụng chúng nó để làm dụng cụ cho tinh thần. Được vậy, th́ phải rơ ba định luật phụ thuộc nầy :     1.    Tư tưởng tạo ra tánh t́nh: ta tưởng thế nào, th́ ta là thể ấy.

     2.    Sự vọng ước đưa con người đến vật vọng ước.

     3.    Sự sướng hay sự khổ của ta vốn là kết quả của sự sướng hay sự khổ mà ta đă làm cho người khác.

     Nếu con người biết đặng ba định luật phụ thuộc nầy, th́ sẽ cầm đặng tương lai ḿnh, và sẽ làm chủ nhân số mạng của ḿnh.

 

NHÂN QUẢ VÀ KHÍ LỰC

     Hễ con người càng hiểu biết nhiều, th́ càng thấy rơ những thiên luật chi phối thế gian. Mỗi thiên luật, một khi được phát giác rồi, th́ đều lại cho ta sự tự do hoạt động, chớ chẳng phải một sự cưỡng chế như ta vừa thấy thoáng qua. Vậy tác động là ǵ? Là cái kết quả của các mănh lực bên trong, thuộc về giới t́nh cảm và tư tưởng. Chi nên con người cần phải biết định luật để chủ trị hai giới nầy. Thông thiên học chỉ cho ta thấy rơ định luật của sự động tác, cho ta biết căn cội của đời sống bên trong, để chế ngự hoàn cảnh, chớ chẳng phải cúi chịu cho hoàn cảnh chế ngự lại.

     Khoa học hiện đại đă làm cho ta quen với ư niệm nầy là: toàn thể vơ trụ chỉ là hiện tượng của khí lực. Khí lực có thể biến đổi ra điển khí, nhiệt lực và từ điển v.v… Điện tử là kho chứa khí lực nhỏ, Ngôi mặt trời là kho chứa khí lực lớn. Trong trời đất, tất cả sinh linh (từ khoáng vật, thảo mộc, thú cầm cho chí con người) đều là kho chứa khí lực: bởi v́ chúng nó làm bằng những tế bào, mà những tế bào là do nguyên tử làm ra. Khoa học phân tách cho ta thấy mỗi nguyên tử gồm có hai phần:

     1) “nhân” chứa dương điện tử, tỷ như mặt trời.

     2) chung quanh “nhân” có những hột âm điện tử xây tṛn, tỷ như các hành tinh xây chung quanh mặt trời.

     Khoa học c̣n cho ta biết rằng: Vật chất là khí lực. Một khi khí lực hiện ra, th́ có một số vật chất tan mất.

*

     Vậy con người là kho chứa khí lực: lúc ăn là lúc thâu khí lực; đồ ăn sanh ra sự vận hành, sự vận hành sanh ra khí nóng, khí nóng sanh ra khí lực. Khi khí lực dùng vào chuyện phải, chuyện lành, th́ nó là cái ân huệ, khi nó dùng vào chuyện quấy, chuyện ác th́ nó là cái tai hại. Trọn đời con người giống như một cái máy biến điện. Thiên lực túa xuống trong ḷng người, và tùy người biến đổi và làm cho nó trở thành “tốt”hay “xấu”.

     Cái luật nhân quả để thuyết minh sự liên quan giữa nhân và quả, một khi mà con người đă biến đổi cái khí lực nầy. Cái luật nhân quả chẳng những chi phối thế giới hữu h́nh, mà c̣n chế ngự thế giới vô h́nh, rộng lớn bao la, chứa đầy năng lực. Cái thế giới vô h́nh nầy, chính là nơi hoạt động thật sự của loài người. Cũng như khi ta nheo mắt, ta phóng ra một điển quang chạm sự quân b́nh của các mănh lực khác ở cơi ngoại giới, th́ mỗi tư tưởng mỗi t́nh cảm đều biến đổi địa diện của vơ trụ, và trái nghịch lại, địa diện vơ trụ cũng có ảnh hưởng đến tư tưởng và t́nh cảm con người.

     Tỷ như ta đấm trên không một cái, quả đấm mặc dầu không đụng chạm ai, nhưng khi ta đấm, ta phóng ra một cái lực đụng với cái lực khác, làm cho mất sự thăng bằng của chúng nó. Chúng nó sẽ phản động, đặng trở lại mực quân b́nh cũ. Hiểu như vậy, th́ ta có thể nói: mỗi lần ta tưởng, ta cảm, hay làm một chuyện chi, th́ ta sửa đổi vị trí của ta đối với vơ trụ và vị trí của vơ trụ đối với ta.

     Khi ta rán t́m hiểu nhân quả là ǵ, th́ cái nguyên lư thứ nhứt phải để ư là: ta đang chạm đến vấn đề khí lực và những cái kết quả của nó; nghĩa là ta đang học về cái nhân để đi đến cái quả. Cái khí lực nầy thuộc về cơi trần hoặc cơi t́nh cảm, hoặc cơi tư tưởng. Ba thứ khí lực nầy được con người đem ra áp dụng: xác thịt chi dụng khí lực thứ nhứt (thuộc về cơi hồng trần) t́nh cảm chi dụng khí lực thứ nh́ (thuộc về  cơi Trung giới), tư tưởng chi dụng khí lực thứ ba (thuộc về cơi trí). Khi ta thả hồn theo mơ mộng, hay đem tâm trí mà phú dâng cho Đấng Thiêng Liêng, hoặc khi ta tính toán, nghĩ suy, cảm động hay thi hành một việc ǵ, th́ chính là lúc ta đang sử dụng khí lực của ba cơi kể trên. Nếu ta biết sử dụng một cách chánh đáng, th́ ta giúp cơi Trời, bằng ta sử dụng một cách ích kỷ, th́ ta làm trở ngại Thiên Ư. Cái khí lực mà ta áp dụng trong mấy cơi đây, tức là Thần lực của Trời. Ấy vậy, quả thật ta là cái máy biến điện của Thần lực nầy. Thiên Ư muốn ta giúp cơ Tiến Hóa của Trời. Khi ta giúp cơ Trời được mau thành tựu là ta làm “phải”.  C̣n khi ta làm trở ngại Thiên Cơ là ta làm “quấy”. Và bởi ta luôn luôn áp dụng Thần lực của trời, nên mỗi phút, ta đang giúp đỡ hay làm trở ngại Thiên Cơ.

     Con người chẳng phải là một cá nhân riêng biệt, mà là một phần tử của muôn vạn sinh linh; là một đơn vị của nhơn loại; mỗi tư tưởng, mỗi hành vi, hay mỗi t́nh cảm của người nầy đều chạm đến tất cả người khác, mà hễ lân cận chừng nào, th́ chạm nhiều chừng nấy. Mỗi lần ai sử dụng Thần lực Thiêng Liêng nầy để giúp đỡ hay ngăn cản bước đường tiến bộ của toàn thể, th́ luôn luôn tạo ra một cái Quả, xấu hay tốt.

     Đồ h́nh số 70, ta thấy sơ qua những cái kết quả của sự áp dụng Thần Lực trong đường phải hay quấy. Những h́nh đen là những quả xấu; chúng nó làm mất thăng bằng giữa nạn nhơn và vơ trụ mà kẻ gây ra phải đền lại sự thăng bằng nầy, chớ ngoài y ra, không ai khác làm đặng. Vậy ta mới nói đặng rằng: chưởng khoai th́ đắc khoai, chưởng đậu th́ đắc đậu, hễ gieo giống nào, th́ gặt giống nấy. Nếu ta gieo sự ác, th́ ta gặt sự buồn đau; bằng ta gieo sự hiền lành, đạo đức th́, ta gặp sự vui mừng và quả phúc.

 

 

     Lại nữa, trong lưới càn khôn, mỗi thứ khí lực đều hoạt động ở cơi riêng của nó. Tỷ như khí lực thuộc về cái xác th́ vận động tại cơi hồng trần, c̣n khí lực thuộc về t́nh cảm th́ vận động tại cơi Trung giới v. v… Một người kia cho kẻ ăn xin với t́nh thương xót và dạ mến yêu, c̣n kẻ khác lại cho với mục đích che mắt thế gian, hay để xua đuổi một cách nhă nhặn: cả hai người đều làm một việc phải, để đem lại sự “sung sướng” cho người tại cơi trần; nhưng người thứ nhứt thêm một cái quả tốt nữa thuộc về cơi Trung giới, khiến cho y sẽ gặp được một t́nh cảm sung sướng. Con người thứ nh́ không được hưởng thứ t́nh cảm ấy.

     Muốn cho độc giả dễ hiểu điều trên đây, chúng tôi xin dùng biểu tượng của mỗi thứ khí lực (xem đồ h́nh số 70). Trong h́nh ta chỉ thấy ṿng tṛn ngôi sao h́nh vuông và tam giác là những biểu tượng thôi chớ không có chi khác thường. Một đơn vị tại cơi Thượng Trí (ngôi sao) có một sức mạnh 125 lần hơn một đơn vị tại cơi trần (h́nh vuông)

     Trên cơi Thượng Trí, linh hồn ngụ trong Chơn Thân hoàn toàn trong sạch, không có chút ǵ quấy, ác. Trong Chơn Thân, linh hồn chỉ nguyện vọng những điều cao thượng, và chỉ có quan niệm thanh khiết, bởi v́ cái Chơn Thân không thể chứa những ǵ xấu hèn đặng; linh hồn bao giờ cũng trong sạch. Phàm nhơn xấu, chớ linh hồn không thể xấu đặng. Phàm nhơn ngụ trong xác thân, đại diện cho linh hồn dưới cơi trần. Nếu phàm nhơn chưa mạnh mẽ, không có đủ nghị lực chống chỏi với các thứ dục t́nh th́ chỉ tỏ linh hồn c̣n trẻ quá.

     Mỗi người chúng ta sanh ở thế gian đều có mang theo một cái dĩ văng muôn đời, và mỗi khi ta đầu thai trở lại trần lần nữa, ta đều đem theo cái nhân và cái quả xưa. Ấy vậy, cái nhân quả   cũng như đă giải ở trên   chỉ tượng trưng bằng cách ta biến đổi Thần lực Thiêng Liêng ra xấu hay tốt.

     Trong đồ h́nh số 71 ta thấy con người là một căn cứ cho Thần lực xạ xuống. Những Thần lực nầy, có thứ tốt và thứ xấu, do con người đă tạo ra. Ḍm vào đồ h́nh, trước hết có lẽ ta sẽ cảm động mà thấy số “đau đớn”, “buồn phiền” và “khổ cực” nhiều hơn số “vui tươi”, “sung sướng”; lại nữa ta chỉ thấy có ba ngôi sao tượng trưng quan niệm mà thôi.  Song ta đừng quên rằng: những thần lực ở các cơi khác nhau đều có ảnh hưởng mạnh bằng nhau: thần lực thuộc cơi hồng trần đem lại sự sung sướng   có thể ít mạnh hơn một trăm lần thần lực thuộc về cơi trí đem lại một quan niệm. Vậy ta sẽ không nói quá đáng nếu ta cho hệ số sức mạnh của thần lực như sau đây: một đơn vị thần lực hồng trần ít mạnh hơn một đơn vị thần lực trung giới 5 lần ít mạnh hơn một đơn vị thần lực cơi hạ trí 25 lần và ít mạnh hơn một đơn vị thần lực cơi thượng trí 125 lần. Một người nọ có thể bị nhiều quả báo đau khổ, buồn lo, mà nếu y có được vài quan niệm, th́ đời y cũng không đến đỗi ǵ, y sẽ làm nên việc  trong ṿng cao thượng; trái lại một người kia, nhờ nhơn quả kiếp xưa, gặp cảnh giàu sang, sung sướng, nhưng không có một quan niệm nào cả, đời sống chỉ trôi chảy êm đềm trong ṿng nhung lụa trần gian; nên hóa ra vô ích và hỏng mất! Thật đáng tiếc thay!

 

 

     TOÁT YẾU.    Trong đồ h́nh 71 ta thấy một cá nhơn với những hiện tượng của tư tưởng tốt xấu do sự động và sự phản động. Những h́nh ngôi sao tượng trưng những quan niệm thanh cao; h́nh tṛn trắng tượng trưng những sự hiểu biết và cảm hứng, h́nh tam giác trắng là tượng trưng t́nh thân ái và sự vui tươi, h́nh vuông trắng tượng trưng sự hiền lành và điều sung sướng. C̣n những h́nh đen là những tánh trái nghịch lại với những đức tánh đă kể trên.

     Trông vào cảnh tượng nầy, ta thấy con người có rất nhiều điểm xấu và rất ít điểm tốt. Như vậy số buồn phiền, khổ cực nhiều hơn số vui tươi, sung sướng.

     Bao giờ con người có tu tâm, sửa tánh, th́ những điểm xấu ấy sẽ hóa thành điểm tốt, và con người sẽ có đặng sự hạnh phúc thật sự.

 

      Ta hăy quan sát đời sống của mọi người xung quanh ta, th́ ta sẽ thấy phần đông đều vất vả, rầu đau mà than rằng:

                                                 “ Cuộc thành bại hầu cằn mái tóc,

                                                 “ Lớp cùng thông như đúc buồng gan.

                                                 “ Bệnh trần đ̣i đoạn tâm can,

                                                 “ Lửa cơ đốt ruột, dao hàn cắt da.

                                                 “ Gót danh lợi bùn pha sắc sậm,

                                                 “ Mặt phong trần nắng nám mùi nâu.

                                                 “ Nghĩ thân phù thế mà đau,

                                                 “ Bọt trong bể khổ bèo đầu bến mê.

         Ấy vậy, nhơn quả người đời xấu nhiều hơn tốt, v́ chưng không chịu sống theo đạo lư, cứ bo bo thu nhặt những điều giả tạm, phù vân, dù cho kẻ khác bị thiệt tḥi cũng mặc. Nhưng mỗi quả báo đều phải trả: bởi v́ “hễ có vay, th́ có trả” mà “gieo giống nào, th́ gặt giống nấy”. Tuy nhiên trong khi “gặt”, th́ luật nhân quả rất cân phân, kỹ lưỡng, để phát một số quả báo vừa sức người, và cũng để cho người sau khi “gặt” xong, được tiến thêm một bước, dù là ngắn. Tỷ như ta đầu thai, ta phải mang theo nhiều quả báo nặng nề   nếu đời ta chỉ toàn là đau khổ   th́ làm sao ta đủ can đảm để chiến đấu ở đời, ta sẽ ngă ḷng,   rủn chí trước bổn phận ; bởi vậy nên luật quả báo xen vào, giữa cuộc đời cay đắng của ta, một vài bông hoa xinh đẹp, để cho ta vui ngắm, mà quên hồi đau khổ.

     Đấng Nam Tào Bắc Đẩu là các vị Thiêng Liêng có trách nhậm cầm cân công b́nh.  Các Ngài không thưởng mà cũng không phạt; các Ngài chỉ sửa chữa cho đúng cách biến đổi khí lực của con người, hầu giúp con người tiến thêm một bước nữa. Những đồ h́nh sau đây sẽ chỉ cho ta thấy sự sửa chữa của các Ngài.

     Ông C. Jinarajadasa tượng trưng số nhân quả của một cá nhơn bằng một ṿng tṛn như dưới đây:

     Ṿng tṛn số 72 tượng trưng tổng số nhân quả của một cá nhơn, (nghĩa là thần lực đang vận chuyển trong ranh giới ấy). Ṿng tṛn có hai cung h́nh: cái trắng và cái có bóng tối. Cung h́nh trắng tượng trưng số quả tốt, c̣n cung h́nh có bóng tối tượng trưng số quả xấu. Ta phỏng đoán tổng số nhân quả của một cá nhân kia là 100 đơn vị: cung h́nh trắng có 40 đơn vị, c̣n cung h́nh có bóng tối có 60 đơn vị. Một trăm đơn vị nầy là những số nhân quả tiền kiếp mà người Ấn gọi là Sanchita.


 

 

     Đồ h́nh số 72 tượng trưng tổng số nhân quả xấu và tốt của một cá nhơn mà ta gọi là “Cọng Nghiệp”; Ṿng cung trắng là số nhân quả tốt. Ṿng cung đen là số nhơn quả xấu. Tỷ như trong một kiếp con người phải hưởng hoặc trả một phần tư của tổng số nhân quả là 25 phần trăm. Trong 25 phần trăm ấy, có số quả tốt là (10.7 đơn vị) ṿng cung e c a : số quả xấu là (14.3 đơn vị) ṿng cung a c d  Số quả xấu gần bằng quả tốt nên kiếp nầy con người cực khổ và sung sướng gần bằng nhau.

    

     Cái Cọng Nghiệp đó có tốt lẫn xấu, nhưng phần đông, ta đều gây quả xấu, nhiều hơn quả tốt. Nếu ta phải trả hết bao nhiêu nghiệp quả trong một kiếp, th́ ta sẽ thất bại, v́ rằng: ta chỉ có 60 phần trăm quả xấu mà chỉ có 40 phần trăm quả tốt mà thôi. Nếu quả xấu dồn dập quá, xác thân ta chịu không nổi phải bỏ cuộc nửa chừng. Bởi đó, Tạo Hóa có cách sắp đặt mọi việc cho ổn thỏa, nên trong tổng số nhơn quả nầy,  Đấng Nam Tào Bắc Đẩu mới rút ra một mớ để cho con người trả trong một kiếp ở dưới trần mà ta gọi là “Định Mạng”. Ta phỏng đoán Ngài rút ra một phần tư (100/4=25) tượng trưng bằng cung h́nh e c d. Trong cung h́nh e c d, có hai cung h́nh nhỏ là e c a  (là số quả tốt có 10, 7 đơn vị) và a c d, (là quả xấu có 14,3 đơn vị). Ta thấy số quả xấu và số quả tốt gần bằng nhau, chớ chẳng phải hai phần ba như trong tổng số (Cọng Nghiệp). Điều đó làm cho kiếp sống con người hưởng quả tốt nhiều hơn số ḿnh được hưởng. Ấy vậy, quả báo mà mỗi người mang theo nội kiếp nầy (chẳng phải là cộng nghiệp) mà ta gọi là định mạng hay là định nghiệp. Người Ấn Độ gọi nó là Prarabdha (hay là quả báo hiện tại mà Trời máng vào cổ mỗi người khi đi đầu thai, theo người Hồi giáo nói). Và ta phải làm thế nào cho trong một kiếp, ta phải trả cho dứt hết bấy nhiêu quả đó, không thể trốn tránh được.  Nhưng rủi thay, trong khi trả quả chưa hết, mà hằng ngày, ta lại tạo nên nghiệp khác! Những nghiệp mới tạo nầy sẽ được góp vào khối Cọng Nghiệp (đồ h́nh số 72). Đó chính là ta tạo nên định mạng cho ta; chớ ngoài ta ra, không có ai cả. Và định mạng không phải là một cái số kiếp chặt chẽ, bất di, bất dịch. Định mạng nằm trong tay ta, tức là ta có thể dùng ư chí mà sửa đổi lại cho dỡ hoá ra hay, xấu trở nên tốt được.

     Trong đồ h́nh số 73 ta thấy số quả báo tốt ở cung h́nh f  h i g, c̣n quả xấu ở cung h́nh f h g : cả hai gần bằng nhau.

 

 

     Đồ h́nh số 73 tượng trưng cái định nghiệp (Prarabdha) tức là số quả báo phải trả và được hưởng trong kiếp nầy. Cung h́nh f h g i là số quả tốt. Cung h́nh f h g là số quả xấu.

 

     Như ta đă nói ở trước, nhân quả là khí lực hay thần lực; hễ thần lực vận chuyển, th́ sanh ra “động tác”. Động tác của con người gồm có “động” và “phản động”. “Động” và “phản động” đem lại cái kết quả trong đồ h́nh số 72. Con người càng già, th́ số quả báo càng ṃn. Nhưng sự động tác của con người lại dệt ra số quả báo mới, xấu hay tốt, tùy ở con người hành động theo Minh Triết hay Vô Minh. Nếu con người chịu đau khổ với sự nhẫn nại và nhơn ái và nếu sự buồn lo xui cho con người chữa lại lỗi lầm xưa, th́ con người trả quả một cách hiểu biết và khôn ngoan; số quả báo dệt ra trong kiếp nầy sẽ tốt đẹp. Trái lại, nếu trong lúc trả quả mà cằn nhằn, cự nự, than Trời, trách đất, gây thảm khổ cho những người xung quanh, th́ tức là y đang dệt số quả xấu cho tương lai. Vậy người hiểu biết, hễ trả quả, th́ quả sạch; c̣n người không hiểu biết, hễ trả quả, th́ quả lại c̣n! Ôi! đáng tiếc thay!.

      Số quả đă gây trong kiếp nầy gọi là Agâmi hay là Kriyamâna nghĩa là quả báo vị lai.  Đồ hinh số 74 tượng trưng số quả báo vị lai; nó lớn hơn đồ h́nh73. Khi con người chết rồi (theo phỏng định ở trước) th́ 25 đơn vị quả báo (có tốt có xấu) đă tiêu. Bây giời ta hăy phỏng định lần nữa, để dễ bề giải nghĩa. Tỷ như người ấy, trong khi trả hết quả xưa, lại gây thêm quả mới, tới 36 đơn vị. Nếu hai đồ h́nh 74, 73 chồng lên nhau (đồ h́nh 75) th́ ta thấy đồ h́nh 74 lớn hơn đồ h́nh 73, 20 đơn vị. Nhưng số quả tốt lại nhiều hơn số quả xấu. Nếu đem số quả nầy nhập chung với tổng số, th́ ta sẽ thấy tổng số được tăng (đồ h́nh số 76). Tuy nhiên số tăng rất đa thiểu. Bao giờ con người chưa hiểu đặng cơ Tiến hóa, th́ số quả báo không mấy ǵ thay đổi. Nhưng chỉ lúc con người ngưỡng về Trời, th́ quan niệm thanh cao, muốn giúp Thiên Ư, chẳng phải sống cho ḿnh, mà sống cho kẻ khác, th́ chừng ấy, con người bước tới hết sức mau lẹ và tiến hóa theo kỷ hà cấp số.

     Bây giờ ta thấy rơ rằng: mỗi người sanh ra đều đem theo số mạng ḿnh tức là số nhân quả của kiếp hiện tại. Cha mẹ, vợ con, những người lân cận, với tính di truyền, chức vụ đều tạo ra cái số mạng ḿnh, số mạng đă định sẵn và những thần lực đang vận chuyển về một căn cứ, nhưng không có định trước cách trả quả như thế nào, nghĩa là số mạng không bắt buộc con người phải hành động, cách nầy hay cách khác. Dẫu con người có một chút điểm nghị lực nào, th́ nghị lực ấy cũng được phát triển tự do.

     Có khi trong lúc ta chống lại với số mạng, ta có thể tạo một quả tốt. Thật ra xung quanh ta có biết bao nhiêu là trở lực: nào là hoàn cảnh, nào là gia đ́nh, nào là xă hội, nhưng trong ḷng ta có cái ảnh hưởng thiêng liêng luôn luôn tỏ rạng; và nếu ta can đảm lên, th́ nó sẽ giúp ta cộng tác với Trời, chớ chẳng phải là một chướng ngại cho Thiên Cơ.  Nếu có một người sa ngă, th́ những kẻ xung quanh, đă tạo ra hoàn cảnh ấy, sẽ đồng chia quả với y.

 

 

        Đồ h́nh số 74 tượng trưng số quả báo vị lai. Tỷ như cá nhơn ấy không biết tu hành, trong khi trả quả xưa, th́ lại gây thêm nghiệp mới. Nếu ta sánh hai cung h́nh quả xấu trong hai đồ h́nh 73 và 74 (xem đồ h́nh số 75) th́ ta sẽ thấy cung h́nh  k h j (số 74)  lớn hơn cung h́nh g h f  (số 73) 20 đơn vị.

     Đồ h́nh số 75 tượng trưng hai đồ h́nh 74 và 73 chồng lên nhau để xem số nhân quả xấu có trội lên chăng.  Kết quả là quả xấu trội 20 đơn vị. 

 

     Ta đă nói Đấng Nam Tàu Bắc Đẩu tùy theo cọng nghiệp mà định số mạng cho ta, vậy ta nên hiểu phải tuân theo nguyên lư nào? Đồ h́nh số 77 chỉ cho ta thấy sơ lược những nguyên lư đó. Các Đấng Nam Tàu Bắc Đẩu phải dùng tổng số quả báo của con người, để định số mạng, các Ngài không tăng hay giảm: v́ công b́nh là luật của các Ngài.  Một người kia, trong nhiều tiền kiếp, có nhân quả đối với một số người, với một dân tộc với một quốc gia nào, th́ các Ngài cho y đầu thai tại đó để trả quả. Nhưng các Ngài cũng không quên rằng: kiếp sống của y tại thế là một phút trong đời vô tận, và một ngày kia y cũng sẽ thành một vị Chơn Tiên toàn năng, toàn thiện, giống như h́nh Kiểu Mẩu th́êng liêng (hay Nghi H́nh) mà Đức Thượng Đế đă tạo ra trong trí Ngài. Chi nên các Ngài t́m cách sửa chữa hoàn cảnh của y, cho hạp với nhơn quả, để giúp y càng ngày càng giống với cái Nghi H́nh ấy!

     Những hành vi con người đều tùy thuộc với xác thân một phần lớn; nhưng bởi cái xác thân là do cha mẹ tạo thành, nên sự di truyền là mối trọng đại trong sự trả quả. Các Đấng Nam Tàu Bắc Đẩu mới dùng những “quang năng di truyền” mà đặt ra số mạng con người.

 

  

     Đồ h́nh số 76 tượng trưng cái kết quả của một số quả báo trong một kiếp qua.  Ḍm vào ta thấy cá nhơn ấy đă không tạo thêm phước mà c̣n gây thêm tội, v́ trong cộng nghiệp lại thêm vào 20 đơn vị xấu nói ở trước (đồ h́nh số 74.)

 

 

     Đồ h́nh số 77 chỉ rơ “ Luật Nhân Quả”.

     TOÁT YẾU.     Luật nhân quả tác động trong ba cơi: cơi vật chất, (thuộc về hành động tại cơi trần) cơi t́nh cảm và cơi tư tưởng. Trong mỗi cơi đó, sự hành động của ta đều mang lại những quả báo tương đương. Trong cơi vật chất, sự hành động thiện hay ác của ta đem lại hai loại quả báo; hễ ta làm việc thiện, ta sẽ được cái quả sung sướng về vật chất; c̣n khi ta làm điều ác, th́ ta sẽ bị cái quả đau đớn về xác thân.

     Trong giới t́nh cảm, ta luôn luôn thương hay ghét. Khi ta thương yêu, ta sẽ được cái quả tốt là người khác sẽ thương lại ta. C̣n nếu ta ghét bỏ ai, th́ ta sẽ gây nên sự thù nghịch trong ḷng của kẻ khác đối với ta.

     Sự thiện  cảm của ta sẽ đem đến cho sự vui. C̣n sự thù hằn sẽ mang đến cho ta điều phiền muộn. Trong cơi trí tuệ, ta cũng có những tư tưởng tốt hay xấu. Ta luôn luôn khen tặng hay kích bác, chê bai kẻ khác. Cái quả của sự khen thưởng là ta sẽ gặp đặng nguồn cảm hứng dồi dào. C̣n cái quả của sự công kích, chê bai là ta sẽ gặp sự phiền muộn lo âu.

     Đức Nam Tàu Bắc Đẩu sẽ do ba loại hành động của ta trong giới: vật chất, t́nh cảm và tư tưởng mà định số mạng cho ta. Nhưng thật ra, chính là ta định số mạng cho ta, do luật phản ứng của ba cơi ấy mà tạo ra cái quả báo tương đương.  Song dù ta có xấu mấy đi nữa, một ngày kia ta cũng sẽ thành một vị Chơn Tiên, toàn năng toàn thiện giống như cái Nghi H́nh hoàn hảo mà Đức Thượng Đế đă tạo ra sẵn trong Trí Ngài, trưóc khi sanh ta ra.

 

     Chung qui, vấn đề quả báo gom lại những biến cố xảy ra trong hai cảnh giới: giới vô h́nh và giới hữu h́nh. Trong giới hữu h́nh, ta thấy con người bằng thể xác (mà thể xác là do các quan năng kết thành)

     Những quan năng nầy tiện lợi cho người nầy, mà bất tường cho người khác: người th́ sanh ra với một xác thân đẹp đẽ và tráng kiện, kẻ lại có xác thân xấu xa, tàn tật; người th́ có tai âm nhạc, kẻ lại đui mù, câm điếc. Một gia quyến kia có thể sanh ra bốn người con, một người, th́ khỏe đẹp, c̣n ba người khác lại đui mù! Tại sao họ phải chịu thiệt tḥi như thế?

     Muốn hiểu nổi sự bí mật nầy phải quay về căn cội; trong đó có ba nguyên lư.  Nguyên lư thứ nhứt: con người vốn là một chơn linh bất diệt do Đấng Hóa Công tạo thành. Thiên Thơ có nói rằng: con người sanh tự bao giờ tới bấy giờ, và trải qua không biết mấy triệu kiếp, cái mầm thiêng liêng vẫn có ở trong ḷng người.”

     Con người sống trên thế gian nhiều kiếp; mỗi kiếp con người hành động, suy nghĩ và cảm kích   tức là làm vận chuyển Thần lực xấu hay tốt đối với ḿnh và xung quanh ḿnh, để lần lần hóa thành cái h́nh kiểu mẫu kia. Cây cỏ, thảo mộc cũng có h́nh kiểu mẫu như con người vậy. H́nh kiểu mẫu nầy do tư tưởng của Đức Thượng Đế phác hoạ ra. Mục đích con người sanh xuống thế gian là phải làm nảy nở những thiên lực ẩn tàng, bằng cách làm phận sự của ḿnh cho đúng đắn, trong khi hoạt động dưới trần.

    Mà muốn làm phận sự ḿnh tại thế, th́ cần phải có một cái xác thân. Đấng Nam Tào Bắc Đẩu chiếu theo luật Công B́nh: do quả báo của ḿnh, mà chọn hoàn cảnh, cha mẹ và địa vị của ḿnh dưới thế. Các Ngài chỉ dàn xếp những quả báo xưa cho phù hạp với sự tiến hóa nay, hầu giúp con người thực hiện đặng cái H́nh Kiểu Mẫu của ḿnh. Dẫu các Ngài đặt để con người trong cảnh vui, buồn, các Ngài cũng vẫn có ư niệm nầy: mục đích con người tại thế gian chẳng phải để sung sướng hay khổ cực, mà để thực hiện đặng cái H́nh Kiểu Mẫu ấy. Về sau, con người đạt được mục đích rồi, th́ sẽ hưởng cảnh phúc lạc miên tràng; c̣n hiện giờ con người đang ở vào thời kỳ học hỏi và kinh nghiệm, tức là đang đi trên con đường đau khổ.

     Khi cái thai đă đậu rồi, các Đấng Nam Tào Bắc Đẩu mới chọn những yếu tố cho xác thân phù hạp với linh hồn sắp đầu thai: bởi linh hồn không thể tự ḿnh chọn đặng [[24]]. Nếu linh hồn phải tấn hóa trong đường âm nhạc, th́ các Ngài chọn cho y những yếu tố cần ích như: bộ thần kinh đặc biệt, hai tai dễ thâu thinh. Nếu linh hồn phải tấn hóa trong đường toán học, th́ Đấng Nam Tào Bắc Đẩu cũng cho y những yếu tố cần ích trong lúc thai vừa mới kết tinh. Các Ngài cũng phân phát sự tàn tật cho những ai cần phải tiến hóa trong ṿng đau khổ của sự tàn tật. Với t́nh bác ái vô lượng, với sự Minh Triết tuyệt vời, các Ngài đem quả báo mà ban rải cho người đời, không trái sự công b́nh một ly. Bổn phận các Ngài không phải để làm người vui hay khổ, dữ hay hiền, các Ngài chỉ có trách nhiệm dắt người đến H́nh Kiểu Mẩu mà thôi. Tiện lợi hay trở ngại, vui hay khổ, may hay rủi, là những viên gạch mà linh hồn dùng để cất nhà tạm tại cơi thế gian. Đấng Nam Tào Bắc Đẩu, không tăng hay giảm gánh nặng của người đời; Ngài chỉ giúp con người bước mau trên thang tiến hóa, hầu thoát ṿng sanh tử luân hồi. 

     Tuy nhiên, chớ tưởng rằng: số mạng đă định là quá tuyệt đối, nghiêm khắc và không thể sửa đổi đặng. Con người có thể dùng ư chí mà sửa đổi đặng một phần số mạng ḿnh  [[25]. Tỷ như sự tự tử không bao giờ có số mạng định trước, mặc dầu có nhiều trường hợp xui khiến con người quyên sinh. Theo quan niệm của ta, th́ khi lâm vào cảnh huống, ta phải chống chỏi, chiến đấu, cho qua cơn dông tố, lướt cả sự đau đớn buồn rầu, chớ chẳng để cho chúng nó đàn áp lại. Đối với một người kia bỏ mất cơ hội tốt để tiến hóa cũng y như thế. C̣n trường hợp nầy thường xảy ra là: những người xung quanh xúi làm quấy, sự làm quấy nầy không bao giời định trước ở số mạng. Bổn phận ta phải phân biện, rồi quyết định.

     C̣n một điều đáng chú ư là có nhiều thứ quả báo, một người có thể liên đới với một hay nhiều thứ quả báo, nhưng không phải tất cả một lượt. Thường thường người ta bị liên đới về t́nh thương hay oán hận. Người kia sanh ra trong gia quyến nào sẽ thọ hưởng một mớ quả xấu hay tốt do gia tộc gây ra; c̣n người kia sanh ra trong một nước nào, sẽ thọ hưởng quả báo chung của xứ sở đă gây ra trong mấy thế kỷ về trước. Cũng có thứ nhân quả chung, gọi là nhân quả trong công việc làm của những người cùng một phái   ưa nhau hay ghét nhau. Rồi nhân quả sẽ hiệp họ lại trong kiếp tới, để cùng làm việc chung.

     Vấn đề nhân quả rất bao quát, khó diễn tả trong một bài ngắn như thế nầy. Mấy lời trên đây chỉ là lời sơ khai mà thôi. Muốn hiểu nhân quả cho tận tường phải làm một vị Chơn tiên mới đặng. Nhưng nếu ta rán suy gẫm để hiểu nguyên lư của nhơn quả, hầu cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của ta, th́ là điều đáng làm vậy.

 

                                    

CHƯƠNG THỨ SÁU MƯƠI BỐN

 Luật Nhân Quả

(tiếp theo)

I.    Karma không cưỡng chế ta

     Ta đă nói ở trước Karma là một cái luật tự nhiên. Nhưng ta có thể đi xa hơn nữa mà nói rằng: Nó là Luật Trời, v́ Nó hiện cùng khắp, trong tất cả mọi vật.

     Nhà hiền triết phương Tây gọi là Karma là “Luật Nhơn quả” và xét mỗi sự xảy ra về hai phương diện. Sự xảy ra là một cái kết quả: v́ tự nó có một nguyên nhân; mà nguyên nhân nầy cũng là kết quả của một sự ǵ đă xảy ra trước kia nữa. Sự xảy ra ấy là nguyên nhân: v́ tự nó gây ra một việc mới nữa. Nghĩa là việc ǵ xảy đến cũng vừa là nhân, vừa là quả: quả của quá khứ, mà nhân của tương lai. Cách nối tiếp, liên lạc không dứt như sự nầy với sự kia, vật nầy với vật nọ, được ta gọi bằng một danh từ chung là “Luật nhân quả”. Đó là một luật căn bản nó khiến ta tin chắc rằng: có cái trật tự với sự thăng bằng cùng là cái sức tiến bộ của nhân loại, cứ lần lần bước tới chỗ cao xa măi măi.

     Dù chúng ta có biết hay không, th́ điều nầy cũng cứ xảy ra luôn: mỗi lúc, thân, tâm, trí của ta đều phát sanh ra quả. Ta càng hiểu rơ quyền lực của ta, cùng là ảnh hưởng của các luật tự nhiên, th́ ta càng có thể tạo ra quả theo ư muốn được, nghĩa là có thể tạo quả tốt và tránh trả xấu.

     Karma cũng c̣n gọi là “Luật phát động và phản động”. Phát động và phản động, hai điều ấy cân nhau và chống chọi với nhau. Ta thử ném một vật ǵ, vật ấy liền dội lại, tức là cái phản động lực của vật thể chống trả với cái ném. Hăy liệng, một trái banh thun vào tường, nó liền dội trở lại chỗ ta đứng; sức dội cân xứng với sức liệng.

     Cùng khắp trong vũ trụ, nhà thông thái được gặp cái luật ấy và nhờ đó mà biết trước những kết quả sẽ đến, mỗi khi có tác dụng đến vật chất.

     Trong hai danh từ: “Luật nhân quả” và “Luật phát động và phản động” ta thấy chữ “Luật”. Vậy th́, Luật là ǵ? hay đúng hơn, Luật tự nhiên là ǵ?

     Ở trước ta đă nói: “Luật tự nhiên” là cả một dọc nhân với quả, liên tiếp với nhau, theo thứ tự nhứt định và không dời đổi. Ta có thể rút cái định nghĩa nầy lại làm một cái công thức và nói như vầy: A và B bao giờ cũng kéo theo C. Cọng lại nhiều lực, th́ tất gây thành một kết quả nhứt định. Nhưng đó không phải là một thứ mạng lịnh bắt buộc ta: “Phải làm cái nầy đây” hay “Đừng làm cái kia” hoặc: “Anh phải có A và B, th́ là được C”. Nhưng ta nói “Nếu anh muốn được C th́ hăy gắng mà hợp lại A với B” hay là “nếu anh không muốn gặp C th́ gắng mà xa A và B”; “nếu anh xa A và B, th́ tất nhiên anh sẽ không có C được”.

     Như vậy, ta có thể nói chắc chắn rằng: một cái luật tự nhiên không phải là một mănh lực bắt buộc, hay hạn chế, mà một cái mănh lực giúp ta động tác. Nó dạy ta biết rành các điều kiện phải giải quyết xong, để tạo thành hoặc để tránh khỏi một thứ kết quả nhứt định. Nó cũng cưỡng chế ta, nhưng chỉ cưỡng chế được là khi nào có phản động lực đă đúng kỳ phải đến, không thể không đến được. Cũng v́ các mối nhân quả chằng chịt nối tiếp với nhau một cách tự nhiên như thế, mà người dốt nát phải bó tay chịu bất lực trước các tự nhiên ấy. Nhưng càng được hiểu biết nhiều, th́ ta càng có thể kiểm điểm các thứ động lực của ta gây ra, hầu tránh khỏi những điều kết quả đáng tiếc về sau.

     Người ta nói: “Những luật thiên nhiên không thể cưỡng được là v́ mối giao tiếp, từ nhân đến quả, không thể sửa đổi được. Ta có thể cưỡng đến đâu, mặc t́nh; nhưng rốt lại, luật sẽ bẻ ta, chớ không phải ta sẽ bẻ được luật”. Nếu người kia từ trên chót lầu rơi xuống đất mà mang hại, người ấy có cưỡng luật hấp dẫn đâu; dù y không có nh́n biết luật ấy, chớ cái té đă là bằng cớ rồi. 

     Tóm lại, Karma do Phạn ngữ có nghĩa là “sự hành động” hay là “sự Tác Động” (Action). Mà Hành Động là cái Nhân. Nó gây ra cái Quả. Vậy ta có thể gọi Karma là “Luật nhân quả” hay “Luật phát động và phản động” hay “Luật Tự Nhiên”.

 

II   Karma khởi đầu vào lúc nào?

     Nếu nói là một luật tự nhiên, th́ người ta không thể nói nó đă bắt đầu vào hồi nào, và đến chừng nào sẽ kết cuộc. Phàm ở đâu có những khối vật chất, th́ ở đó tất có lực hấp dẫn. Cho nên hấp lực không bắt đầu vào một lúc nào nhứt định. Hễ khi đă đủ các điều kiện cần yếu, th́ có lực ấy lưu hành luôn, Karma là luật vô thỉ, vô chung, nghĩa là nó không có chỗ bắt đầu, cũng chẳng có chỗ cuối cùng Karma làm điều kiện vững bền cho cái Tinh Thần ở trong vật chất; nó không khởi đầu vào thuở nào: chẳng tắt dứt vào lúc nào, bởi nó là vô thỉ, vô chung vậy.

     Cho nên câu hỏi: “Karma đă bắt đầu vào lúc nào”. Đáng lẽ phải sửa ra câu hỏi nầy: “Karma của một sanh vật nhứt định đă khởi đầu hồi nào?” Người ta mới có thể đáp “Nó khởi đầu chính vào lúc sanh vật ấy nhập vào cơi biểu hiện” [[26]].  Khi Chơn Thần vốn bất diệt, bất sanh, từ bỏ cái cơi không sanh, không tử, mà đi vào cơi có sống, có chết, để chịu mang lấy một lớp áo vật chất rồi, th́ khi đó nó bị nhiều điều kiện chi phối, và phải tùy tùng luật Karma. Cái Karma riêng của nó bắt đầu vào lúc mà nó đặt ḿnh trong những điều kiện chỉ định. Th́ ra, trước hết là cái Karma của Kim thạch, cái kết quả của sức động tác của tinh lực và vật chất bao quanh đối với khoáng vật và sức phản động của khoáng vật chống trả lại. Tác động và phản động ấy kết thành những khoen đầu tiên của sợi dây xích Karma khoáng vật; và cái dây xích nầy sẽ kéo nó sang một cung [[27] riêng nào đó trong loài thảo mộc. Ở loài thực vật, những sự phản động của nó có tánh chất phức tạp hơn, cái lưới nghiệp cũng sẽ rắc rối hơn, và sẽ đưa nó nhập vào một cung nào đó trong loài cầm thú. Ở loài động vật, cái sức cảm giác của nó phát triển mà đem ảnh hưởng trong sự tạo nhân và những điều đau đớn của nó gây cho bạn đồng loại phản động lại nó. Phát động và phản động đều có nối theo vui hay buồn, sướng hay khổ. Như thế, nó lần lần đi đến một Cung riêng trong loài người. Ở đây tuần tự khai lư trí, tăng cường sức mạnh tạo Karma nữa. Động tác của tư tưởng thêm vào động tác của hành vi và cảm giác.  Nhơn thế, mà bên phản động lực cũng được thêm vào một sức mạnh mới, tương đương với sức mạnh của lư trí.

     Nếu người ta chịu nhớ kỹ rằng: Karma chẳng ǵ khác hơn là phát động lực và phản động lực, ứng đối với nhau trên hết thảy các cơi thiên nhiên. Sự ứng đối nầy, hằng có mỗi lúc và cùng khắp; nó c̣n liên quan với bản thể của sự vật. Nó nhớ rơ như thế, th́ nhiều điều khó hiểu sẽ hóa ra dễ dàng. Người ta sẽ hiểu rằng; Karma bắt đầu gây ra kể từ lúc ta nhập vào vơ trụ vật chất: v́ bởi ta nhập vào giữa những điều kiện, mà trong đó Karma hẳn có hành động luôn. Người ta cũng sẽ hiểu rằng: phản động lực đồng tánh với phát động lực. V́ vậy nên khi người nào lầm lỗi điều ǵ, mà trong sự lầm lỗi đă có phát hiện sự suy cảm và hành vi, th́ cái phát động lực tất biểu lộ trong ba cơi: trần gian, dục giới và tư tưởng. Cái phản động lực cũng sẽ biểu lộ trong ba cơi ấy.

     Đáng lẽ cái ư thưởng phạt không nên nói đến, khi người ta nghĩ tới luật Karma. Ví rằng: Ta đứng trước những cái kết quả, những cái thành tích của ta đă gây, chớ không đứng trước những sự thưởng phạt của ai ban cho ta. Sự đau khổ là kết quả của một điều hành vi sai lỗi, trong một cơi nào; chớ chẳng phải là sự hành phạt của ai bắt buộc ta phải mang chịu. Nỗi đau khổ nó cấu xé ta là v́ ta đă chống chọi lại với luật tự nhiên, một cái luật không thể chống chọi được.

 

III.    Luật Karma hạn chế ta đến chừng mực nào?

     Phàm đă mang lớp xác thịt rồi, tất nhiên con người đă tự bó buộc trong những điều kiện, những hạn chế. Cho nên tự nhiên người ta không thể bay được; v́ bằng muốn dạo chơi trong không khí, th́ phải cần đến thứ máy bay mới được. Hễ càng biết rơ các thứ mănh lực tự nhiên bao vây ta đây, th́ càng mở rộng quyền quyền tự do hành động của ta đối với các luật ấy. Nhơn thế, ta mới có cơ giải được sức ngăn trở của những luật nào chống chỏi lại bước đường tiến thủ của ta.

     Nhờ sự hiểu biết, ta có nhiều phương rộng để thoát qua ṿng hạn chế của các điều kiện thiên nhiên nhứt định, và sự hiểu biết của ta càng thâm bác, th́ sự hành động của ta càng có phần tự do hơn.

     Đối với những điều kiện tự nhiên, gọi là Karma, th́ cũng y như vậy. Nó hạn chế sự hành vi của ta, giống như các điều kiện tự nhiên khác. Nhưng ta có thể dùng sự hiểu biết mà trừ sức ngăn cản của chúng nó không? Hoặc cao vượt lên trên chúng nó? Sự hiểu biết càng rộng, th́ quyền lực càng cao.

     Bởi thế, ta mới thấy rất cần học và hiểu những điều kiện Karma, cho quyền tự do của ta cân xứng với sự hiểu biết của ta vậy.

 

IV.    Mỗi người chúng ta đều có gây trong quá khứ một cái Karma riêng

     Muốn được hiểu cái Karma riêng nầy, ta phải chịu những điều hạn chế ǵ? Ta nên hiểu rơ: v́ đó là một vấn đề có quan trọng với sự sống và hạnh phúc của đời ta vậy.

     Ta có thể hiểu rơ được là nhờ học lần lượt sự tác dụng của Karma dưới ba trạng thái: tính t́nh, thuận cảnh, trạng huống, và cùng do ba trạng thái của ư thức, tư tưởng, dục vọng và hành vi.

     Trong cuộc khảo cứu nầy, đừng quên rằng: chính ḿnh đă gây ra cái Karma ấy, bởi tư tưởng, dục vọng và hành vi của ḿnh, và chính ḿnh là cái ư thức ấy đang suy nghĩ, ham muốn và làm việc đây. Người ta thường xét Karma như một sự ǵ nó phản động lại ta, chớ ít khi tưởng rằng: hành vi hiện hữu của ta cũng có hưởng đến điều kiện Karma nữa. V́ ta sửa đổi kết quả tư tưởng ngày trước, bằng những tư tưởng ngày nay, sửa đổi kết quả dục vọng ngày truớc, bằng dục vọng ngày nay, sửa đổi kết quả hành vi ngày trước, bằng hành vi ngày nay.

     Tác dụng của nghiệp duyên chẳng phải là một khối bất động, mà là một cái ư thức sanh hoạt nó phản động lại Karma và chính nhờ sức phản động nầy, mà nó sửa đổi Karma ấy.  a có thể nhận biết cái tánh cách liên tiếp bị động của Karma, nhưng ta không rơ cái động tác ảnh hưởng đến nó, cho nên ta chỉ thấy Karma không trọn, mà ta chỉ thấy nó dưới trạng thái nào.

       Có xét lần lượt ba trạng thái của ư thức: tư tưởng, dục vọng, hành vi, ta mới thấy rơ Karma hạn chế ta đến một chừng mực nào.

     Luật thứ nhứt.   “Người tư tưởng cái ǵ, th́ tất nhiên đồng hóa với cái đó” nói cách khác, tư tưởng đào tạo tư cách. Ta sanh ra với cái tư cách mà ta đă chung đúc bằng tư tưởng trong mấy kiếp trước. Ta không thể tránh khỏi điều ấy. Đó hẳn là một sự hạn chế rơ ràng. Hăy tỷ rằng; ta sanh ra năng lực trí thức tầm thường, th́ cái năng lực nầy th́ sẽ hạn chế sức học của ta. Ta phải để 3 giờ học cái bài; mà người lân cận của ta, thông minh hơn, chỉ mất mười phút. Để bù cái khiếm khuyết ấy, ta cứ luyện tập luôn và theo thời gian ta làm được giỏi hơn, thạo hơn. Lần lần những bờ rào hạn chế, nó riết ta, sẽ lui ra xa: sức sáng tạo của tư tưởng sẽ cải thiện tài năng của ta. Đó là ta nhờ chuyên cần luyện tập.

     Như thế, ta thấy Karma truyền lại cho ta những món nợ trong quá khứ làm thành những hạn chế trong hành vi; mà nếu ta đă quyết hạ các bờ rào hạn chế ấy, th́ Karma không thể giam cầm ta lâu được. Nhưng khởi đầu, ta phải chịu hảm ḿnh trong đó, rồi mới có phương dời các bờ rào ấy đi.

     Luật thứ nh́.    “Dục vọng gây ra cảnh ngộ”. Ta có thể sanh ra đời, thông minh, sáng láng, có cơ hội để thi thố sự hiểu biết, mà có khi ta lại không gặp được dịp may, hoặc là công phu của ta không được kết quả rực rỡ v́ “vận xấu”, “số rủi”. Đó là kết quả của sự sai lầm của ta; ta bị ngăn trở bởi v́ một sự hạn chế mà ta cho là Karma khuấy phá ta. Cũng như ở trên, ta sẽ thắng nhờ kiên chí và cố gắng. Ta muốn kỳ đoạt sự thành công, th́ sức hạn chế sẽ thối lui, mà các trở lực cũng sẽ tiêu tan nữa.

     Luật thứ ba.    “Hành vi tạo nên cảnh ngộ”. Trong các thứ hạn chế, có sự hạn chế hành vi do cảnh ngộ là sự cực ḷng, và khó chịu nhứt. Tuy nhiên ta cũng có thể sửa đổi được. Điều đáng làm là hăy có can đảm mà rước lấy cảnh ngộ, rồi tùy thời, tùy cảnh mà ăn ở hành động, bởi chúng ta không thể trốn thoát ṿng hạn chế ấy liền được. Đồng thời, ta rán chống chỏi lại một cách êm ái mà bền bĩ, để sửa đổi lần lần. Trước hết, ta hăy đánh đổ ḷng tư kỷ: v́ chính nó, ở trong quá khứ, đă gây ra cảnh bất hạnh hiện thời: hễ biến đổi tạo nhân, th́ ta hoán cải được kết quả. Như thế, là trong đời nầy, ta đặt cái mầm cho việc lành tương lai; và trong ṿng hạn chế do quá khứ tạo ra, ta xây đấp nền tự do của kiếp sẽ tới vậy.

     Công phu của ta trong quá khứ đă tạo ra số phận ngày nay, th́ ta cũng có thể sửa đổi số phận nầy, bằng công phu mới kkhác.

     “Luật Karma hạn chế ta đến chừng mực nào?”

     Ta đă thấy “Tư tưởng tạo ra tư cách”. Tư tưởng là cái khí cụ dùng để đoạt cái ǵ, mà ta chưa có. Thử ngồi một buổi sáng trong 5 phút để suy xét về tánh chơn thật. Hăy tự bảo: “Chơn lư là Trời”. Tất cả những ǵ có đây, đều căn cứ nơi Chơn lư cả: Trong cái chơn ngă của tôi; tôi vốn là chơn lư: v́ bởi tôi cũng đồng tánh với Trời. Vậy th́ nhân trí của tôi phải là cái thể biểu hiện của chơn ngă vân.. vân…” Rồi trót ngày, ta gắng giữ cho tư tưởng, ngôn ngữ hay hành vi của ta đừng trái với Chơn lư. Cứ tập như thế măi, th́ ngày nầy qua ngày nọ, tuần nầy sang tuần khác ta sẽ lập được cái thói quen, ngay thật trong ư tứ, lời nói và sự làm. Rốt lại, ta thấy ta đă trở nên ngay thật một cách tư nhiên, không cần tự quản thúc nữa. Tật xấu đă tiêu tan và cái mỹ đức chơn thật đă nhập tâm ta rồi vậy.

     Cách trên đây cũng có thể dùng để mở những đức tánh khác. Phương pháp rất giản dị: chỉ nuôi những thứ tư tưởng tốt lành rồi giữ cho sự ham muốn và hành vi của ta ḥa nhịp với thứ tư tưởng ấy. Như thế, ta sẽ tạo ra được cái tánh cách của ta trong kiếp tới.  Có khi Karma bắt ta sanh ra đời với cái tánh cách thiếu sự ngay thật dơng cảm và mềm mỏng, nhưng không bao giờ nó bắt ta duy tŕ tánh cách ấy măi được. Ta muốn điều ǵ là được điều đó, Karma sẽ cho ta cái tánh t́nh ngay thật mềm mỏng và can đảm nếu ta chịu khó tạo ra các thứ nguyên nhân đồng tánh.

     Ta nên nhớ: luật ấy rất công b́nh, cứ thẳng mà báo ứng. Ta sẽ đứng trước cơ hội của ta đă tạo ra, và cơ hội nầy sẽ đem đến cái điều mà ta đă mơ ước. Nếu trước ta đă không khéo chọn, mà mong mỏi việc xằng, th́ cơ hội đó sẽ cho ta sự thất vọng, chớ chẳng phải sự vui vẻ đâu.

     Lại ta cũng đă thấy rằng: “Hành vi tạo nên cảnh ngộ”. Nhờ xét rành rẽ mối liên quan giữa tánh cách của ta, với hoàn cảnh của ta đang sống, th́ mới biết khéo lợi dụng những điều kiện hạn chế ta đây. Ta vừa lo ban rải sự hạnh phúc chung quanh ta, vừa thức cảnh ngộ để khai mở những tánh nào mà ta c̣n thiếu. Người nào hiểu Karma, biết lợi dụng cả mọi việc, mọi cảnh, đồng thời tỏ sức hoạt động khéo léo, thông thạo và bền dai, kẻ ấy biết dự bị cái tương lai của ḿnh vậy.

     Karma hạn chế ta, nhưng ta là kẻ tạo ra Karma và tùy theo sự hiểu biết của ta, ta có thể kiểm sát Karma được.

     Ta nên nhẫn nại, khoanh tay chịu sức hành động của Karma hay nên hết sức chống chỏi lại? Theo lời đă nói trên, th́ tất nhiên ta phải hết sức chống chỏi lại những thứ khuynh hướng xấu xa, những điều tập quán quấy quá; những nết hư tệ của ta, dù tánh nết nầy có bị thâm nhiễm thế mấy đi nữa. Trong cuộc chiến đấu ấy, lúc đầu, ta sẽ thường thối bại; nhưng mỗi một lần khai công, dầu thật chẳng thắng nước cờ, chớ ta cũng phá bớt được một phần sức lung lạc; rồi lần lần ta sẽ thắng được ác nghiệp của ta. Trước kia, ta đă tạo từng sợi nhợ kết thành cái lưới Karma, th́ nay ta cũng có thể phá lần từng sợi nhợ đến tan ră cái lưới ấy. Chính người là kẻ tự tạo số phận lấy cho ḿnh, chớ nào phải ai khác gây họa phúc cho đâu. Luật chẳng hề dời đổi; theo luật mà ta đă gây ra điều ǵ trong cảnh vô minh, th́ cũng theo luật mà ta sẽ phá nát điều ấy, nhờ sự hiểu biết. Không ai cản trở ta được, không ai làm thế cho ta đặng.

     Người ta sẽ hỏi rằng: “Ngày nào cũng do ngày trước mà ra, th́ kẻ hư nết làm sao trở nên người đức hạnh được?”

     Đây là một trong các câu hỏi, nó làm rối trí học giả. Kẻ hư nết, trải cái đời trong tật quấy, không hề chữa sửa, th́ ở kiếp sau, chẳng lại hóa ra hư hèn hơn kiếp trước, rồi cứ măi như thế chăng? Đây nên xét qua các sức mạnh dùng để cân đối các sức mạnh khác, như: sự đau khổ và sức tiến hóa. Đau khổ là kết quả của sự bất tuân luật tự nhiên: sau khi chết, sự đau khổ c̣n dữ dội hơn nữa; xác mất rồi, những điều dục vọng xấu xa châm chích con người như vùi sắt nhọn. Khi bỏ cơi trung giới sang cơi thiên đàng, th́ các mầm lành sẽ nảy nở trong người; cái trí thanh bạch cùng ḷng từ ái phát triển và lan rộng ra.  Khi trở lại trần gian, người cũng mang theo cái kết quả của những sự ưu phiền đă nếm, cái kết quả nầy sẽ tỏ hiện bằng  sự ghê nhờm trước cái hư, quấy, mà ngày xưa đă phạm.

     Con người càng tiến lên cao chớ không phải càng hạ xuống thấp. Chỉ khi nghịch hẳn lại với chơn tánh là đắm trong vũng bùn. Nhưng đó cũng là tạm trong một lúc mà thôi; rồi cũng tiếp tục tiến bước.

 

CHƯƠNG THỨ SÁU MƯƠI LĂM 

Luật Nhân quả đối với tư tưởng, t́nh cảm và việc làm

(tiếp theo)

1    Tư tưởng tạo ra tánh t́nh

    Ở trước ta đă nói về sự hạn chế của Karma đối với tư tưởng, t́nh cảm và việc làm.  Nơi đây ta cũng giải như thế, nhưng trong phạm vi rộng răi hơn, hầu đưa học giả đi sâu vào vấn đề.

     Từ ngàn xưa, các bậc thánh nhơn hiền triết đều chứng nhận sự thật nầy là: tư tưởng tạo ra tánh t́nh.

     Kinh Chandogyobanishad có nói rằng: “Tư tưởng thể nào, th́ con người thể ấy”.

     Nhà vua hiền triết Israel cũng nói rằng: “Con người thể nào, th́ tư tưởng thể ấy”.

     Kinh Bhagavad   Gita cũng nói giống như vầy: “Đức tin là con người”.

     Ta có thể kể ra nhiều đoạn kinh sách nói về “tư tưởng tạo ra tánh t́nh”: ta sẽ thấy : tất cả triết lư chánh đại, tất cả tôn giáo đều đồng ư ở chỗ nầy.

     Vậy, nếu đó thật là một luật tự nhiên, th́ nó có thể kiểm chứng đặng: bởi v́ tất cả lư thuyết chơn chánh thuộc về luật tự nhiên ta có thể lấy cái kinh nghiệm riêng mà thâm cứu đặng. Đó là trường hợp của ta đang chủ ư đây. Nếu quí Ngài muốn chứng minh rằng: Tư tưởng tạo ra tánh t́nh, th́ nên áp dụng phương châm rất đơn giản nầy.

     Trước khi vào đề, ta nên biết rơ: hiện thời, thiên hạ luôn luôn lật đật, làm việc ǵ cũng muốn thấy kết quả ngay. Nhưng ta nên nhớ rằng: người ta chỉ t́m hiểu đặng là nhờ bền chí. Tỷ như  ta lấy tư tưởng mà chế ngự một tánh xấu và tăng cường một tánh tốt, th́ ta cần phải có ngày giờ mới đặng. Ta muốn bớt tánh nóng giận ư? Tánh nầy không phải là một tội trọng: nó chỉ là cái kết quả của tánh yếu đuối chung của người đời mà thôi. Một khi mà ta đă nhận định rằng: ta có tánh nóng giận, th́ ta lập tức quên đi, và đừng nhớ tới nó nữa: bởi v́ nếu “tư tưởng tạo ra tánh t́nh” là thực sự, th́ “suy tưởng đến một tánh xấu” tức là thêm sức mạnh cho nó. Nếu ta tưởng ta giận, th́ ta càng thêm giận. Tốt hơn là ta tưởng đến tánh tương phản, nó là tánh nhẫn nại. Mỗi buổi sớm mai, ta hăy tham thiền 5 phút về tánh ấy. Làm như vậy cho đều đều, chớ đừng một bữa làm, năm bữa nghỉ, th́ không hiệu nghiệm chút nào: v́ làm như vậy giống như tên lính tập, cứ đứng một chỗ, dậm cẳng măi, chớ không đi tới được bước nào. Ta rán tham thiền về tánh nhẫn nại, mỗi ngày năm phút đừng cho gián đoạn: ta suy gẫm theo phương tiện nào ta thích, v́ điều phương tiện không mấy cần; điều cần nhứt là ta nghĩ đến vấn đề ấy mỗi ngày. Có một phương châm hay nhứt là tưởng tượng rằng: ta là người có tánh nhẫn nại,là người hoàn toàn nhẫn nại. Rồi ta tưởng tượng ta gần những người đang nóng nảy, họ khêu tức ta, nhưng ta vẫn được thái độ b́nh tĩnh, và dù bị tấn công một cách bất công, ta cũng không hề xao xuyến, ta rán giữ tâm ta đừng có một chút tư tưởng  nóng giận. Tưởng tượng ta là một người nhẫn nại hoàn toàn. Cứ măi tưởng như vậy trong một tuần lễ, th́ ta sẽ thấy tánh nhẫn nại đă gần thành thói quen, và trước sự cọc cằn của kẻ khác, ta không c̣n phản động, và đối phó lại bằng sự cọc cằn như xưa. Nếu được vậy, th́ là ta tham thiền có kết quả tốt. Ta đă tạo trong trí ta một đức tánh nhẫn nại.    

     Ta cứ tiếp tục và luôn luôn tiếp tục cho tới chừng nào tánh nhẩn nại đă thành phần với bản tánh của ta mới thôi. Trên đây ta thấy rơ: nhờ tư tưởng tạo ra tánh t́nh của ta.

     Theo cách ấy, ta trừ lần lần những tật xấu và thay vào những đức tốt. Ta có thể rèn đúc tánh t́nh của ta một cách chắn chắc, như anh thợ hồ, chồng từ tấm gạch để xây tường vậy. Nếu ta thành thật công nhận rằng: “tư tưởng tạo tánh t́nh” th́ ta sẽ vui ḷng bỏ ra mỗi ngày 5 phút, trong vài tháng như vậy, để chủ trị phàm tánh của ta. Chi nên, thành công hay thất bại là, một phần lớn, do vấn đề ngày giờ và cố gắng.

     Thà ra công điêu luyện hơn là ngồi khoanh tay than thở. “Ôi! tôi muốn được hiền lành! ” Rồi cứ mỗi ngày sa vào lỗi cũ! Như thế có ích ǵ?

*

2.   Dục vọng đưa người đến vật sở vọng

     Ta biết rằng: dục vọng và ư chí là căn bản của các sự kiến thiết. Bất kỳ trong cuộc tạo tác nào, ư dục là cần nhứt; trong khoa lư hóa, chính là cái ư dục làm cho vật nầy hợp hay kỵ với vật kia. Cái ư dục là một mănh lực trọng đại trong đời; nó có hai bề: bề trái và bề mặt. Khi cái mănh lực nầy ở trong con người đi ra đến vật bên ngoài, th́ người ta gọi nó là dục vọng: cái dục vọng khiến cho ta muốn cái nầy, bỏ cái kia. Bao giờ ta c̣n bị ngoại vật xô tới và đẩy lui, th́ ta ví như con bướm, bay liệng nhởn nhơ, chập chờn hết bông nọ, đến bông kia, không mục đích, ta bà và ảo mộng. Nhưng thay v́ cái mănh lực ấy bị ngoại vật lôi cuốn, nó lại tập trung vào nội giới; nó hết bị đồ vật bên ngoài hấp dẫn, nó lại quay về nội tâm, bấy giờ nó không c̣n gọi là dục vọng nữa, mà lại được gọi là ư chí. Nhơn đó, mới có người yếu tánh và người cang cường. Người yếu tánh là người dễ bị vật bên ngoài lôi cuốn: đối với người như vậy làm sao tin cậy được? C̣n trái lại, người có ư chí, th́ chỉ làm theo sự kinh nghiệm nội tâm, chớ không chịu ảnh hưởng ngoại giới; ta có thể đặt cả tin cậy vào y. Mỗi người chúng ta đều có ư muốn gần điều ǵ ḿnh ưa thích; vật sở vọng nó hấp dẫn ta như đá nam châm với miếng sắt mềm. Tại sao có sự hấp dẩn như thế? Bởi trong ḷng vạn vật đều có một luồng năng lực thiêng liêng đang linh động, tức là một sự sống độc nhứt rung chuyển tâm hồn vạn vật, dù h́nh trạng bên ngoài có khác nhau. Cái năng lực thiêng liêng nầy luôn luôn t́m hiệp nhứt. Bao giờ con người sống hoàn toàn với nguồn sống thiêng liêng, th́ hết c̣n thấy ḿnh khác với người, mặc dầu không giống màu da, tôn giáo, chủng tộc, nam nữ, đảng phái, hay giai cấp v.v…  Nhưng bởi con người c̣n xa Trời, nên sống với dục t́nh nhiều hơn: khi tan khi hiệp bất thường, và cứ như thế măi! Dục vọng đưa ta đến vật sở vọng; nó tạo ra cơ hội để được thỏa măn. Chi nên cần phải chủ trị nó. Ta hăy xem một người kia, ngày nầy qua ngày nọ, cứ bo bo làm cho có tiền; và khi có tiền rồi lại không biết dụng vào đâu; cứ đâm ra lo lắng sợ cướp bóc, ăn ngủ không yên, ḷng buồn rười rượi! Trước kia, y tưởng có tiền là hạnh phúc hoàn toàn, nhưng khi quen thấy tiền rừng, bạc bể, y sanh ra chán nản. Tiền bạc là một phương tiện để cho ḿnh hưởng hạnh phúc, chớ nó chẳng phải là hạnh phúc. Chính trong sự chán nản nầy có ẩn sự nhiệm mầu của cơ tiến hóa. Con người nhờ dục vọng mà tiến hóa, và khi đă chiếm đặng vật sở vọng rồi, th́ đâm ra lănh đạm, rồi lại vứt đi; bởi v́ vật đó hết làm cho người thỏa thích nữa.

     Muốn cho chúng sanh đừng đâm ra say mê những vật phù vân, quyến rủ ấy mà các Đấng thiêng liêng mới khuyên con người mở thiên thánh c̣n đang ẩn tàng. Đời đem đến cho ta nhiều điều ích lợi, chẳng phải do những vật sở hữu của ta làm cho ta vui sướng, mà do sự rán sức của ta để chiếm đạt chúng nó. Vậy khổ cho ai không c̣n biết ham muốn: v́ nếu người thường nhơn chưa có đủ ư chí mạnh mẽ của thần hồn, mà đâm ra lănh đạm với tất cả mọi vật bên ngoài, th́ làm sao có đặng sức tiến thủ?  Người như thế là người vô dụng! Hăy biết rằng: không ham muốn chẳng phải là được giải thoát; người được giải thoát là người đă đồng hóa với Chơn nhơn tức là Tâm Linh vậy. Tất cả h́nh sắc đều sụp đổ. Chỉ tâm linh c̣n tồn tại mà thôi. Khi con người đă từng trải mọi sự ở đời, mà vẫn thấy ḿnh thiếu thốn, th́ tự nhiên hồi hướng lại tâm ḿnh để khêu ngọn linh đăng huyền diệu, mà tự bấy lâu ḿnh quên lửng! Chính trong lúc ấy con người mới t́m đặng sự an tĩnh và chơn hạnh phúc cho.

 

3    Cái hạnh phúc hay cái khổ nàn của bạn là do cái hạnh phúc hay cái khổ nàn mà bạn đă tạo cho kẻ khác.

     Tùy theo sự hành động của ta đối với kẻ khác, mà ta gặt phước hay họa. Nhưng thường khi ta thấy một người ác nghiệt mà lại được sung sướng, rồi ta tự hỏi rằng: “ Ủa! tại sao một người ích kỷ, xấu xa như thế, mà lại hưởng muôn cảnh giàu sang?” Mà ta quên rằng: “sự giàu sang không phải là hạnh phúc”. Bà Annie Besant tỷ dụ như vầy: Một người kia làm phước, hiến cho nhà nước một số tiền khổng lồ đặng cất nhà thương hay làm một cái công viên. Thường thường không phải là do ḷng nhân của y, mà là v́ y háo danh. Nếu người như vậy, th́ quả báo sẽ ra sao? Sự làm của y đem đến cho người một cái hạnh phúc vật chất; nhờ nhà thương mà cả ngàn cả muôn bịnh nhơn được săn sóc, nhờ công viên mà bao nhiêu người được sung sướng. Mặc dầu là háo danh, người làm phước ấy cũng sẽ hưởng cái quả tốt về sau: y sẽ có được cái hoàn cảnh sung sướng về vật chất;   y đă làm cho người được sung sướng về vật chất, th́ y sẽ được sung sướng về vật chất.  Nhưng các bạn sẽ nói “Người ấy v́ háo danh kia mà, chớ ḷng y có thương tưởng ai đâu?”  Vậy làm sao giải quyết đặng vấn đề nầy?

     Bà Annie Besant giải như vầy: “Người đó gặt quả tốt của sự sung sướng về vật chất mà thôi, chớ không phải sự sung sướng về tinh thần: mặc dầu y sống trong nhung lụa, y cũng bị đau khổ do tánh ích kỷ của y. Luật trời không chừa một ai; y đă hành động với sự ích kỷ, th́ sự ích kỷ sẽ trở lại với y.”

     Mỗi hành vi, cảm xúc, và tư tưởng đều đem đến một phản động lực liên đới: luật nhân quả không quên ai, và cũng không phụ ai!..

 

CHƯƠNG THỨ SÁU MƯƠI SÁU

Con người tự định số mạng ḿnh

     Biết đặng luật quả báo rồi, và khi áp dụng nó, ta sẽ thấy ta có thể định số mạng cho ta. Bởi v́:

     1.) Tư tưởng tạo ra tánh t́nh.

     2.) Ư muốn tạo ra cơ hội để cho ta đạt sở vọng của ta

     3.) Cái hạnh phúc về vật chất, t́nh cảm và tư tưởng đều do cái hạnh phúc về vật chất, t́nh cảm và tư tưởng của ta đă tạo ra xung quanh ta.

     Ta đă biết đặng ba định luật nầy và cũng biết làm thế nào để áp dụng chúng nó, bây giờ ta nên quan sát kỹ hơn một chút, được đối phó với nghịch cảnh, làm trở ngại sự hiểu biết hoàn toàn của ta: tất cả dục vọng, tư tưởng và hành vi đều dệt thành số mạng của ta.  Vậy làm sao thấu rơ cái ảnh hưởng của dĩ văng đối với cảnh hiện tại? Làm sao biết đặng căn nguyên của nhân quả để điều khiển cuộc đời của ta trên đường sáng suốt hơn? Nếu ta không biết rơ những định luật nhơn quả, th́ ta hóa ra lănh đạm, ta có thể phân bua rằng: Ôi! đó là quả báo tôi! ” chớ nào hiểu rằng: “Luật nhân quả không bao giờ cưỡng chế; và cái ư chí con người mạnh hơn số mạng”. Có người sẽ hỏi ta như vầy: “Tôi không thể tin như vậy được, bởi v́ chúng ta đă trải qua bao nhiêu kiếp, chúng ta đă gieo biết bao nhiêu quả báo, rồi bây giờ làm sao nói đặng rằng: “Ư chí của tôi mạnh hơn số mạng?

     Bà Annie Besant trả lời về khoảng ấy như vầy: Muốn hiểu đặng sự nầy ta hăy quan sát cái kết quả của sự hành vi trong một ngày.

     Chiều tối, ta hăy kiểm điểm lại tư tưởng của ta trong ngày ấy, rồi xem nó có xu hướng ǵ? Chắc chắn nó có nhiều xu hướng lộn xộn: có thứ tốt, có thứ xấu; đ̣n cân không ngă hẵn bên nào. Về t́nh cảm cũng vậy, chúng nó cũng có nhiều thứ pha lộn nhau.  Có thứ t́nh cảm cao thượng, có thứ t́nh cảm thấp hèn; ta không thể đo lường đặng một cách phân minh. Đối với hành vi của ta cũng vậy: việc làm của ta có gây hạnh phúc cho người, mà cũng có làm khổ cho người nữa; chung qui, th́ bên phải và bên quấy gần bằng nhau.

     Vậy đối với số mạng của ta cũng thế. Số mạng ta gồm có phước và họa, do ta dệt ra từ kiếp trước, tức là có nhiều mănh lực vô h́nh xoay chuyển đời ta: có thứ mănh lực đưa ta đến sự may, có thứ mănh lực đưa ta đến cái họa, có thứ mănh lực trung ḥa, nhơn đó mà cái kết quả của các mănh lực nầy không đem lại sự ǵ đặc biệt. Bởi tất cả chúng nó đều gom vào một trung tâm điểm là “Cái ta” để đưa ta đến một đặc điểm ǵ. Nhưng ta nên nhớ rằng: dầu mănh lực ấy do kiếp xưa của ta tạo ra, nhưng nó cũng bị tư tưởng, t́nh cảm và hành vi hiện giờ của ta thấm nhuần nó; nói một cách khác hơn là: tư tưởng, t́nh cảm và hành vi ta có thể lay chuyển đặng cái mănh lực xưa và làm cho nó ngă qua đ̣n cân nầy, hay đ̣n cân khác. Nhơn đó mà Đức Bhishma mới nói: “Sự rán sức hơn số mạng. ”        

     Kiếp trước ta đă nghĩ, đă cảm và đă làm, nên ta tạo ra số kiếp ngày nay. C̣n ngày nay, ta cũng nghĩ, cũng cảm và cũng làm, v́ lẽ đó mà ta tăng gia hay giảm bớt lực lượng của kiếp quả xưa.

     Thật ra có nhiều trường hợp mà quả xấu dồn dập rất nhiều, dù ta cố gắng bao nhiêu cũng không thể dỡ hỏng đ̣n cân nặng. Đó là thứ quả muồi   sức ta không thể ngăn nổi.  Tuy nhiên, hễ là người hiểu biết rồi, th́ không bao giờ chịu khoanh tay ngồi ngó: cứ đem b́nh sinh, chí lực chóng chỏi với cái họa, hầu giảm bớt cái ảnh hưởng xấu đi. Vậy ta hăy lấy ví dụ một người kia kiếp trước, luôn luôn muốn chiếm hữu những vật không phải của ḿnh; kiếp nầy y sanh ra với cái mầm trộm cướp. Lớn lên, cái ư muốn trộm cướp ấy hiện ra trong ḷng y một cách mănh liệt; vậy hỏi y phải ch́u theo dục vọng và tự nói như nầy chăng?  “Tôi phải trộm cướp, tôi không thể làm khác hơn đặng?” Không, không, y phải chiến đấu kỳ cùng, phải đem hết b́nh sinh, chí lực chóng chỏi với trận giặc ḷng. Rốt cuộc, có thể y thất bại: y ch́u theo dục vọng mà đi trộm cướp; nhưng mỗi khi y rán sức phản đối lại tật xấu, th́ cái ảnh hưởng của tật xấu ấy sẽ giảm lần; vậy bữa nay, y có thể thất bại, ngày mai y có thể đắc thắng.

     Học luật nhân quả đưa ta đến cái kết quả nầy là: dù sự quyến rũ mạnh mẽ thế nào, ta cũng phải tận tâm, tận lực chiến đấu lại, cho tới chừng nào toàn thắng mới thôi. Người thường nhơn đứng ngoài, không biết đặng sự cố gắng trong ḷng của ta, họ có thể phán đoán, nghiêm khắc khi ta làm quấy; nhưng luật nhân quả đă ghi công cho ta trên cuốn sổ vàng!

     Một người kia đang túng bấn hay đau ốm. Nếu thấy thế, rồi ta chỉ nói thầm rằng: “Đó là quả báo của họ, tôi đến giúp họ làm ǵ?”. Xung quanh ta, có biết bao là sự đau khổ (mà tất cả sự đau khổ đều do cái kết quả không hay của dĩ văng) nhưng đó không phải là một lư do cấm ta đem sự hạnh phúc thế vào chỗ đau thương, đem t́nh yêu vuốt ve ḷng tuyệt vọng. Những tư tưởng xấu, những t́nh cảm thấp hèn những hành vi độc ác đều tạo ra sự đau khổ hiện tại hay tương lai; nhưng chẳng phải v́ đó mà ta không đặng có những tư tưởng tốt đẹp, những t́nh cảm thanh cao hay những hành vi bác ái, để đổi sự buồn rầu, đau đớn ấy ra sự vui tươi và hạnh phúc. Biết rằng: ngày nay là phản ảnh ngày hôm qua, nhưng ngày mai cũng là phản ảnh của ngày hôm nay vậy. Ta hăy giúp đỡ người cần được giúp đỡ. Ta hăy vỗ về người đang buồn thảm. Ta chớ ích kỷ và làm tay sai cho “hung thần” để gieo thêm sự đau khổ cho người! Hễ ta giúp người, th́ đến phiên ta, ta sẽ được người giúp lại. Khi ai ở bên cạnh ta đang đau đớn, ta chớ ngó mặt và trả lời rằng: “Số kiếp của y, y phải chịu, y đă gây tội, th́ y phải gặt lấy điều dữ, ta hăy để cho y trả quả chớ! ”  Thật ra, luật công b́nh chủ trị thế gian không sai lấy một ly, và hễ có vay, th́ có trả, có tội, th́ có đền. Nhưng ta đây là người, ta đâu có đủ sự sáng suốt; ta hăy tôn trọng cán cân công b́nh của Đấng thiêng liêng, và ta lo lấy phận ta. Đối với những người xung quanh ta, ta phải là Thiên Sứ của Trời đem đến cho họ t́nh nhơn ái và dạ xót thương. Ta có thể nói rằng: “Nếu luật quả báo bắt một người kia đau khổ, th́ dầu ta có làm thế mấy cũng không ngăn cản đặng.” Nhưng, tại sao ta lại dám chắc là ta không có sứ mạng trong sự đau khổ nầy? Rất có thể chính ta đây là tay sai của Đấng Nam Tào Bắc Đẩu để đem sự hạnh phúc cho người, trong lúc quả xấu của người đă đến thời kỳ tiêu diệt. Lẽ nào ta lại thối thoát cái thiên trách vinh diệu ấy, và quay mặt chẳng nh́n người đau khổ, mà quả báo đă đặt ngay trên bước đường của ta? Có phải v́ lẽ biết sơ qua luật nhân quả, rồi ta nghiêm khắc, lănh đạm, và ích kỷ đối với sự lỗi lầm của kẻ khác chăng? Đó là ta phạm đến sự công b́nh, và tăng gia sự đau khổ cho nhân loại. Rồi đến lượt ta đau khổ, ta sẽ trơ trọi, ta sẽ cô đơn: v́ quả bào không thiên vị một ai!

*

     Biết mấy điều trên đây, ta sẽ nh́n đời sống với cặp mắt nhà khoa học. Ta sẽ không than van nữa, và ta biết cầm số mạng của ta trong tay: ta sung sướng hay đau khổ đều do ở ta mà ra cả. Người khoa học rủi có thất bại trong pḥng thí nghiệm, th́ chỉ có trách ḿnh và t́m lỗi tại đâu.

     Ta cũng phải làm như thế mới đặng. Có thể ta không biết tại sao sự biến cố lại xảy ra, nhưng ta biết mỗi chuyện xảy ra đều có nguyên nhân cả; nên phải lập tức tập trung lực lượng đặng đối phó. Nhờ sự rán sức của ta, mà ta  thay đổi địa thế. Dưới trần không bao giờ có sự bất công, mỗi người gặt cái ǵ mà ḿnh đă gieo.

     Thay v́ tức giận cho số mạng, ta phải can đảm và đối phó để chuyển bại, thành thắng. Cái tư tưởng rơ ràng và mạnh mẽ là món khí cụ linh diệu, là cái gia tài quí giá của tất cả người đàn ông hay đàn bà. Vậy ta hăy mở mang nó, cho nó trở nên thanh bai, tinh khiết và mạnh mẽ: v́ tư tưởng là mănh lực tạo ra tánh t́nh. Mà tánh t́nh là nền tảng của số mạng mai sau.

 

CHƯƠNG THỨ SÁU MƯƠI BẢY

Kết luận Luân Hồi và Quả Báo

CÓ ẢNH HƯỞNG G̀ ĐẾN ĐỜI SỐNG TA?

     Con người vốn là sinh linh bất diệt.

     Nắm cỏ xanh kia đâu chôn lấp được mảnh hồn linh?

     Vả lại, người thác đi, chớ tác phẩm vẫn c̣n lưu hậu thế. Vậy người hèn nhát nhứt trong chúng ta cũng đă góp công xây dựng đền lầu Văn Minh của Nhơn Loại; nếu thiếu một ai, th́ cái Đền lầu ấy đâu được hoàn toàn? Chính mỗi người, mỗi sanh vật đều là mỗi tạo tác viên trong vơ trụ.

    &