THUẬT NGỮ

HUYỀN HỌC

 

MMVIII

 

TÊN VIẾT TẮT

CỦA CÁC SÁCH ĐƯỢC TRÍCH DẪN

Tựa đề sách trích dẫn

 

Viết tắt là

Aûo Cảm : Một Vấn Đề Của Thế Gian

...

ACMVĐTG

Aùnh Sáng Của Linh Hồn

...

ASCLH

Ch́a Khóa Minh Triết Thiêng Liêng

CKMTTL

Chiêm Tinh Học Nội Môn

...

CTHNM

Chuyến Khảo Du Của Linh Hồn

….

CKDCLH

Chữa Trị Theo Nội Môn

...

CTNM

Cung Và Điểm Đạo

...

CVĐĐ

Điểm Đạo, Nhân Loại Và Thái Dương

...

ĐĐNLVTD

Đường Đạo Trong Kỷ Nguyên Mới I, II

...

ĐĐTKNM I, II

Giảng Luận Ánh Sáng Trên Thánh Đạo

GLASTTĐ

Giảng Luận Tiếng Nói Vô Thinh

….

GLTNVT

Giáo Dục Trong Kỷ Nguyên Mới

...

GDTKNM

Giáo Lư Bí Nhiệm I, Ii, Iii, Iv,V

GLBN I đến V

Khảo Cứu Về Tâm Thức

KCVTT

Linh Hồn Và Cơ Cấu Của Linh Hồn

...

LHVCC

Luận Về Bảy Cung

...

LV7C

Luận Về Huyền Linh Thuật

...

LVHLT

Luận Về Lửa Càn Khôn

...

LVLCK

Minh Triết Ngàn Xưa

MTNX

Ngữ Giải Minh Triết Thiêng Liêng

NGMTTL

Phật Giáo Nội Môn

PGNM

Sự Hiển Lộ Của Thánh Đoàn 

...

SHLCTĐ

Tiếng Nói Vô Thinh

TNVT

Sự Tái Lâm Của Đức Christ 

...

STLCĐC

Từ Bethlehem Đến Calvary

...

TBĐC

Tâm Lư Học Nội Môn I, II

...

TLHNM I, II

Tâm Thức Của Nguyên Tử

...

TTCNT

Từ Trí Tuệ Đến Trực Giác

...

TTTĐTG

Thư Của Chân Sư

TCCh.S

Thư Về Tham Thiền Huyền Linh

...

TVTTHL

Viễn Cảm Và Thể Dĩ Thái

...

VCVTDT

Vận Mệnh Các Quốc Gia

...

VMCQG

Vấn Đề Của Nhân Loại

...

VĐCNL

Ṿng Luân Hồi

 

VLH

 


 

 

A

 

 

 

A–di:

     – Cơi nguyên h́nh, cơi biểu lộ thiêng liêng, cơi thứ nhất của Thái Dương Hệ chúng ta, cơi Tối Đại Niết Bàn.

     – Cơi của Thượng Đế.                                                               (LVLCK, 79, 656)

Adi hay Adi Budha : (A Di Đà Phật)

-              Đấng Độc Nhất (The One) hay Đấng Nguyên Thủy (The First) và Minh Triết Tối Thượng (Supreme Wisdom), là một thuật ngữ được Đức Aryasanga dùng trong các bộ luận bí nhiệm của Ngài và ngày nay th́ các tín đồ Phật giáo Bắc Tông đều dùng. Đó là tiếng Bắc Phạn, một danh xưng mà những người Ấn Âu (Aryan) sơ khai nhất dùng để chỉ Đức Thượng Đế Huyền Vi (Unknown Deity).                                    (GLBN I,43)

- Adi- Buddha tức là Parabrahman. (Thư của Ch. S. 379)

Aditattva :

     Vật chất vi tử cơi Tối Đại Niết Bàn.                             (LVLCK, 56)

A-Dục Vương : Asoka (B.Ph.)

Aether : X. Hậu Thiên Khí.

Agami Karma : X. Nghiệp quả.

Agni : X. Hỏa thần.

Agnichaitans : (X. Hỏa thần)

– Một nhóm Hỏa thần (fire devas)                        (ĐĐNLVTD,215)

– Một loại hỏa tinh linh (fire spirit) cao cấp, tạo ra các xoáy lửa, được thấy ở phạm vi lớn, như trong hỏa sơn và các đám cháy dữ dội. Các hỏa tinh linh này có liên kết chặt chẽ với một nhóm thiên thần quan trọng hơn, tạo ra lớp lửa bao quanh mặt trời

 

                    Các Agnichaitans này thuộc phân cảnh thứ ba, đặc biệt dưới ảnh hưởng của năng lượng Thổ tinh. Họ là các tác nhân dung hợp của  vật chất, chính nhờ họ mà việc chuyển hóa kim loại mới xảy ra. Các hỏa tinh linh có liên quan với giới khoáng chất, tương tự như sự liên hệ mà các thủy thần đang có đối với giới thực vật và động vật. Như ta sẽ thấy, các vị này có liên quan đến bí huyệt cổ họng của Hành Tinh Thượng Đế và Thái Dương Thượng Đế; nhờ sự hoạt động của các Ngài mà việc truyền âm thanh qua không khí mới xảy ra được. Điều này có thể làm kinh ngạc các đạo sinh và các nhà phát minh, nếu họ có thể hiểu được rằng sự tăng trưởng hiện nay của phương tiện truyền thông vô tuyến ở khắp nơi là do sự giao tiếp nhanh chóng với rung động con người của một nhóm các sinh linh hỏa thần (fiery deva lives) từ trước tới giờ chưa được giao tiếp.       

 

                                                                                                                                       (LCLCK, 67, 905)

Agnitattva :

     Vật chất vi tử cơi trí                                                                                   (LVLCK, 56)

Agnisuryan :

     – Chất liệu linh hoạt của cơi cảm dục (the living substance of the astral plane).                                                               (LVHLT, 238)

        Thiên thần cơi cảm dục (Astral plane devas).

(LVLCK, 658)

Agni yoga:

     Tức là khoa Yoga về lửa.                                                  (ACMVĐCTG, 171)

Ah–hi :

     – Ah–hi tức là Thiên Trí (Universal mind)

     – Ah-hi, các Đấng Kiến Tạo vĩ đại (greater Builders), các Ngài là các Tinh Quân thi hành ư chí của Thái Dương Thượng Đế, các Ngài sử dụng phần lớn hai cơi để giao tiếp với nhau và với các đoàn thể của các Ngài:

     Một là cơi thứ hai, nơi mà các Ngài giao tiếp bằng phương tiện tinh thần mà hiện nay con người không thể hiểu được.

     Hai là cơi trí, nơi mà các Ngài giao tiếp với tất cả các sự sống thứ yếu bằng loại viễn cảm thuộc thể trí.         (LVLCK, 815)

        Ah–hi: các Đấng Thiêng liêng (Celestial Beings).

(GLBN I, III)

Ahamkara:

        Ahamkara tức là principle of I–ness (Ngă thức).         

 (LVLCK,712)

     – Nguyên khí tạo “Ngă” cần thiết để ngă thức có thể được phát triển, nhưng siêu việt khi công việc của nó kết thúc.

     Nguyên khí Ahamkara tác động th́ con người trở thành có ngă chấp (self–centered) mạnh mẽ và có được ngă thức theo ư nghĩa bao hàm thấp hơn của danh xưng đó.     (LVLCK, 1103)

Ajna centre : X. Bí huyệt chính.

Akasha : X. Tiên Thiên Khí.

Akashatattva :

     Vật chất vi tử cơi Niết bàn.                                                      (LVLCK, 56)

A-lại-gia-thức (Alaya, tàng thức, toàn linh thức, Alaya Vijnana):

-        Alaya Vijnāna tức là tri thức ẩn tàng (hidden knowledge).

                                     (Thư của Ch. S. 361)       

-   Đại Hồn (Master-Soul) là Alaya, linh hồn vũ trụ hay Atma, mỗi con người đều có trong ḿnh một tia (ray) của nó và được giả định là có thể đồng nhất hóa chính ḿnh với nó và ḥa hợp chính ḿnh vào nó.                                                         (LVLCK, 137)

Altar Major Center : Trung tâm lực hành tủy.

     Trung tâm lực hành tủy tức là trung tâm thần kinh ở chót xương sống, nơi mà hộp sọ (cranium) và xương sống gần tiếp xúc nhau.                                                                              (LVLCK, 960)

Ám (Obsession): X. Nhập xác.

Ám thị: (Suggestion):                                  

Áùm thị tức là một h́nh thức chuyển di tư tưởng (thought transference)                                                   (CKMTTL,  221).

Amen :

     Amen là sự sửa đổi sai lạc ở Tây Phương (western corruption) của A.U.M.

     Việc dùng Amen trong nghi lễ của Giáo hội Thiên Chúa sau rốt sẽ bị ngăn cản (discouraged), bởi v́ về căn bản, đó là một xác nhận có tính duy vật, thường được người ngoan đạo b́nh thường xem như là dấu ấn của việc chuẩn nhận thiêng liêng về điều thỉnh nguyện của y lên Đấng Toàn Năng (Almighty) để xin che chở hay xin có được các nhu cầu vật chất; do đó, tất cả đều có liên quan đến cuộc sống thèm muốn, khao khát, nhị nguyên và đ̣i hỏi. Nó bao gồm thái độ của người cho và kẻ nhận.                                                  (CVĐĐ, 5152)

An trụ (trụ vào, polarize or centrehimself ASCLH, 251)

   Khi bạn dùng thuật ngữ: “một người trụ vào (polarized) trong thể cảm dục của ḿnh”, là bạn thực sự muốn nói người đó có Chân Ngă hoạt động chính yếu thông qua hiện thể này.         

                          (LVHLT, 112)

     – Tính chất an trụ (polarity) cho thấy độ thông thoáng của vận hà. Tôi xin giải rơ. Chân ngă của kẻ thường nhân có trú sở ở phân cảnh thứ ba của cơi trí. Nếu một người có thể cảm dục phần lớn cấu tạo bằng vật chất thuộc phân cảnh (cơi phụ) thứ ba của cơi cảm dục c̣n thể trí hầu như được tạo bằng vật chất ở phân cảnh thứ năm của cơi trí th́ Chân Ngă sẽ tập trung nỗ lực vào thể cảm dục. Nếu người ấy có thể trí cấu tạo bằng chất liệu của phân cảnh thứ tư và thể cảm dục cấu tạo bằng chất liệu của phân cảnh thứ năm, th́ sự an trụ (polarization) sẽ ở thể trí.

     – Khi bạn nói Chân Ngă kềm chế con người nhiều hay ít là thật ra bạn muốn nói rằng người đó đă kiến tạo các thể của ḿnh bằng chất liệu ở các phân cảnh cao. Chân Ngă chỉ kiểm soát một cách đáng kể chỉ khi nào con người hầu như hoàn toàn loại bỏ được chất liệu của các phân cảnh thứ 7, thứ 6 và thứ 5 ra khỏi các thể của ḿnh. Khi y đă kiến tạo với một tỷ lệ nào đó chất liệu thuộc phân cảnh thứ tư th́ Chân Ngă mở rộng được sự kiểm soát của Chân Ngă. Khi có được một tỷ lệ nào đó chất liệu của phân cảnh thứ ba th́ lúc đó con người bước chân lên Thánh đạo. Khi chất liệu thuộc phân cảnh thứ hai vượt trội th́ bấy giờ con người được điểm đạo, và khi chỉ có chất liệu nguyên tử (atomic substance) (phân cảnh I – ND) th́ con người trở thành một Chân Sư. Do đó, con người ở trên phân cảnh nào là điều rất quan trọng và việc nhận biết được sự an trụ của y sẽ minh giải được kiếp sống.       (LVHLT, 112–113)

        An trụ (polarise) tức là tập trung (focus).

  (ĐĐKNM II, 428)

An trụ vào chính ḿnh  (Dwell calmly within themselves)

   Hạ trí đạt tới ư tưởng trừu tượng nhờ lư luận, và nhờ làm như thế, hạ trí mới bay vọt lên cao nhất, chạm đến ngưỡng của cơi vô sắc tướng  (tức là từ cơi thượng trí trở lên. ND) và lờ mờ thấy được những ǵ nằm bên kia. Linh hồn (Thinker) cảm nhận được các ư tưởng này và quen sống trong các ư tưởng đó. Khi năng lực lư luận trừu tượng càng được phát triển và trở nên lăo luyện, th́ linh hồn trở nên có hiệu lực trong cơi riêng của nó và bắt đầu sự sống hoạt động tích cực trong lănh vực riêng của linh hồn. Những người như thế ít để ư đến sự sống của giác quan, ít chú tâm đến bề ngoài hoặc ít đặt tâm trí vào h́nh ảnh của các đối tượng bên ngoài. Năng lực của những người này được thu tập vào trong (in drawn), không c̣n đổ xô ra ngoài để t́m thỏa măn nữa. Họ an trụ vào chính họ, dành hết th́ giờ vào các vấn đề triết lư, vào các khía cạnh sâu xa của sự sống và tư tưởng, t́m cách hiểu tận nguyên nhân hơn là bận tâm đến kết quả, và ngày càng tiến gần hơn đến việc nhận biết Đấng Duy Nhất (the One) ẩn dưới mọi thiên sai vạn biệt (diversities) của bản thể bên ngoài.                                                (MTNX, 240)

Ananda :       Tối linh phúc.

     Chúa Con (Son), Vishnu, Thượng Đế Ngôi Hai, Tinh thần-Vật chất, Chí Phúc (Bliss), Bác ái (Love).  (LVLCK, 94)

Anglo Saxon :

     Là giống dân phụ (phụ chủng) thứ 5 của giống dân chính (căn chủng) thứ 5.                                                   (ASCLH, IX)

Ánh sáng (Light):

       Theo Huyền Linh Học cũng như theo kinh Kabalah, có ba loại ánh sáng:

   1.- Ánh Sáng Trừu Tượng và Tuyệt Đối, đó là Bóng Tối (Darkness)

   2.- Ánh Sáng của Đấng Biểu Lộ – Vô Hiện (the Manifested- Unmanifested) mà một số người gọi là Logos;

   3.- Ánh Sáng loại sau phản chiếu nơi các Dhyān Chohans, tức các minor Logoi – các Elohim nói chung – đến lượt các Đấng này lại ban rải nó cho vũ trụ bên ngoài.    (GLBN 3, 49)

Ánh sáng là chất liệu (substance)                             (LVHLT, 437)

 

     Ánh sáng và vật chất (matter) là các tên gọi đồng nghĩa.                                                                                                                         (VCVTDT, 140)

- Lửa điện hay tinh thần hợp nhất với lửa do ma sát (nhiệt) tạo ra lửa Thái dương hay ánh sáng.                    (LVLCK, 241)

- Theo quan điểm của nhà huyền bí học, tất cả các h́nh thức sự sống trên hành tinh của chúng ta đều chịu ảnh hưởng bởi ba loại chất liệu ánh sáng (light substance) và hiện nay, loại thứ tư đang từ từ hiện ra. Các loại ánh sáng này là:

1.      Ánh sáng của mặt trời.

2.      Ánh sáng trong chính hành tinh, không phải là ánh sáng phản chiếu của mặt trời mà là ánh quang huy (radiance) có sẵn riêng biệt của hành tinh.

3.      Một ánh sáng đang lan qua (seeping in) (nếu tôi có thể dùng cách diễn tả như thế) từ cơi cảm dục, một sự thấu nhập từ từ và vững chắc của “cảm dục quang” và sự pha trộn của nó với hai loại ánh sáng chói lọi kia.

4.      Một ánh sáng đang bắt đầu tự pha trộn với ba loại ánh sáng kia và xuất phát từ trạng thái vật chất mà chúng ta gọi là cơi trí – một ánh sáng mà đến lượt nó phản chiếu từ lĩnh vực của linh hồn.                      (TLHNM I, 102)

Ánh sáng cảm dục : X. Cảm dục quang.

Ánh sáng của linh hồn : (Light of the soul)

     Ánh sáng của  linh hồn nằm ở vùng tuyến tùng quả, hoạt động thông qua và phải được điều động (directed) qua mắt phải vốn là (như bạn đă được dạy) cơ quan của tuệ giác thể (buddhi).                                                                    (TLHNM II, 610)

Ánh sáng của phàm ngă : (Light of the personality)

     Ánh sáng của phàm ngă nằm ở vùng tuyến yên (pituitary body) hoạt động thông qua mắt trái.                   (TLHNM II, 611)

Ánh sáng của thế gian : (Light of the world)

     Theo ḍng tiến hóa, vật chất ngày càng trở nên vật dẫn truyền ánh sáng (conductor of the light) một cách hoàn hảo hơn, câu nói của Đức Christ: “Ta tượng trưng cho Ánh sáng của Thế gian” (“I am the Light of the World”) chứng minh cho chân lư ấy.                                                                      (LVHLT, 10)

Ánh sáng trong đầu : (Light in the head)

     - Khi hiện hữu, ánh sáng trong đầu biểu thị:

     a/ Việc hoạt động ít nhiều của tuyến tùng quả (pineal gland), vốn là (như người ta biết rơ) vị trí của linh hồn và là cơ quan của tri giác tinh thần (spiritual perception).

     b/ Việc chỉnh hợp của con người trên cơi trần với Chân Ngă, hay linh hồn, trên cơi trí và sự tuân phục của bản chất và sự sống trên cơi trần đối với ấn tượng và sự kềm chế của linh hồn.

     c/ Việc thần lực tuôn đổ xuống xuyên qua sinh mệnh tuyến (sutratma), tuyến từ điển tức là tuyến từ linh hồn tới năo bộ xuyên qua thể trí (mind body).

     d/ Sau cùng, ánh sáng trong đầu là chỉ dẫn của việc t́m ra Thánh đạo.                                                                                                  (LVHLT, 183–184)

     - … Kundalini hay là hỏa xà (serpent fire) ở chót xương sống, khi nó đáp ứng với rung động của linh hồn, được cảm thấy ở trong đầu, nơi vùng tuyến tùng quả (pineal gland), được gọi là “ánh sáng trong đầu”.                                                           (ASCLH, 209)

Ánh sáng trong mát : (Clear cold light, tuệ quang)

     Ánh sáng trong mát là ánh sáng của trực giác (pure reason), do nhận thức không thể sai lầm của trực giác.         (CVĐĐ, 39)

Ánh sáng và bóng tối : (Light and Darkness)

     Theo giáo lư của Hoa Hồng Thập Tự mà kẻ phàm tục (profane) có vận dụng và giải thích họa hoằn lắm mới đúng, dù chỉ đúng một phần nào th́ “Ánh sáng và Bóng tối giống như nhau, chúng chỉ khác nhau trong trí người”. Theo Robert Fludd th́ “Bóng tối chấp nhận sự chiếu sáng (illumination) để tự hiển lộ (visible)”

     Theo giáo lư của Huyền Môn Đông Phương th́ Bóng tối là Thực tại đích thực duy nhất (the one true actuality), là căn bản và cội rễ của Aùnh sáng, không có Bóng tối th́ Ánh sáng không bao giờ có thể tự biểu lộ hay tồn tại được. Ánh sáng là Vật chất,  c̣n Bóng tối là Tinh thần thuần túy. Trên cái căn bản siêu h́nh toàn diện của nó (radical metaphysical basis), Bóng tối là Ánh sáng tuyệt đối và chủ quan, c̣n Ánh sáng cho dù có vẻ rực rỡ và huy hoàng tới đâu đi chăng nữa cũng chỉ là một khối bóng tối (mass of shadows) mà thôi, v́ nó không bao giờ có thể trường cửu mà chỉ là một Ảo Tưởng (Illusion) hay Hăo Huyền (Maya). Ngay cả trong Sáng Thế Kư (Genesis), một tác phẩm làm rối trí và gây nhức óc cho khoa học, ánh sáng được tạo ra bằng bóng tối (out of darkness) – “và bóng tối phủ trên mặt của vực thẳm” chứ không phải ngược lại (not vice versa). “Trong nó (trong bóng tối) có sự sống và sự sống là ánh sáng của con người”. Sẽ đến ngày mắt con người được mở ra, lúc đó, họ sẽ hiểu nhiều hơn bây giờ, câu kinh trong Phúc âm của Thánh John: “Và ánh sáng tỏa chiếu trong bóng tối, và bóng tối không hiểu được ánh sáng”. Lúc đó, họ sẽ thấy rằng chữ “Bóng tối” không dùng để chỉ nhăn quan tâm linh con người mà thực ra nó chỉ “Bóng Tối”, Cái Tuyệt Đối, cái vốn không hiểu biết (không thể nhận biết) được ánh sáng phù du (transient Light) tuy rằng ánh sáng này vẫn siêu việt (transcendent) đối với mắt người. Ma quỉ là mặt trái của Chúa Trời (Demon est Deus invers us). Hiện giờ Giáo hội Cơ Đốc gọi Ma quỉ (Devil) là Bóng tối, trong khi đó, trong Thánh kinh Cơ Đốc (Bible) và trong Thánh Thư của Job (Book of Job), Ma quỉ được gọi là “con của Chúa Trời”, sao mai sáng chói, Lucifer. Có trọn cả một triết lư về tín điều giải thích tại sao vị Tổng Thiên Thần thứ nhất, xuất phát từ các vực thẳm của Hỗn Mang lại được gọi là Lux (ánh sáng) (Lucifer), “Đứa con chói sáng của Ban Mai” hay b́nh minh của Kỳ Khai Nguyên (Manvantaric Dawn). Giáo hội Cơ Đốc đă biến vị Tổng Thiên Thần này thành Lucifer hay quỉ Satan v́ vị này cao cả hơn và lớn tuổi hơn Jehovah nên phải chịu bị hy sinh cho giáo lư mới.

                                                            (GLBN I, 137–138)

Anima mundi : (xem thêm “Toàn Linh Trí”)

1.      Linh hồn của vạn vật (Soul of all things)

2.      Linh hồn của vật chất                                                            (LVHLT, 321, 33)

Antahkarana (Antaskarana) : X. Giác tuyến.

Antariksa :

     Thế giới của t́nh cảm, tương ứng với cơi cảm dục (X. Cơi và trạng thái tâm thức)                                                (ASCLH, 298)

Anu :

     Nguyên tử nguyên thủy (Primordial atom).   (GLBN I, 204)

Anupadaka :

     Thuật ngữ Anupadaka, tức vô phụ mẫu (parentless) hay vô tổ tiên (without progenitors) là một danh xưng huyền bí có nhiều nghĩa trong triết học chúng ta. Danh xưng này thường dùng để chỉ các Đấng Thiêng liêng (celestial Beings), các Thiền Định Đế Quân (Dhyan Chohans) hoặc Thiền Định Phật (Dhyan Buddhas). Về mặt huyền bí, các Đấng này tương ứng với các Đức Phật và Bồ Tát của nhân loại, được biết dưới danh hiệu Thế Gian Phật (Manushi Buddhas).                  (GLBN I, 123)

Anupadakatattva :

     Vật chất vi tử cơi Đại Niết Bàn                                                   (LVLCK, 56)

Ảo cảm (glamour, huyễn cảm):

   - Ảo cảm có liên quan đến cơi của bản chất t́nh cảm và dục vọng mà mọi h́nh hài có trú sở trong đó. Chính ảo cảm này nhuốm màu mọi cuộc sống của chúng ta và tạo ra các giá trị giả tạo, các ước muốn sai lầm, các nhu cầu được gọi là không cần thiết, các mối bận tâm, lo âu và băn khoăn; nhưng ảo cảm có từ lâu đời và bám sát vào chúng ta đến nỗi dường như chúng ta có thể làm được rất ít.                                          (TBĐC, 118)

   - Aûo cảm chính là ảo tưởng (illusion) trên cơi cảm dục.

                                                                        (ACMVĐCTG,  21)                              

Ảo lực (huyễn lực, maya):

   - Ảo lực liên quan đến các lực của cơi trần (World of physical forces) mà chúng ta đang sống và chính nó có liên quan đến sự cám dỗ đầu tiên (temptation).           (TBĐC, 118)

   - Ảo lực (maya) là kết quả của cả hai thứ: ảo cảm (glamuor) và ảo tưởng.                                                       (ACMVĐTG, 33)

  Ảo giác : (Hallucination)

    Một trạng thái đôi khi do các rối loạn sinh lư gây ra, đôi khi do các trạng thái đồng cốt (mediumship) và đôi khi do t́nh trạng say rượu. Nhưng nguyên nhân tạo ra các linh thị phải được t́m kiếm sâu xa hơn là sinh lư học. Mọi hiện tượng như thế, đặc biệt là khi được tạo ra qua trạng thái đồng cốt, đều được đi trước bằng một sự nới lỏng (relaxation) của hệ thần kinh, việc nới lỏng này bao giờ cũng sinh ra một t́nh trạng từ điện bất b́nh thường (abnormal magnetic condition) vốn dĩ thu hút đến nạn nhân các làn sóng tinh tú quang. Chính các sóng tinh tú quang này  mới mang lại các ảo giác khác nhau, tuy nhiên không phải như cách giải thích của các nhà y học, ảo giác không phải luôn luôn chỉ là các giấc mơ trống rỗng và không xác thực. Không một ai có thể thấy được điều ǵ vốn không hiện hữu - nghĩa là điều ǵ không tạo được ấn tượng - trong hoặc trên các làn sóng tinh tú quang (astral waves). Nhưng người có linh thị (seer) có thể cảm nhận được cá đối tượng và quang cảnh (scenes) (dù cho thuộc về quá khứ, hiện tại hay tương lai) vốn không có mối liên hệ bất kể  như thế nào với chính y. Hơn nữa, y c̣n cảm nhận được nhiều điều hoàn toàn không có liên quan với nhau ở cùng một lúc, đến mức tạo ra các kết hợp vô lư và quái dị nhất. Người say rượu và người có linh thị, người đồng cốt và vị cao đồ đều thấy được các linh thị (visions) của họ thuộc riêng từng người trong tinh tú quang; chỉ có điều là trong khi người say rượu, người bị bệnh tâm thần (madman) và người đồng tử không được luyện tập, hoặc người đang bị viêm năo (brain fever) tuy thấy (bởi v́ họ không thể cản lại việc thấy đó) và nhắc lại các linh thị lộn xộn đó một cách vô ư thức cho chính họ mà không thể kiểm soát được chúng, th́ vị cao đồ và nhà Thấu Thị (Seer) có tập luyện cũng thấy nhưng có sự lựa chọn và kiểm soát các linh thị như thế. Họ biết cần tập trung nhân lực của họ nơi đâu, biết được cách nào để làm ổn định các cảnh tượng mà họ muốn quan sát, và biết làm cách nào để thấy được phía bên kia các lớp phủ bên trên và bên ngoài của tinh tú quang. Đối với hạng người trước, các thoáng thấy như thế vào các sóng (của tinh tú quang – ND) đúng là các ảo giác; c̣n đối với hạng người sau, chúng trở thành sự tái tạo đáng tin cậy của những ǵ thực sự đă xảy ra, đang xảy ra hoặc sẽ xảy ra. Các thoáng nh́n một cách ngẫu nhiên đó do người đồng tử nhận được và các linh thị chập chờn của y dưới ánh sáng dễ nhầm lẫn, th́ dưới ư chí có điều khiển của các vị cao đồ và người có nhăn thông, chúng được chuyển ra thành h́nh ảnh vững vàng, thành cách tŕnh bày trung thực về những ǵ mà vị này muốn thấy bên trong điểm tập trung sự nhận thức của ḿnh.                                (CKMTTL,  255 – 256)

Ảo tưởng (Delusion, illusion, huyễn tưởng):

   Là tiến tŕnh đồng nhất hóa sai lầm, trong đó, Bản ngă tự lừa dối và nói “Ta là h́nh hài”. (I am the form).

                         (ASCLH, 194)

   Ảo tưởng có ảnh hưởng đến cơi trí  nhiều hơn. Nó liên quan đến các quan niệm sống của chúng ta và cuộc sống tư tưởng vốn dĩ nhiều hay ít (mặc dù hầu hết là ít) đang chi phối công việc hằng ngày của chúng ta.                                    (TBĐC, 119)

- Ảo tưởng được dựa vào hoạt động kiến tạo h́nh tư tưởng của hạ trí.                                                             (ACMVĐCTG,178)

-      Huyễn tưởng là t́nh trạng khiên cưỡng đem sự hiểu biết có giới hạn và tri thức thế tục/ t́m thường để giảng giải chân lư cao thâm, hậu quả là phủ lên và che giấu chân lư đó đàng sau đám mây h́nh tư tưởng. Lúc đó, các h́nh tư tưởng này lại trở thành có thực hơn cả chân lư  mà chúng đang che lấp và tất nhiên là kiềm chế việc tiếp cận với Thực Tại của con người.

                                        (ACMVĐCNL, 240) 

Apana :

 

     Một trong năm biến phân của prana, kềm chế từ bí huyệt nhật tùng tới bàn chân, liên quan đến cơ quan bài tiết và sinh dục.                                                                                                                      (ASCLH, 329)

Apastattva :

     Vật chất vi tử cơi cảm dục.                                 (LVLCK, 56)

Armageddon :

            - Việc găy vỡ hay phân chia cuối cùng giữa cái gọi là tà lực và chánh đạo trong chu kỳ thế giới đặc biệt này sẽ xảy ra trong thời kỳ căn chủng 6 của  hiện nay. Vào cuối căn chủng 6, trước khi có sự xuất hiện của căn chủng 7, chúng ta sẽ có trận chiến Armageddon đích thực đă được nói đến rất nhiều. Một chu kỳ nhỏ, tương ứng với trận chiến và chia cách cuối cùng sẽ xuất hiện trong phụ chủng 6 mà hiện nay đang trong tiến tŕnh h́nh thành.                                                                         (LVHLT, 544)

            - Băi chiến trường của hành tinh (planetary kurushetra).                                                                                                                               (TBĐC, 119)

Arupa : X. Vô sắc tướng.

Arupa Loka : (Vô sắc giới)

     Cơi không có sắc tướng (formless world) hay đúng hơn là cơi không có h́nh tướng (world of no form), cơi không có h́nh thể (incorporeal) v́ cư dân (denizens) ở cơi này có thể không có thân thể (body), h́nh dạng (shape), cũng không có màu sắc (colour) như con người chúng ta (mortals) và theo ư nghĩa mà chúng ta dành cho các thuật ngữ này.                                  (PGNM, 70)

Aryasanga : (Đức Vô Trước)

     Đức Aryasanga là một vị Cao Đồ (Adept) thời Tiền Cơ Đốc Giáo và là nhà sáng lập trường phái nội môn Phật giáo, mặc dù không biết v́ lư do nào mà ông Csoma De Koros cho là Ngài sống vào thế kỷ thứ 7 sau T.C. Có một vị Aryasanga khác sống ở thế kỷ đầu kỷ nguyên chúng ta, có lẽ học giả Hungary này lầm lộn hai vị này.                                                (GLBN I, 121)

Asana

     Tọa thế (posture).                                                                                          (ASCLH, 182)

Atlantis :

  Lục địa bị nhận ch́m ở Đại Tây Dương theo giáo lư huyền linh và theo Plato. Atlantis là trú sở (home) của căn chủng thứ tư, ngày nay chúng ta gọi là giống dân Atlantis.            

      (ĐĐNLVTD, 215)

– Chúng tôi gọi tên lục địa thứ tư này là Atlantis (Pháp ngữ: Atlantide). Nếu người ta chú ư đến các truyền thuyết của cổ nhân nhiều hơn từ trước đến giờ th́ lục địa đó sẽ là vùng đất lịch sử hàng đầu. Ḥn đảo trứ danh của Plato mang tên này chỉ là một mảnh của lục địa vĩ đại này.                                    (GLBN III, 21)

A–tu–la (Asura):

Các tinh linh (elementals) có h́nh người, về sau thành người.                                                                                                                        (LVLCK, 615)

Atỳ (Avitchi):

   Một trạng thái ư thức, không nhất thiết chỉ có sau khi chết hay giữa hai lần luân hồi v́ nó có thể cũng xảy ra trên cơi trần. Theo nghĩa đen, nó có nghĩa là “Vô gián địa ngục” (“uninterrupted hell”). Chúng ta được bảo cho biết đó là địa ngục cuối cùng trong số 8 địa ngục, nơi mà “kẻ phạm tội chết và được tái sinh liên miên (without interruption) tuy thế không chút hy vọng cứu chuộc cuối cùng”. Xem SD III, 510, 521, 528 529.                                                                                                      (LVLCK, 705)

   Tuy nhiên, khi nào đó là kết quả của việc cố ư chọn lựa, hoặc là thích làm điều sai trái, bất chấp sự hiểu biết và thách thức cả tiếng nói của bản chất tâm linh, bấy giờ, loại nghiệp quả này sẽ dẫn đến những ǵ mà huyền linh học phương Đông gọi là “Avitchi” hay là “cơi thứ tám” (eighth sphere) một thuật ngữ đồng nghĩa với quan niệm của Thiên Chúa Giáo về t́nh trạng bị mất linh hồn (lost soul). Tuy nhiên, các trường hợp này vô cùng hiếm và có liên quan tới tà đạo và thực hành hắc thuật. Mặc dù t́nh huống này có liên lụy đến việc tách nguyên khí cao nhất (nguyên khí tinh thần thuần túy) ra khỏi hai biểu hiện của nó là linh hồn và thể xác, hay ra khỏi sáu nguyên khí thấp, tuy thế, chính sự sống vẫn c̣n, và sau khi linh hồn bị hủy diệt ở Avitchi th́ chu kỳ biến dịch mới (fresh cycle of becoming) sẽ lại được mở ra.                                             (ASCLH, 390391)

   Avitchi, cơi thứ tám (8th sphere X. chữ này), trú sở của các linh hồn bị đánh mất (lost souls) hay là các thể (shells, lớp vỏ) của Phàm ngă (lower man) vốn đă trở nên tách biệt khỏi Chân Ngă hay nguyên khí sự sống cá nhân.             (LVLCK, 642)

- A-tỳ có nghĩa là “trạng thái không một gợn sóng” (“the waveless state”). Đó là trạng thái tâm thức mà trong đó một người dường như thấy chính ḿnh ở bên ngoài các rung động của Sự Sống Thiêng Liêng.                   (GLASTTĐ, 131)

AUM : Xem thêm Linh từ và Diệu âm

     – Ba linh từ (Words) được Thái Dương Thượng Đế (Solar Logos) truyền lại cho mỗi một trong ba ngôi Thượng Đế (each of the three Logoi) như sau:

a/ Diệu âm A (sacred sound A) cho Shiva, Đấng biểu hiện cho trạng thái tinh thần hay trạng thái ư chí. Đó là Linh từ mà qua đó Đức Chúa Cha hoạt động .

b/ Diệu âm U cho Vishnu, Đức Chúa Con. Ngài là Đấng kiến tạo h́nh tướng (form–builder) và cung ứng cơ thể mà tinh thần phải chiếm hữu, nhờ đó mà việc nhập thế thiêng liêng mới xảy ra được. A là diệu âm của sự sống (life sound), U là diệu âm của h́nh tướng (form sound).

c/ Diệu âm M cho Brahma, Đấng mà với vai tṛ cung ứng năng lượng bằng sự thông tuệ linh hoạt, Ngài đang nối kết tinh thần và sắc tướng hay ngă và phi ngă.                      (ĐĐTDVNL, 153)

     –     Thánh ngữ A.U.M. (chú ư tôi tách mỗi trạng thái của âm tam phân này) đưa trạng thái linh hồn tinh thần xuống đến cơi trần và bám vào đó bằng mănh lực của rung động hướng ra ngoài của nó...

    OM được ngân lên đúng sẽ giải phóng linh hồn ra khỏi lănh vực ảo cảm và t́nh trạng mê hoặc (enchantment). Đó là âm giải thoát, nốt phục sinh vĩ đại và nâng cao nhân loại đến Chốn Huyền Bí của Đấng Tối Cao (Most High) khi mà tất cả các Linh từ (Words) và diệu âm khác đều thất bại. Đó không phải là âm tam phân như là A.U.M., mà là âm lưỡng phân, mang ư nghĩa về mối liên hệ của tinh thần và linh hồn, của sự sống và tâm thức. Linh từ thất truyền này, tượng trưng sự mất mát (loss) trong ba cơi thấp (được tiêu biểu bằng các cấp độ của Thanh giai trong Tam Điểm) phải được phục hồi và ngày nay đang ở trong tiến tŕnh khám phá. Các nhà thần bí đă truy t́m nó; các Hội viên Tam Điểm đă duy tŕ truyền thuyết về sự hiện hữu của nó; các đệ tử và điểm đạo đồ trên thế giới phải chứng tỏ sự sở hữu của nó (its possession).

    Diệu Âm (Sound) là diễn đạt độc nhất của Húy Danh (Ineffable Name), tên gọi huyền bí của Đấng mà trong Ngài chúng ta sống, hoạt động và hiện tồn, và là Đấng được biết đối với Đại Bạch Giai qua danh xưng này. Luôn luôn nhớ rằng danh xưng và sắc tướng, đó là các thuật ngữ đồng nghĩa trong giáo huấn huyền linh, và hai từ ngữ này nắm giữ bí nhiệm của sự biểu lộ ...                                                                    (CVĐĐ, 5253)

Avyakta :

     Vô hiện, không biểu lộ (unmanifest).                          (ASCLH, 100)

Ăn chay (vegetarian):

     Mỗi đệ tử phải là người ăn chay nghiêm nhặt. Bản chất thấp trở nên bị tŕ trệ và nặng nề, c̣n ngọn lửa nội tâm không thể tỏa chiếu khi có thịt trong thức ăn thường ngày (the diet). Đây là qui luật nghiêm nhặt cho những kẻ muốn làm đệ tử (applicants) và không được vi phạm. Kẻ t́m đạo có thể chọn ăn thịt hay không tùy ư, nhưng ở giai đoạn nào đó trên nẻo đạo th́ điều thiết yếu là chấm dứt việc ăn mọi thứ thịt và chú ư nhiều vào thức ăn hằng ngày. Vị đệ tử phải tự giới hạn vào việc ăn rau, đậu, trái cây và quả hạt (nut). Chỉ có như thế y mới tạo được loại thể xác có thể chịu được sự giáng nhập của Chân Nhân và đứng trước Đấng Điểm Đạo trong các thể tinh anh của ḿnh.                                           (ĐĐNLVTD, 196197)

Âm binh/ Aâm binh nhân tạo: Evil genii, Artificial elementals: Xem Đạo binh âm thanh.

Âm hỏa kỳ kinh: X. Tả hỏa kỳ kinh (Ida)

Âm ma (elementaries) :

     Trú sở (abode) của các âm ma là Kama–Loka (Dục giới).                                                                                                                                     (LVLCK, 736)

Âm ma và ma h́nh (Elementary and shell):

     Trong trường hợp của người chết trước thời gian ấn định (dying prematurely), nguyên khí thứ năm (nhân hồn–ND) không thể tách ra khỏi nguyên khí hồng trần (earthly principle) tức nguyên khí thứ tư (sinh hồn–ND). Do đó, vào lúc bị đẩy mạnh ra khỏi xác thân, âm ma rơi vào Kama loka. Âm ma (elementary) này không  phải là một ma h́nh đơn thuần (mere shell) mà đó chính là con người, kẻ mà mới đây hăy c̣n sống, không thiếu mất ǵ cả trừ thể xác, người này không chết chút nào theo nghĩa đích thực của từ ngữ đó.

     Điều chắc chắn là các âm ma thuộc loại này có thể giao tiếp rất hiệu quả ở các buổi cầu đồng (spiritual seances) với cái giá nặng phải trả của họ, bởi v́ thật không may, do chỗ c̣n đầy đủ cấu tạo cảm dục (astral constitution), chúng có thể tiếp tục tạo ra nghiệp quả (go on generating Karma), làm dịu nỗi khát sống (thirst for life) của ḿnh bằng yếu tố thúc đẩy (spring) của t́nh trạng đồng cốt.                           (PGNM, 83)

Âm thanh (sound, âm)

     - Thật là điều hiển nhiên khi nói rằng âm thanh là màu sắc và màu sắc là âm thanh...

     Xin bạn luôn luôn nhớ rằng  mọi âm thanh đều tự biểu hiện thành màu sắc.                                                                                          (TVTTHL, 205)

     - Âm thanh sản sinh ra, hay đúng hơn là thu hút các nguyên tố lại để tạo ra một ozone, việc chế tạo chất này ở ngoài t́m tay của ngành hóa học, nhưng ở trong các ranh giới (limits) của khoa luyện kim đan (alchemy). Âm thanh có thể làm hồi sinh (resurrect) ngay cả một người hoặc một con thú mà thể dĩ thái (astral “vital body”) chưa hoàn toàn tách ra khỏi thể xác bởi sự gián đoạn của tuyến từ điển (magnetic or odic chord). Với tư cách một người được cứu sống ba lần bằng quyền năng này, tác giả (tức bà H.P.Blavatsky-ND) có đủ uy tín để nói là bản thân ḿnh biết được ít nhiều về điều đó.            (GLBN II, 279)

Ấn Độ với Huyền linh học (India and occultism):

     Một trong những trở ngại chính đối với việc hiểu một cách chính xác các định luật của huyền linh học và áp dụng vào thực tế là sự tương đối non trẻ (newness) của Tây Phương và các thay đổi nhanh chóng vốn là đặc điểm nổi bật của văn minh Âu Châu và Mỹ Châu. Lịch sử Châu Âu chỉ mới có từ ba ngàn năm, c̣n lịch sử của Châu Mỹ, như chúng ta đă biết, chỉ mới có vài thế kỷ. Huyền linh học phát triển mạnh (florish) trong một bầu không khí được chuẩn bị trong một môi trường thấm nhuần từ điển cao siêu (highly magnetised environment) và trong một t́nh trạng được sắp đặt vốn dĩ là kết quả của công việc lâu đời trên cơi trí.

     Đây là một lư do giải thích tại sao Ấn Độ lại là nơi trường sở thích hợp cho nỗ lực tu tập (endeavour). Kiến thức huyền linh học ở nơi đây có từ mười ngàn năm qua và thậm chí thời gian cũng đă ghi dấu lên cơ thể con người, đem lại cho con người các thể vốn không hứng chịu sự đối kháng nào mà các thể của người Tây Phương rất thường vướng phải. Đă từ lâu, môi trường được thấm nhuần bằng các rung động mạnh mẽ của các Đấng Cao Cả đang ngự bên trong xứ ấy, và, trong khi qua lại và do sự thân cận của các Ngài, các Ngài không ngừng từ hóa chất dĩ thái của môi trường. Chính điều này tạo ra một đường lối dễ dàng khác nữa, v́ việc từ hóa chất dĩ thái (etheric magnetisation) có ảnh hưởng đến thể dĩ thái của số người được tiếp xúc. Cả hai sự kiện này, thời gian và độ rung động cao, có kết quả là tạo sự ổn định cho tiết tấu vốn làm dễ dàng cho việc rèn luyện huyền linh và tạo được môi trường yên tĩnh cho việc thanh tu.

     Các t́nh trạng này không có được ở phương Tây, nơi mà sự sống luôn luôn thay đổi, nơi mà cảnh hoạt động thường chuyển đổi nhanh chóng, tạo ra những vùng xáo trộn rộng lớn, làm cản trở bất cứ công tác nào có bản chất huyền thuật.  

                          (LVHLT, 78–79)

Ấn tín của vua Salomon (Salomon’s seal):

     - “Sáu hướng (directions) của Không Gian” có nghĩa là “Tam Giác Đôi” (“Double Triangle), tức sự liên kết (junction) và phối hợp (blending) của Tinh thần và Vật chất, của Vô sắc tướng (Arupa) và sắc tướng (Rupa) mà các H́nh Tam Giác là một Biểu Tượng. Tam Giác đôi này là một dấu hiệu (sign) của Vishnu; đó là Ấn Tín của vua Salomon, và Shri–Antara của những người Bà La Môn (Brahmans).            (GLBN I, 177)

     - Biểu tượng tam giác đôi, được Hội Theosophy và nhiều nhà nghiên cứu Minh Triết Thiêng liêng (Theosophists) chấp nhận. Lư do tại sao nó được gọi là “Ấn Solomon” c̣n là một bí mật, ngoại trừ việc nó từ Iran du nhập vào Âu Châu. Tại Iran có nhiều câu chuyện về nhân vật thần thoại đó và ông ta dùng cái ấn huyền diệu đó để bắt và nhốt loài yêu tinh (djins) trong các lọ cổ. Nhưng ở Ấn Độ, dấu ấn hay tam giác đôi cũng được gọi là “Dấu hiệu của Vishnu” (“sign of Vishnu”) và có thể nh́n thấy trong nhà của mọi làng mạc dưới h́nh thức lá bùa trị ma quỷ. Tam giác này rất linh thiêng và được dùng như là kư hiệu tôn giáo ở Viễn Đông từ lâu trước khi Pythagoras tuyên bố rằng nó là h́nh h́nh học  đầu tiên, cũng như là h́nh huyền bí nhất. Nó cũng được t́m thấy trên kim tự tháp và tháp bia (obelisk) và mang nhiều ư nghĩa thần bí giống như mọi tam giác.                          (NGMTTL, 303)

Ấn tượng (Impression):

   Đối với người t́m đạo và đặc biệt là đối với vị đệ tử hữu thức, ấn tượng cần được xem xét đến từ 4 cội nguồn:

     1/ Từ linh hồn riêng của vị đệ tử.

     2/ Từ Huyền Viện mà vị đệ tử đă được gia nhập.

     3/ Đến trực tiếp từ Chân Sư.

     4/ Từ Tam Thượng Thể Tinh Thần, xuyên qua giác tuyến.

     ... Cần nên nhớ rằng Khoa học về Ấn Tượng này thực ra là khoa học để tạo ra h́nh tư tưởng, đem sinh khí cho h́nh tư tưởng (thoughtform vitalisation) và định hướng cho h́nh tư tưởng (thoughtform direction); chỉ có đệ tử nào đă trải qua các tiến tŕnh Điểm đạo Biến Dung và không c̣n là nạn nhân của riêng Phàm ngă của ḿnh nữa mới có thể được giao phó cho một chu tŕnh quyền lực nguy hiểm như thế.

     Khoa học về Ấn Tượng này là nền tảng cho việc thực hành viễn cảm.                                                                                                             (VCVTDT, 8687)

Âu Châu (Europe):

     Lục địa thứ năm là Mỹ Châu (America), nhưng v́ nó nằm ở các điểm đối chân (antipodes) nên chính Âu Châu và Tiểu Á (Asia Minor) hầu như cùng tuổi (coeval, cùng thời) với nó mới thường được các nhà Huyền linh học Ấn Aryan (Indo–Aryan) xem như là lục địa thứ năm. Nếu giáo lư của họ căn cứ theo sự xuất hiện của các lục địa theo tŕnh tự địa chất và địa lư th́ bây giờ cách phân loại này phải được thay đổi. Nhưng v́ tŕnh tự của các lục địa được xếp theo thứ tự tiến hóa của các giống dân, từ giống dân I đến giống dân 5, tức căn chủng Aryan chúng ta nên Âu Châu phải được gọi là lục địa thứ năm. Giáo lư Huyền bí không tính các đảo và bán đảo, cũng không tuân theo cách phân chia của địa lư học hiện đại về đất liền và biển. Từ ngày có giáo lư tối cổ và châu Atlantis bị hủy diệt, diện mạo của Địa cầu đă thay đổi nhiều lần. Vùng châu thổ Ai Cập và Bắc Phi đă có lúc thuộc về Châu Âu trước khi eo biển Gibraltar được tạo thành và có thêm một xáo trộn nữa của lục địa đă hoàn toàn thay đổi bản đồ Châu Âu. Sự thay đổi lớn lao cuối cùng đă xảy ra cách nay khoảng 12.000 năm và được nối tiếp bằng việc đắm ch́m của ḥn đảo nhỏ bé thuộc châu Atlantis của Plato mà Plato gọi đó là Atlantis dựa theo lục địa tổ tiên của nó.                                    (GLBN III, 21-22)

 

 

                                                     


 

                                                                                             

 

 

 

 

 

 

B

 

 

Ba cơi thấp (three worlds):

     Ba cơi thấp tức là cơi hồng trần, cơi cảm dục và cơi hạ trí (the physical, emotional and mental planes).          (TVTTHL, 5)

Ba hiện thể tuần hoàn (three periodical vehicles):

     Ba hiện thể tuần hoàn là ba cung của Chân Thần, Chân Ngă và Phàm Ngă.                                                                 (TLHNM II, 295–296)

Ba-la-mật (Pāramitās):

     - Sáu hạnh siêu việt (six transcendal virtues); với tu sĩ th́ có mười.

     - Các ba-la-mật gồm : Bố thí (Dāna), Tŕ giới (Shīla), Nhẫn nhục (Kshānti, Xă ly (Virāya), Dũng lực / tinh tấn (Vīrya), Thiền định (Dhyana).                         (TNVT, 241, 178)

Ba Ngôi (Trinity):

     Cha ( Father)

     Con (Son)

     Thánh Thần (Holy Spirit)                                                                      (CTHNM, 631)

Bardo (Gián Kỳ Luân hồi)

     Bardo là thời kỳ giữa lúc chết và lúc tái sinh, có thể kéo dài từ một vài năm đến một thiên kiếp (Kalpa). Nó được chia thành ba thời kỳ phụ (sub–periods):

     1/ Khi Chân Ngă bỏ cuộn dây hữu tử, tiến nhập vạ Dục giới (Kama Loka) (trú sở của các Âm ma, Elementaries).

     2/ Khi Chân Ngă nhập vào “Trạng thái Tụ Sinh” (“Gestation State”).

     3/ Khi Chân Ngă được tái sinh vào cơi sắc tướng của Devachan.                                                                                                                  (LVLCK, 736)

Bác ái, Ḷng bác ái (love) X. T́nh thương

Bán chính bán tà: (The black white): Tức là những ǵ không hoàn toàn tốt (all good), mà cũng chẳng hoàn toàn xấu (all bad)                                                                      (ASCLH), 391)

Báo thân (Sambhogakaya):

     Báo thân cũng giống như ứng thân, nhưng có thêm vẻ rực rỡ (lustre) của ba điều hoàn thiện, một trong ba hoàn thiện này là việc hoàn toàn xóa bỏ tất cả các mối liên quan với cơi trần.                 (LVLCK, 1193)

Bát chánh đạo (Noble Eightfold Path):

   1. Chánh tín (Right values)

   2. Chánh tư duy (Right Aspiration)

   3. Chánh ngữ (Right Speech)

   4. Chánh nghiệp (Right Conduct)

   5. Chánh mạng (Right Mode of Living)

   6. Chánh tinh tấn (Right Effort)

   7. Chánh niệm (Right Thinking)

   8. Chánh định (Right Rapture or True Happiness)

(SHLCTĐ, 463)

Bát nhă (Prajnơa/ Pragna, trí huệ):

     ... Đây là nguyên khí (principle) giúp cho sự Giác Ngộ (Enlightement) có thể xảy ra nơi chúng ta cũng như nơi Đức Phật (Buddha). Không có trí huệ th́ không thể có sự giác ngộ, đó là quyền năng tâm linh cao siêu nhất (highest spiritual power) mà chúng ta có được. Trí tuệ (the intellect) ... có hoạt động tương đối của nó ...Trước khi được giác ngộ, Đức Phật chỉ là một con người b́nh thường và chúng ta, tức những người b́nh thường, sẽ trở thành Phật vào lúc mà con mắt trí tuệ (mental eyes) của chúng ta mở ra cho sự Giác Ngộ.     

                                                                        (TTTĐTG, 188)

- Pragna đồng nghĩa với Mahat, Toàn Linh Trí (Universal Mind). Năng lực nhận thức. Tâm thức .           (NGMTTL, 259)

- Pragna là minh triết riêng của các Dhyan Chohans.

 (CKMTTL, 135)

Bàng môn ( Black Lodge): X. Hắc thuật.

   (Bàng : bên cạnh, một bên; môn phái đi lệch một bên).

Bản chất thông linh hạ đẳng (Lower psychic nature):

     Bản chất thông linh hạ đẳng là thuật ngữ được dùng trong huyền linh học để chỉ các tiến tŕnh của hạ trí (lower mind processes) cũng như là chỉ các phản ứng t́nh cảm hay cảm dục (astral or emotional reactions).                                     (ASCLH, 14)

Bản Lai Diện Mục (Presence):

     Là Tinh Thần, là Chân Thần, là Linh Ngă.             (ASCLH, 8)

     Bản Lai Diện Mục là mănh lực thúc đẩy đàng sau mọi thiên khải và thực ra đó là Thượng Đế Nội Tại (God Immanent), bao giờ cũng cố gắng để được thừa nhận và ngoài ra chính Ngài bị thôi thúc bởi sự kiện về Thượng Đế siêu việt (God Transcendent).                                              (ACMVĐTG, 176)

     - Tức Thượng Đế Nội Tại.                         (ACMVĐTG, 162)

     - Trong con người có hai năng lượng chính yếu bám chặt: một không được hiểu rơ mà chúng ta gắn cho tên gọi là Bản Lai Diện Mục, c̣n một được hiểu rơ mà chúng ta gọi là Thiên Thần Bản Lai Diện Mục. Đó là linh hồn (Thái dương thiên thần) và Chân Thần. Một biểu hiện cho cung Chân Thần, một tượng trưng cho cung linh hồn, và cả hai năng lượng này chi phối Phàm Ngă một cách linh hoạt hoặc một cách tinh tế.  

                                                                  (CTNM, 590)

Bản năng (Instinct):

     Bản năng nằm dưới tŕnh độ của ư thức, nhưng bảo tồn và chi phối đa số các thói quen và sự sống của cơ thể. Nhiều lối sống theo t́nh cảm bị chi phối như thế.

     Bản năng kềm chế xuyên qua bí huyệt nhật tùng (solar plexus) và các bí huyệt thấp.                                   (TLHNMII, 232)

     - Bản năng tức là các kinh nghiệm được tích lũy lại do di truyền trong các h́nh hài mới (new forms).         (MTNX, 211)

Bản năng tinh thần (Spiritual instinct)

     Bản năng tinh thần là khía cạnh thấp nhất của trực giác, cho thấy việc sẵn sàng được điểm đạo lần I.    (ĐĐTKNM II, 267)

Bản năng trực giác (Intuitive instinct):

     Tri giác tinh thần (spiritual perception) tức bản năng trực giác có nghĩa là việc chuẩn bị sẵn sàng (preparedness) cho việc điểm đạo Biến Dung, tức điểm đạo lần 3.            

                                       (ĐĐTKNM II, 267)

Bản sắc (Colouring) : X. Sắc thái.

Bản thể (Essential):

     Khi một thành viên (member) của Thánh Đoàn dùng chữ “essential”, Ngài không muốn nói (như bạn thường làm) những ǵ cần thiết hay thiết yếu mà là đề cập tới bản chất sâu kín nhất (inmost essence) đang nằm ở tâm của tất cả mọi vật, cả tốt lẫn xấu.                                                                      (CVĐĐ, 727)

Bản thể thấp (Lower nature, Phàm Ngă):

     Thể xác, thể cảm dục và thể hạ trí.                               (LVHLT, 282)

Bản tố (Element, yếu tố): X. Yếu tố, tứ đại, hợp tố …

     Thuật ngữ “bản tố” được giới hạn vào các chất căn bản (basis substances) trong cái được gọi là vật chất căn bản (essential matter) và nhà hóa học cũng như nhà vật lư học đều bận tâm đến các sự sống như thế.                                             (LVLCK, 1062)

Bản tố vũ trụ (cosmic element, nguyên tố vũ trụ):

     Khoa học huyền bí (occult Science) nh́n nhận rằng có bảy bản tố vũ trụ (7 cosmic elements), bốn cái hoàn toàn vật chất, c̣n cái thứ năm, dĩ thái (ether) th́ bán vật chất (semi–material). Vào cuối  cuộc tuần hoàn thứ tư của chúng ta, chất dĩ thái sẽ trở nên hữu h́nh trong không khí, để ngự trị trên các chất khác trong suốt  cuộc tuần hoàn thứ năm. Hai bản tố c̣n lại cho đến nay vẫn c̣n hoàn toàn ngoài t́m nhận thức của con người. Tuy nhiên, chúng sẽ xuất hiện trong giống dân thứ sáu và thứ bảy của cuộc tuần hoàn này và sẽ trở nên được biết tới lần lượt trong cuộc tuần hoàn thứ sáu và thứ bảy. Bảy bản tố này cùng với vô số các bản tố phụ (sub–elements), nhiều hơn số mà khoa học biết được, chỉ là các biến thể phụ thuộc (conditional modifications) và các trạng thái phụ của cái Duy Nhất (the One) và bản tố duy nhất (Only Element). Bản tố duy nhất này không phải là Dĩ Thái, cũng không phải là Akasha mà là cội nguồn (source) của cả hai. Bản tố thứ năm này (hiện nay được khoa học sẵn sàng nh́n nhận) không phải là chất Dĩ Thái theo giả tưởng của Sir Isaac Newton – mặc dù ông này dùng danh xưng dĩ thái để gọi bản tố đó, có lẽ là lúc ấy ở trong trí ông liên kết bản tố Ether với Aether, “Phụ Mẫu” của thời xưa. Do trực giác mà Newton nói: “Thiên nhiên là tay tạo tác liên hoàn (perpetual circulatory Worker) tạo ra chất lỏng từ chất đặc, chất đặc từ chất hơi, chất hơi từ chất đặc, chất tinh anh từ chất thô trược, chất thô trược từ chất tinh anh… Như vậy, có lẽ mọi vật đều có nguồn gốc từ Ether”.        (GLBN I, 78–79)

Bạn tâm giao: (soul mate, bạn tri kỷ)

   Có thể bạn từng nghe nói rằng, mỗi người đều có một điều ǵ đó được biết dưới tên gọi là bạn tâm giao và bạn sẽ luôn luôn t́m kiếm một người như thế. Bạn tâm giao hoàn toàn có thật, v́ từ thuở ban sơ, lúc mà huyền lực sự sống (life force) được Quyền Năng Thiêng Liêng (Divine Power) xạ ra, huyền lực đó ḥa nhập vào sự sống dưới h́nh thức song sinh (twin,forms), một có tính dương,một có tính âm. Cả hai h́nh thức này tiến hóa hoàn toàn riêng biệt, mỗi bên đều có chỉ tiêu (quota) các kiếp sống trong các thân xác nam và nữ của ḿnh. Nhưng vào các cơ hội đặc biệt khi một việc quan trọng phải được thi hành, th́ cả hai thực thể này đôi khi được đưa vào cùng nhau, v́ cảm hứng của  một bên giúp cho bên kia xúc tiến công việc vĩ đại cần phải được hoàn thành…

   Dĩ nhiên đó là sự ḥa hợp hoàn hảo của dương và âm, của nam và nữ trong thiên nhiên. Đối với chúng ta, không phải luôn luôn là việc tốt lành, khi có các kiếp sống với bạn tri kỷ của chúng ta, v́ dưới các hoàn cảnh như thế, chúng ta sẽ có khuynh hướng trở thành rất ích kỷ; chúng ta sẽ không bao giờ học được cách nh́n sự vật theo quan điểm của những người khác; đối phó với các ư kiến trái ngược; nhân nhượng để đạt được chút ǵ đó, c̣n hơn là giữ lập trường cứng rắn mà không tạo được ǵ cả.                                                (CKDCLH,  70, 71)

Bảy Đấng Thánh của Đại Hùng Tinh (Seven Rishis of the Great Bear):

     Các nguyên mẫu (prototypes) của bảy Hành Tinh Thượng Đế.                                                                                                                  (ASCLH, 82)

Bảy Huyền Quang của Thái Dương (seven mystic rays of the sun):

     Tên gọi của Bảy Tia Sáng này là Sushumna, HariKesa, VisvaKarman, Visva–tryarchas, Sannaddha, Sarvavasu và Svaraj, tất cả đều huyền bí. Mỗi tên gọi đều có ứng dụng riêng biệt của nó trong một trạng thái ư thức riêng biệt dành cho các mục tiêu huyền linh. Tuy nhiên, như có nói đến trong NirKuta (II, 6), tia Sushumna là tia sáng mà các nhà Yoga được điểm đạo ưa chuộng. Toàn bộ Bảy Tia Sáng trải qua khắp Thái Dương Hệ tạo thành Upadhi (cơ sở – basis) vật chất (tạm gọi thế) của ether trong khoa học. Trong Upadhi này, ánh sáng, nhiệt, điện vv…, các thứ lực (forces) của khoa học chính thống liên kết lại để tạo ra các hiệu quả của chúng ở trên mặt đất. Dưới h́nh thức các hiệu quả tâm linh và tinh thần, chúng bắt nguồn từ Upadhi siêu thái dương (supra–solar), trong Dĩ Thái (Ether) của nhà huyền linh học hay là Akasha.     

                                                                   (GLBN II, 240)

Bảy Nhánh Tri Thức (Seven branches of Knowledge):

     Trong “Giáo Lư Bí Nhiệm”, chúng ta được dạy rằng có bảy nhánh tri thức được nói đến trong Kinh Puranas –SD I, 192.

     Ở đây, các tương ứng có thể nêu ra liên quan với:

     a/ Bảy Cung, các Tinh quân Hy sinh, Bác ái và Tri thức.

     b/ Bảy trạng thái ư thức (States of consciousness)

     c/ Bảy trạng thái vật chất hay cảnh giới.

     d/ Bảy loại thần lực.

     e/ Bảy cuộc điểm đạo và nhiều thất bộ (septenates) khác.

     Tri thức thuần túy (Gnosis), Tri thức ẩn tàng là Nguyên Lư (Principle) thứ bảy, sáu triết phái Ấn Độ (schools of Indian phylosophy) là sáu nguyên lư – SD I, 299.

     Sáu trường phái này là:

     a/ Trường phái Luận lư (school of logic) …Bằng chứng của tri giác đúng đắn (proof of right perception)

     b/ Trường phái nguyên tử (Atomic school). Hệ thống các sự kiện (particulars). Các bản tố (elements). Luyện đan và hóa học.

     c/ Trường phái số luận (sankhya school). Hệ thống các số. Trường phái duy vật. Lư thuyết về 7 trạng thái vật chất hay prakriti.

     d/ Trường phái Yoga (school of Yoga). Sự hợp nhất (union). Quy tắc của đời sống hằng ngày. Thần bí học (Mysticism).

     e/ Trường phái tôn giáo nghi lễ (school of ceremonial religion). Nghi thức (ritual). Thờ phụng thiên thần hay các thần (gods).

     f/ Trường phái Vedanta có liên quan đến phi nhị nguyên (non duality) bàn về liên hệ của atma nơi người với Thượng Đế .

     Tri thức thuần túy (gnosis) hay tri thức ẩn tàng (hidden knowledge) th́ tương tự như Atma Vidya (Minh triết Tinh thần) hay Minh Triết Thiêng Liêng (Theosophy) và bao gồm 6 trường phái kia.                                                                                             (LVLCK, 285)

Bảy Vũ Trụ Đạo (Seven Cosmic Paths, 7 siêu đạo):

            - Bảy Siêu Đạo mà vị Chân Sư phải giáp mặt (confront) là:

1.         Siêu Đạo Phụng Sự Thế Gian (Earth Service) dẫn đến cơi cảm dục vũ trụ.

2.         Siêu Đạo Công Tác Từ điển (Magnetic Work) dẫn đến cơi cảm dục vũ trụ.

3.         Siêu Đạo Huấn Luyện để trở thành các Hành Tinh Thượng Đế, dẫn đến các phân cảnh cao của cơi trí vũ trụ.

4.         Siêu Đạo đến Sirius, dẫn đến cơi cảm dục vũ trụ.

5.         Siêu Đạo của Cung (Ray Path), đưa đến cơi trí vũ trụ.

6.         Siêu Đạo mà chính Thái Dương Thượng Đế đang đi, đưa đến cơi Bồ Đề vũ trụ.

7.         Siêu Đạo T́nh trạng Con Tuyệt Đối (Absolute  Sonship), đưa đến cơi trí vũ trụ.                                    (CVĐĐ, 399)

 

     - Đạo sinh phải thận trọng phân biệt giữa bảy vũ trụ đạo (bảy Siêu Đạo) này với bảy con đường mà tất cả nhân loại phải bước lên (đă được bàn ở trước trong bộ luận này). Như chúng ta đă thấy bảy con đường huyền cung (ray paths) trở thành ba khi các đơn vị trên bốn cung thứ yếu tự phối hợp thành một trong ba cung chính yếu. Ba cung này hợp thành cung tổng hợp Bác Ái – Minh triết vào lúc các con của nhân loại đạt được các cuộc điểm đạo cuối cùng trong Thái Dương Hệ. Khi đạt đến giai đoạn này và khi con người hiểu được sự hợp nhất của Thái Dương Hệ không những chỉ bằng lư thuyết mà c̣n bằng thực tế mà chính họ đă tự đồng nhất hóa, bây giờ sẽ nảy sinh nơi tâm thức của họ một điều ǵ đó siêu việt toàn bộ tâm thức và chỉ có thể được diễn tả bằng một từ ngữ có giới hạn là sự  đồng nhất hóa (identification). Sự đồng nhất hóa này là một tiến tŕnh vũ trụ chứ không phải tiến tŕnh Thái Dương Hệ và chính nó có bản chất thất phân. V́ lẽ thiếu một thuật ngữ thích hợp hơn, chúng ta gọi tiến tŕnh thất phân này là Bảy Con đường Vũ trụ (sevenfold cosmic path).                 (LVLCK, 1242)

Bắc cực quang và Nam cực quang (Aurora Borealis and Autralis):

     Âm thanh (Sound) là đặc tính của Akasha (Ether), nó sinh ra không khí mà tính chất là xúc giác; do cọ xát, không khí tạo nên màu sắc và ánh sáng”. (Kinh Vishnu Purana, q. I, chương II, trang 34, 35)

     Có lẽ câu trên đây sẽ bị xem như một điều cổ lỗ vô nghĩa (non sense) nhưng nó sẽ dễ hiểu hơn nếu độc giả nhớ rằng Bắc Cực Quang và Nam Cực Quang, cả hai đều xảy ra ở chính các trung tâm điện lực và từ lực của địa cầu. Hai cực này được xem là các kho chứa, nơi tiếp nhận (receptacles) và giải tỏa (liberators) cùng một lúc sinh lực (điện lực) của vũ trụ và địa cầu, nếu không có hai van (valve) an toàn tự nhiên đó, số điện lực thặng dư đó có lẽ làm cho địa cầu vỡ tan thành mảnh vụn từ lâu. Đồng thời, chính giả thuyết trên gần đây đă trở thành sự thật, đó là hiện tượng ánh sáng ở hai cực thường đi kèm và tạo ra các âm thanh dữ dội, giống như tiếng gió rít, tiếng hú và tiếng nổ.                                                                 (GLBN I, 253–254)

Bắc Phạn ngữ: (Sanskrit): là ngôn ngữ của các Thần Linh (Gods)                                                                    (GLBN I, 313)

Bất đắc kỳ tử (Accident, chết đột ngột)

    Những kẻ “bất đắc kỳ tử” tốt bụng và trong sạch (khi bị chết đột ngột sẽ giống như -ND) ngủ trong Akasa (chất dĩ thái không gian, v..v..-ND) không biết ǵ đến t́nh trạng thay đổi của họ.

    Những kẻ rất hung ác và không thanh tịnh (impure), phải chịu mọi hành hạ (tortures) của một loại ác mộng kinh khiếp. Đa số kẻ bất đắc kỳ tử - không thật tốt mà cũng không thật xấu, các nạn nhân của tai nạn hoặc bạo hành (kể cả kẻ bị ám sát) -th́ có một số ở trạng thái ngủ, một số khác trở thành các loại quỉ trong Thiên Nhiên (Nature pisachas) - xem mục từ “Quỉ” -ND), trong khi đó một thiểu số có thể trở thành nạn nhân cho hạng đồng cốt, và rút ra một tập hợp các uẩn (Skandhas) mới nơi đồng tử nào thu hút chúng. Số này có thể không nhiều, số phận của chúng có thể là đau buồn nhất.

(Thư của Ch. S.  239)

Bất măn thiêng liêng: (Divine discontent)

    Thường thường người hài ḷng thỏa nguyện, tương đối có hạnh phúc (the contented, relatively happy man) là người thu thập học hỏi ít nhất trong kiếp sống, v́ người đó có khuynh hướng vẫn ở nguyên tại chỗ (remain static); tốt hơn là nên vun trồng ở nội tâm mối bất măn thiêng liêng khiến cho luôn luôn muốn vươn tới hướng đến các thành tựu mới mẻ. 

                                                      (VLH,   111)

Bất tổn hại (Harmlessness, vô tổn hại, không gây tổn hại, Ahimsa):

     Điều này bao gồm các hành động ở cơi trần của một người, v́ các hành động đó có liên quan đến mọi h́nh hài của biểu hiện thiêng liêng và đặc biệt có liên quan đến bản chất sức mạnh (force nature) hay là năng lượng mà người đó biểu hiện qua các hoạt động ở cơi trần của ḿnh. Y không gây đau khổ hay làm tổn thương bất cứ ai.                                (ASCLH, 184185)

     Bất tổn hại là tác nhân chính yếu (major agent) đối với việc làm cho cân bằng (offsetting) nghiệp quả.  (CTNM, 295)

     Do đó, bạn có thể thấy lư do tại sao tôi rất nhấn mạnh vào việc cần có đức tính không gây tổn hại nơi tất cả các bạn v́ đó là phương pháp khoa học (một cách tuyệt diệu, và nói về mặt huyền môn) để tẩy sạch con người và để thanh lọc các bí huyệt. Việc thực hành đức vô tổn hại sẽ làm thông suốt các vận hà bị tắt nghẽn và để cho các năng lượng  cao siêu tiến nhập vào.                                                                        (CTNM, 40)

     Thực hành đức vô tổn hại để chận đứng việc tạo nhân và để ngăn chận bất cứ cách diễn biến thêm nào của t́nh trạng bất hạnh (nhất là do bệnh tậtND).                                                  (CTNM, 296)

     Hăy để cho đức bất tổn hại trở thành chủ âm của kiếp sống của bạn. Buổi tĩnh tâm chiều tối nên được tiến hành hoàn toàn theo đường lối này, chia việc tĩnh tâm (review work) làm 3 phần và xét:

     1. Vô tổn hại trong tư tưởng. Điều này sẽ đưa đến kết quả trong việc kềm chế lời nói.

     2. Vô tổn hại trong phản ứng t́nh cảm. Điều này sẽ đưa đến kết quả trở thành vận hà cho trạng thái bác ái của linh hồn.

     3. Vô tổn hại trong hành động. Việc này sẽ tạo ra sự cân bằng, khéo léo trong hành động và đưa đến ư chí sáng tạo.

     (LVHLT, 103)

     Người t́m đạo phải sống một cách vô tổn hại (harmlessly) trong tư tưởng (thought), lời nói (word) và hành động (deed). Bằng cách này, mỗi người trong các bạn sẽ cung ứng một vận hà tinh khiết, sẽ trở thành một tiền đồn cho tâm thức của Chân Sư và cung ứng một trung tâm năng lượng mà qua đó t́nh huynh đệ có thể tác động.                                                      (LVHLT, 354)

     - Không gây tổn hại vốn là đặc tính nổi bật của moiï người con của Thượng Đế. Không gây tổn hại nghĩa là không nói lời nào có thể làm tổn thương kẻ khác, không nghĩ đến bất cứ ư tưởng nào có thể gây đau khổ (poison) hoặc tạo ra hiểu lầm, không làm một hành động nào có thể gây thương tổn (hurt), dù là tối thiểu cho huynh đệ ḿnh – đây là đức tính quan trọng nhất (main virtue) sẽ giúp cho đạo sinh huyền môn (esoteric student) bước một cách an toàn trên con đường phát triển khó khăn.                                                                     (SHLCTĐ, 20)

Bất tưû (Immortality):

   – Việc gia tăng số người có năng lực sử dụng mắt thứ ba đă được hoạt động trở lại sẽ chứng minh được sự bất tử v́ họ sẽ thấy được một cách dễ dàng người nào đă vứt bỏ thể dĩ thái cũng như thể xác của ḿnh.                                           (CTNM, 412413)

     – Trong Kinh Vishnu Purana, q. II, chương VIII có nói: “Bất tử có nghĩa là tồn tại đến cuối Thiên kiếp” (“By immortality is meant existence to the end of the Kalpa”), và dịch giả Wilson có cước chú như sau: “Theo kinh Vedas, đây là tất cả những ǵ phải được hiểu về sự bất tử (hay trường tồn – eternity) của các thần (gods); các ngài tan biến (perish) vào lúc cuối khi vũ trụ tan ră (tức Pralaya – quy nguyên) c̣n triết lư nội môn (Esoteric Philosophy) nói: “Các Ngài không tan biến” mà là được tái hấp thu (re–absorbed).                                           (GLBN I, 109)

Bầu hành tinh (Globe):

   Một bầu hành tinh cùng với 7 giống dân của nó tương ứng với một loạt riêng biệt các lần luân hồi liên quan đến một người, đang luân hồi hay không, v́ tất cả các bầu hành tinh đều không cùng ở trên các mức độ vật chất.             (LVLCK, 383)

Bethlehem :

     Bethlehem là “nhà chứa bánh ḿ” (“house of bread”), một thuật ngữ huyền linh, có nghĩa là kinh nghiệm ở cơi trần.

     (LVLCK, 569)

Bè phái, nguyên nhân : X. Cuồng tín và bè phái.

Bể lửa (Sea of fire, Hỏa hải):

     -Bể lửa là biến phân của vũ trụ năng (Fohat) ở cơi của Sự sống Thiêng liêng (Plane of divine Life), Cơi Tối đại Niết Bàn (Adi).                                                                                                                                               (LVLCK, 43)

     –     Vật chất của cơi cao nhất (cơi Adi–ND) thường được gọi là “bể lửa” và nó là cội rễ của Akasha.         (LVLCK, 79)

Bệnh tật (Disease):

   1. Mọi bệnh tật đều là sự mất hài ḥa (disharmony) và thiếu sự chỉnh hợp (alignment) cùng sự kiềm chế (control).

a) Bệnh tật có trong tất cả bốn giới của thiên nhiên.

     b) Bệnh tật thật ra là sự thanh lọc (purificatory).

     c) Các phương pháp chữa trị nhất định đều đặc biệt cho nhân loại và bắt nguồn ở thể trí (mental in origin)

   2. Bệnh tật là một sự kiện (a fact) trong thiên nhiên.

  a) Đối kháng (antagonism) với bệnh tật chỉ làm kích hoạt (energise) nó.

     b) Bệnh tật không phải là kết quả của cảm nghĩ sai lầm của con người.

   3. Bệnh tật là một tiến tŕnh giải thoát và là thù địch của những ǵ tĩnh tại (static).

   4. Định luật nhân quả chi phối bệnh tật cũng như chi phối mọi sự biểu hiện khác.                                                           (CTNM, 32)

     – Có năm nhóm bệnh tật chính:

     1/ Các bệnh do di truyền (hereditary disease):

          a/ Có sẵn trong chính hành tinh và có hiệu quả nhất định trên nhân loại qua việc tiếp xúc với đất và nước.

         b/ Đă phát triển vào các thời kỳ xa xưa trong chính nhân loại và truyền từ thế hệ này đến thế hệ khác.

         c/ Đặc trưng của gia đ́nh đặc biệt nào đó và được kế thừa bởi người của gia đ́nh này như là một phần của nghiệp quả đă định của người ấy. Các linh hồn giáng nhập vào một số gia đ́nh nào đó nhân cơ hội này.

     2/ Các bệnh tật bị gây ra bởi các khuynh hướng trong chính con người. Các bệnh này là do cung thiên tượng của con người chi phối – hoặc là cung thái dương, hoặc là cung đang lên của y (sẽ được nghiên cứu sau).

     3/ Các bệnh lây nhiễm (bệnh dịch – epidemic – hoặc là bệnh đặc trưng của vùng – endemic) vốn có nguồn gốc tập thể và dính líu đến con người như là một phần của nghiệp quả tập thể của con người, nhưng thường thường không liên quan đến nghiệp quả cá biệt của con người.

     4/ Các bệnh tật và tai nạn mắc phải vốn là kết quả của hành động bất cẩn hay các thói quen thiếu khôn ngoan trong kiếp sống này và nhất định là chi phối nghiệp quả trong tương lai của con người. Ở đây có điểm lư thú liên quan đến tai nạn có thể được nêu ra. Thường thường tai nạn được gây ra bởi những ǵ có thể được xem như là “sự bùng nổ của mănh lực”. Các bùng nổ này do một người hay do một nhóm người tạo ra do sự thù hận hoặc ganh tỵ hoặc không tha thứ, mà các tính chất phản ứng lại hay là bị “quay ngược trở lại” vào cuộc đời cá nhân giống như cái boomerang (vũ khí của thổ dân Úc, có thể quay lại người ném–ND).

     5/ Các bệnh của những nhà thần bí mà hiện nay chúng ta đang đề cập tới. Nói chung, các bệnh này đều gây ra bởi năng lượng của một bí huyệt thấp đă khai mở và linh hoạt đang được chuyển vào bí huyệt cao.      

  (TLHNM II, 547–548)

     - Bệnh tật chỉ có trong thế giới hiện tượng (world of phenomena)        (SHLCĐD9CG, 36)

Bhakti Yoga:

     - Yoga về tâm hoặc của người sùng tín.        (ASCLH, 120)

     - Bhakti yoga hay là môn yoga của người sùng tín (devotee), đó là môn yoga của người thuộc căn chủng thứ tư, căn chủng Ắt Lăng, cộng thêm một ít Hatha yoga. Trong căn chủng thứ năm, căn chủng Aryan, Hatha yoga hoàn toàn lỗi thời đối với người đệ tử, đệ tử phải chú trọng vào Raja yoga, cộng thêm Bhakti yoga, tóm lại, đệ tử phải là người trí thức sùng tín (mental devotee).

     … Nhờ Bhakti yoga, với nguyện vọng hướng về việc kiềm chế trí tuệ, vị đệ tử của căn chủng Ắt Lăng học cách kiềm chế thể cảm dục và hiến dâng nó cho việc phụng sự Ishvara.       

     (ASCLH, 214)

Bhoota :

     Tức sắc tướng biểu lộ (manifested form)      (LVLCK, 1083)

Bhu : (X. Cơi và trạng thái tâm thức.)

     Thế giới trần tục, tương ứng với cơi hồng trần.

(ASCLH, 298)

Bhutas :

     Yếu tố, bản tố (element). Sắc tướng.      (ASCLH, 368)

Bí huyệt (Center or chakra): Xem thêm Trung tâm lực.

   Mỗi bí huyệt hay chakra gồm có ba ṿng xoắn (whorl) hay luân xa (wheel) đồng tâm trộn lẫn vào nhau mà trong con người tâm linh trên con đường dự bị, chúng từ từ chuyển động theo một hướng, nhưng dần dần tăng tốc độ hoạt động của chúng khi người này tiến gần đến cổng của con đường điểm đạo. Vào lúc điểm đạo, tâm điểm của luân xa (một điểm của lửa tiềm tàng) được chạm đến, độ quay trở nên mănh liệt và có hoạt động theo chiều đo thứ tư.                            (LVHLT, 362)

   Tất cả các bí huyệt đều có các cơ quan trên cơi trần vốn là kết quả của sự đáp ứng của vật chất trọng trược đối với rung động của chúng.

     Ba bí huyệt chủ yếu :

   1. Bí huyệt đầu (Head centre) ... Năo, tuyến tùng quả vatuyến yên

   2. Bí huyệt ở họng (throat) ... Thanh quản, dây thanh âm, khẩu cái và tuyến giáp.

   3. Bí huyệt tim (heart) ... Màng bao tim, tâm thất, tâm nhĩ, ảnh hưởng tới lá lách.

     Bốn bí huyệt thứ yếu :

   4. Bí huyệt nhật tùng (Solar Plexus)...   Bao tử

   5. Bí huyệt lá lách (Spleen)               ...   Lá lách

   6. Bí huyệt xương mông (Sacral)     ...   Các cơ quan sinh dục  

   7. Bí huyệt chót xương sống                   ...          Các cơ quan bài tiết, thận, bàng quang.

   Các cơ quan ở xác thân này là các kết quả hay hậu quả, các bí huyệt là nguyên nhân thể chất của chúng và chúng được tạo ra nhờ hoạt động của các bí huyệt dĩ thái.                      (ASCLH, 310)

   Các bí huyệt có ba chức năng chính:

     1/ Đem sinh lực (vitalise) cho thể xác.

     2/ Mang lại sự phát triển ngă thức trong con người.

     3/ Truyền chuyển năng lượng tâm linh và đưa toàn bộ con người vào trạng thái hiện tồn tâm linh.                            (LVHLT, 285)

Bí huyệt chính (Major centers):

     Có 7 bí huyệt chính, theo thứ tự sau:

     1/ Bí huyệt đầu (Head Centers):

     Nằm ở ngay đỉnh đầu. Thường được gọi là “hoa sen ngàn cánh” hay Brahmarandra. Nó hoạt động sau lần điểm đạo thứ ba và là cơ quan phân phối năng lượng Chân Thần, thuộc trạng thái ư chí của thánh linh.

     Nó nối liền với Phàm ngă tam phân bằng giác tuyến...

     Ngoại hiện trên cơi trần (physical externalisation) là tuyến tùng quả ở trong đầu.

     2/ Bí huyệt ấn đường (Ajna centre):

     Ở giữa hai mày, nằm ở vùng đầu ngay bên trên hai mắt. Nó hoạt động đầy đủ vào lúc được điểm đạo lần ba. Nó là cơ quan phân phối năng lượng của Ngôi Ba năng lượng thông tuệ linh hoạt.

     Nó nối liền với Phàm ngă bằng sinh mệnh tuyến sáng tạo.

     Ngoại hiện trên cơi trần của nó là tuyến yên (pituitary body).

     3/ Bí huyệt cổ họng (throat centre):

     Nằm ở sau cổ, đi tới phần cuối năo dính với tủy sống (medulla oblongata), như vậy liên quan tới tuyến động mạch cảnh và xuống đến hai bả vai.

     Nó liên quan tới cuộc điểm đạo thứ nhất.

     Đó là cơ quan phân phối năng lượng sáng tạo, năng lượng của Ngôi Ba.

     Nó nối liền với Phàm ngă bằng tuyến sáng tạo (creative thread), nối liền với linh hồn bằng tuyến ư thức và với Chân Thần bằng sutratma hay sinh mệnh tuyến.

     Ngoại hiện hồng trần của nó là tuyến giáp (thyroid gland).

     4/ Bí huyệt tim (Heart centre):

     Nằm ở giữa hai xương bả vai.

     Nó hoạt động sau lần điểm đạo thứ hai.

     Đó là cơ quan phân phối năng lượng của Thánh Đoàn.

     Nó nối liền chủ yếu với Phàm ngă khi tiến tŕnh chỉnh hợp với linh hồn được chế ngự.

     Ngoại hiện hồng trần của nó là tuyến ức (thymus gland). Hiện nay, người ta biết rất ít về tuyến này... Tâm lư học hiện đại kết hợp với y học, nhận thấy rằng khi tuyến này quá hoạt động (overactive) sẽ tạo ra người vô trách nhiệm và vô luân (irresponsible and amoral person).

     5/ Bí huyệt nhật tùng (solar plexus centre):

     Nằm đúng ngay dưới xương bả vai trong cột xương sống và đang cực kỳ linh hoạt. Các bí huyệt thấp này đặc biệt không liên quan tới các cuộc điểm đạo như là các bí huyệt trên cách mô, v́ chúng là các bí huyệt thuộc Phàm ngă và phải ở dưới sự kiểm soát của linh hồn khi nhận được các cuộc điểm đạo thuộc đẳng cấp nào đó.

     Bí huyệt nhật tùng là nơi thanh toán quan trọng (great clearing-house) cho tất cả các năng lượng dưới cách mô. Bí huyệt này liên quan đến ba bí huyệt chính và 21 bí huyệt nhỏ liệt kê ở trang 72 (bản tiếng AnhND).

     Ngoại hiện hồng trần của nó là tụy tạng (pancreas), với ngoại hiện phụ ở trong bao tử (stomach).

     6/ Bí huyệt xương cùng (Sacral centre):

     Nằm ở phần dưới của vùng thắt lưng (lumbar area), là một bí huyệt rất mạnh, hiện đang chi phối đời sống tính dục. Một trong các điều lư thú về bí huyệt này là nó phải luôn luôn là bí huyệt mạnh mẽ cho đến khi 2/3 nhân loại được điểm đạo, v́ tiến tŕnh sinh sản phải tiếp diễn và vẫn linh hoạt ngơ hầu cung cấp các thể cho linh hồn sắp đến. Nhưng khi nhân loại tiến hóa, bí huyệt này sẽ bị kềm chế và các hoạt động của nó sẽ được xúc tiến một cách sáng suốt và như là kết quả của sự hiểu biết, của việc nh́n xa thấy rộng và các giao tiếp cao siêu và tinh tế, chứ không phải như là kết quả của dục vọng không giới hạn và không được kềm chế như hiện nay.

     Bí huyệt này biểu lộ (register) năng lượng của Ngôi Ba của thánh linh, cũng như bí huyệt nhật tùng biểu lộ năng lượng của Ngôi Hai và bí huyệt chót xương sống biểu hiện (express) năng lượng của Ngôi Một.

     Ngoại hiện hồng trần của nó nằm trong các tuyến sinh dục (gonads), các cơ quan sinh sản.

     7/ Bí huyệt chót xương sống (Centre at the Base of the Spine):

     Bí huyệt này nằm đúng chót xương sống và chống đỡ (support) cho mọi bí huyệt khác. Vào lúc này, nó tương đối nằm yên, v́ nó chỉ được đánh thức để hoạt động đầy đủ bằng một tác động của ư chí được vị đệ tử điểm đạo điều khiển và kềm chế.

     Như chúng ta được dạy rằng nguyên khí sự sống được “đặt trong tim”, cũng thế, ư chí hiện tồn (will-to-be) được đặt trong chót xương sống... Tuyến thượng thận (Adrenal glands).

     (CTNM, 144202)

Bí huyệt sinh lực (vital plexi): X. Hạch thần kinh

Biến cố: (Event, sự kiện quan trọng): Một biến cố là một biểu lộ nh́n thấy rơ (focussed expression) của loại lực này hoặc lực khác.                                                                     (SHLCTĐ  347)

Biến thái (modification):

   Tức là hoạt động (activity)                                                                                 (ASCLH, 15)

Biệt lập ngă tính (Individualisation), Biệt-ngă-hóa, thoát kiếp thú thành người:

   Khi người thú (animalman) đă đến tŕnh độ thích hợp, khi thể xác của y được phối kết đầy đủ, khi y đă có một bản chất xúc cảm hay dục vọng đủ mạnh để tạo một nền tảng cho sự tồn tại và để hướng dẫn nó nhờ vào bản năng, và khi mầm mống của trí tuệ được gieo rắc đầy đủ để phú cho y kư ức theo bản năng và cách liên kết các ư tưởng vốn có thể nh́n thấy nơi loài thú bậc trung đă được thuần hóa, lúc bấy giờ, tinh thần giáng xuống (tinh thần này đă chiếm lấy một vi tử trên cơi trí) v́ đă phán quyết rằng đến lúc chiếm hữu các hiện thể thấp. Các Hỏa tinh quân được triệu thỉnh đến và các Ngài thực hiện sự chuyển di cách an trụ từ vi tử thấp của Tam Thượng Thể sang vi tử thấp nhất của Phàm ngă. Ngay lúc bấy giờ, ngọn lửa nội tại cũng không thể xuống thấp hơn phân cảnh thứ ba của cảnh trí. Nơi đó, cả hai gặp nhau, hợp nhất lại và linh hồn thể được tạo ra ... Do đó, bạn có thời điểm biệt lập ngă tính, đó là tên gọi được dùng để diễn tả giờ phút tiếp xúc trên phân cảnh thứ ba của cảnh trí, một điểm sáng bao quanh ba vi tử và chính nó bị bọc trong một vỏ bằng chất trí.                  (TVTTHL, 30)

     - Vào lúc biệt lập ngă tính, con người ra khỏi giới thú vật (animal kingdom) đi vào giới nhân loại           (ĐĐNLVTD, 10)

     - Sự biệt ngă hóa của Tinh Thần (spirit), tức là việc ẩn náu (incasing) của Tinh Thần trong h́nh tướng (in form), và Tinh Thần được bọc trong thể nguyên nhân này là linh hồn, tức chân nhân (real man).                                             (MTNX, 213)

     Có nhiều yếu tố định đoạt việc biệt lập ngă tính, có thể kể ra như sau:

     1/ Sự đáp ứng của bản năng tính của con vật đối với bầu không khí trí tuệ của con người, hay các sinh vật, đang bao quanh con vật.

     2/ T́nh thương và sự lưu tâm đang tuôn ra của con người mà con vật được ràng buộc vào bởi các mối liên kết của t́nh cảm hay của việc phụng sự.

     3/ Các xung lực của cung được kích hoạt vào bất cứ lúc nào. Đó là:

        a. Cung của chính con vật. Loài voi ở trên cung một; loài chó là các biểu hiện của cung hai; mèo là biểu hiện sự sống của cung ba, c̣n ngựa thuộc cung sáu. Các động vật trên các cung khác th́ chưa sẵn sàng cho việc Biệt lập ngă tính.

        b/ Cung của một hay nhiều người đặc biệt mà con vật được kết hợp vào.

        c/ Một cung hay nhiều cung thuộc chu kỳ đặc biệt.

(TLHNMI, 259260)

     Đại biến cố biệt lập ngă tính xảy ra cách đây 21 triệu năm.                                                                                                                                  (LVHLT, 440)

 Biệt ngă thức (Individual Consciousness, Tâm thức cá nhân):

     Biệt ngă thức tức là ngă thức (self–consciousness), nhân thức (human consciousness).                                           (LVLCK, 243)

Biểu lộ (Manifestation): Sự biểu hiện ra ngoại cảnh (objectivity) tức là biểu lộ.                                                    (LVLCK, 158)

Biểu lộ thất phân (sevenfold manifestation):

7 chi chủng (branch race) hợp thành …….. Một phụ chủng.

7 phụ chủng (subrace) hợp thành...... …….. Một căn chủng.

7 căn chủng (rootrace) hợp thành.............. Một chu kỳ thế giới.

7 chu kỳ thế giới (world period) hợp thành..... Một cuộc tuần hoàn.

7 cuộc tuần hoàn (round) hợp thành ……… Một chu kỳ dăy.

7 chu kỳ dăy (chain period) hợp thành   ……… Một hành tinh hệ.

10 hành tinh hệ (planetary scheme) hợp thành........Một thái dương hệ.                                                          (LVLCK, 6263)

Biểu lộ theo chu kỳ (Cyclic manifestation):

     1/ Một chu kỳ thái dương (solar cycle) như chu kỳ hiện nay, trong đó Cung 2, Cung Bác ái - Minh Triết là cung chính, c̣n tất cả các cung khác chỉ phụ thuộc cung này.

     2/ Chu kỳ hành tinh, như là các chu kỳ mà chúng ta vừa xem xét liên quan đến các giống dân, năm giống dân được liệt kê ở trên và năm cung đang chi phối của các giống dân này.

     3/ Các chu kỳ liên quan đến 12 cung Hoàng đạo cơ bản, các chu kỳ này có hai:

            a– Các chu kỳ có liên quan với một ṿng Hoàng đạo đầy đủ, vào khoảng 25.000 năm.

            b– Các chu kỳ có liên quan với mỗi một trong 12 cung đi vào và chấm dứt biểu lộ vào khoảng mỗi 2.100 năm.

     4/ Các chu kỳ mà một số cung chiếm ưu thế trong một giai đoạn tiến hóa của nhân loại, đó là năm giai đoạn thuộc giống dân chính mà chúng ta đă thấy ở trên.

     5/ Chu kỳ nhỏ diễn ra trong và ngoài lúc biểu lộ như có đề cập đến trước đây trong quyển này.

     6/ Các chu kỳ hoạt động của cung được xác định bằng các con số của chúng.                                                                                                (TLHNM I, 265)

Biểu trưng (emblem, biểu hiện):

     Là định thức (formulation) của con người về một khái niệm (concept), do con người tạo ra và lồng vào (embodying) cho con người chân lư khi y gặp thấy và hiểu được chân lư ấy. Biểu tượng bao giờ cũng có các hàm ư quan trọng hơn là biểu trưng.                                                                      (VMCQG, 119)

Biểu tượng (Symbol):

   Là dấu hiệu (sign) thấy được và lộ ra bên ngoài của một thực tại tâm linh bên trong, được thể hiện trên cơi trần bằng mănh lực của sự sống chứa đựng bên trong.        (VMCQG, 119)

   “Trong một biểu tượng có ẩn tàng sự che giấu hoặc sự mặc khải” Carlyle.

   1./ Các biểu tượng đều nhắm vào :

     a) Người ít tiến hóa. Chúng dạy ra các đại chân lư dưới h́nh thức đơn giản.

     b) Đa số nhân loại. Chúng giữ cho chân lư được nguyên vẹn và biểu hiện các sự kiện trong vũ trụ.

     c) Các môn đồ của các Chân Sư. Chúng giúp mở mang trực giác.

   2./ Các sách nói về biểu tượng trong các văn khố của Chân Sư được dùng cho việc giáo huấn. Các sách này được giải thích:

     a) Bằng màu sắc của chúng.

     b) Bằng vị trí của chúng, nghĩa là phía bên trên, nằm trên và bên dưới một đường thẳng.

     c) Bằng sự tiếp cận của chúng với nhau.

     d) Bằng ch́a khóa của chúng

   Một trang giấy có thể đọc được theo 4 cách:

            1. Từ trên xuống dưới         ...         tiến hóa giáng hạ

                                                     (involution)

            2. Từ dưới lên trên              ...         tiến hóa thăng thượng

                                                              (evolution)

            3. Từ phải sang trái              ...         các chu kỳ lớn vv...

            4. Từ trái sang phải              ...         các chu kỳ nhỏ.

   3./ Ba ch́a khóa :

1. Giải thích vũ trụ. Các biểu tượng thay cho các sự kiện vũ trụ. Nghĩa là Bóng tối. Ánh sáng. Chữ thập. Tam giác.

2. Giải thích Thái Dương Hệ. Bàn đến sự tiến hóa của Thái Dương Hệ và vạn vật trong đó.

3. Giải thích về con người. Bàn đến chính con người. Thập giá của nhân loại. Ngọn nến có 7 nhánh.

   4./ Bốn loại biểu tượng :

a)  Biểu tượng của các vật bên ngoài ... các vật ở cơi trần.

b)  Biểu tượng về bản chất t́nh cảm ... các sự vật ở cơi cảm

                                                               dục, các tranh ảnh.

      c) Biểu tượng học về số   .............Hạ trí. Con người dùng

chính ḿnh để tính.

      d) Biểu tượng học h́nh học   ... biểu tượng học trừu tượng,

                    thượng trí.

 

(LVLCK, 1140)

Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma):

     1/ Minh triết tôn giáo (wisdom-religion), hay là minh triết chứa trong Dharma (đạo đức, ethics).

     2/ Bồ Đề Đạt Ma cũng là thánh danh của một vị Đại La Hán (great Arhat) thuộc tập cấp Kshatriya (tập cấp chiến sĩ), con trai của một vị vua. Chính đức Panyatara, tôn sư của Bồ Đề Đạt Ma, “đặt cho Ngài danh xưng Bodhidharma để đánh dấu sự hiểu biết của Ngài (bodhi, trí tuệ tiếp thu) về Chánh pháp (Law, dharma) của Đức Phật” (Từ Điển Trung Hoa-Bắc Phạn). Vào thế kỷ thứ sáu, lúc đạt đạo (flourished), Ngài Bồ Đề Đạt Ma du hóa Trung Hoa, đưa vào nơi đây một thánh tích quư giá, tức là cái b́nh bát (almsbowl) của Đức Phật.

 (NGMTTL, 59)

Bồ Đề thọ (Bodhi Druma, Cây Bồ Đề):

     Bo hay Bồ Đề thọ (Bodhi tree), cây “tri thức” (tree “knowledge”), tức là Pippala hay Ficus religiosa trong thực vật học. Chính là dưới cây này mà Đức Sakyamuni thiền định trong bảy năm và đạt được Phật quả (Buddhaship). Tương truyền lúc đầu cây cao được 400 feet (121,6m), nhưng khi Ngài Huyền Trang (Hioun-Tsang) thấy nó vào khoảng năm 640, cây này chỉ c̣n cao có 50 feet (15,2m). Các cành chiết (cuttings) của cây được đem sang các nơi có Phật giáo và được trồng ở trước hầu hết mọi Tịnh Xá (Vihâra) hoặc đền chùa nổi tiếng ở Trung Hoa, Thái Lan, Tích Lan và Tây Tạng.

     (NGMTTL, 59)

Bodha :         Vốn liếng có sẵn (innate possession) của trí tuệ thiêng liêng hoặc kiến thức thiêng liêng (divine intellect hoặc understanding).                                                                                                      (GLBN I, 43)

Bodhi :

     Bodhi cũng là tên gọi của một trạng thái xuất thần đặc biệt được gọi là Đại định (samadhi), trong đó chủ thể (subject) đạt đến tột đỉnh của tri thức tinh thần.                                              (GLBN I, 43)

Bóng tối (Darkness): X. Ánh sáng và Bóng tối.

Bố thí (Dāna):

     - Ch́a khóa / bí quyết (key) nhân đức và bác ái muôn đời.

(TNVT, 177)

     - Tài vật bố thí (almsgiving) cho hành khất, theo nghĩa đen, “nhân đức” (“charity”), cái thứ nhất trong sáu ba-la-mật của Phật giáo (six Paramitas in Buddhism).             (NGMTTL, 96)

Bồ Tát (Bodhisattva):

   Theo nghĩa đen, là Vị mà tâm thức trở thành thông tuệ hay có tuệ giác (buddhi). Các Ngài chỉ cần thêm một lần lâm phàm (incarnation) nữa là trở thành Đức Phật hoàn thiện. Như được dùng trong các sách này, Bồ Tát là danh xưng chỉ chức vụ mà hiện nay Đức Di Lạc (Lord Maitreya) đang giữ. Ở Phương Tây, Ngài được biết như là Đức Chirst. Chức vụ này có thể được diễn dịch như là chức vụ của Đức Chưởng Giáo Thế Gian (World Teacher). Đức Bồ Tát là vị Lănh Đạo (Head) các tôn giáo trên thế gian, là Chân Sư của các Chân Sư và của các Thiên thần (Angels).                                                            (ĐĐNLVTD, 216)

Brahma: Brahma là Thượng Đế Ngôi Ba , tức Đấng Sáng Tạo.

                                                                            (GLTNVT. 347)

Brahma trạng thái (Brahma aspect):

     - Tức trạng thái Hoạt độngThông tuệ (Activity   Intelligence aspect)                                                                                   (LVLCK, 175)

    Trạng thái thứ ba, tức trạng thái Brahma, tức là trạng thái Thánh Thần (Holy Ghost Aspect)                                  (ASCLH, 54)

   Trạng thái Brahma tức là trạng thái chất liệu (substance aspect).                                                                                                                                   (LVLCK, 1018)

Brahmarandra : X. Bí huyệt chính.

Buddha :

     Hoạch đắc kiến thức thiêng liêng bằng các cố gắng và công lao cá nhân.                                                                                                                               (GLBN I, 43)

Buddhi (Tuệ giác) :

     Buddhi là quan năng để nhận thức, vận hà (chanel) mà xuyên qua đó, tri thức thiêng liêng đi đến Chân Ngă, khả năng phân biệt thiện và ác, cũng là tâm thức thiêng liêng và Hồn Tinh thần (spiritual soul) vốn là hiện thể của Atma. (Xem thêm mục từ Tuệ  giác).                                                         (GLBN I, 43)

Bức xạ (radiation): X. Phát xạ.

   Bức xạ là sự chuyển hóa trong tiến tŕnh thành toàn (process of accomplishment).                                                               (TBĐC, 148)

 

 


 

 

 

 

 

 

C

 

 

 

Cách chỉ đạo của các Đấng Cầm Cân Nghiệp Quả (The guidance of the Lords of Karma):

     Các “Nghiệp Quả Tinh Quân” (“Lords of Karma”) là các Đấng Thông Tuệ Tinh thần vĩ đại (great spiritual Intelligences). Các Ngài giữ các kư ảnh về nghiệp quả (kàmic records) và hiệu chỉnh các tác động phức tạp của định luật nghiệp quả (kàrmic Law). Trong bộ sách Giáo Lư Bí Nhiệm, bà H.P. Blavatsky mô tả các Ngài như là các vị Lipika, tức các Đấng Ghi chép Nghiệp Quả (Recorders of Karma) và các vị Màhàràjas (Mahādevas hay Chaturdevas của Ấn Giáo) cùng đạo binh (hosts) của các Ngài, các vị này là “các vị thừa hành Nghiệp Quả trên cơi trần” (“the agents of Karma upon earth). Lipika là các Đấng thấu suốt được kư ảnh nghiệp quả của mỗi người, nhờ có minh triết toàn tri (omniscient wisdom), các Ngài chọn lựa và phối kết các phần của kư ảnh đó để tạo ra sơ đồ (plan) dành cho mỗi một kiếp sống riêng biệt (a single life). Các Ngài ban ra “ư tưởng” (“idea”) về loại xác thân phải có để làm lớp áo (garment) cho linh hồn tái nhập thế để có thể biểu lộ được các năng lực và các giới hạn của linh hồn đó. Ư tưởng này được các Mahārājas tiếp nhận và tạo thành mô h́nh chi tiết (detailed model), mô h́nh này được ủy thác cho một trong các vị thừa hành cấp dưới (inferior agents) của các Ngài để được sao chép lại. Bản sao này chính là thể dĩ thái (etheric double) tức cái khuôn (matrix) của thể xác trọng trược, chất liệu của các thể này được rút ra từ người mẹ và lệ thuộc vào sự di truyền của thể xác. Ṇi giống, xứ sở, cha mẹ được lựa chọn sao cho chúng có khả năng cung cấp các chất liệu thích hợp cho thể xác của linh hồn đang đến và môi trường thích hợp cho sự sống lúc ban đầu của linh hồn đó. Sự di truyền về thể chất của gia đ́nh cũng cung cấp một vài kiểu mẫu và đă phát triển được một số tính chất đặc trưng của các kết hợp vật chất; các bệnh di truyền, các tinh tế do di truyền của cơ cấu thần kinh, kéo theo các hợp chất nhất định của chất hồng trần (physical matter), có khả năng truyền chuyển. Một linh hồn đă phát triển được các tính chất đặc trưng trong thể hạ trí và thể cảm dục của ḿnh cũng cần có các tính chất đặc trưng riêng biệt của thể xác để cho chúng biểu lộ, linh hồn đó được dẫn dắt đến những cha mẹ nào mà tính chất di truyền thể chất cho phép chúng đáp ứng với các đ̣i hỏi này. Như thế, một linh hồn có các năng khiếu nghệ thuật cao siêu say mê về âm nhạc sẽ được dẫn dắt để đầu thai vào trong một gia đ́nh thiên về âm nhạc, trong đó, các chất liệu được cung cấp để tạo ra thể dĩ thái và thể xác được tạo ra sẵn sàng để chính chúng thích ứng được với các nhu cầu của linh hồn, c̣n kiểu mẫu di truyền của hệ thần kinh sẽ cung ứng bộ máy tinh tế cần cho việc biểu lộ các năng lực của linh hồn này. Một linh hồn thuộc loại rất xấu xa sẽ được dẫn dắt đến một gia đ́nh thô lổ hèn kém để cho các hạ thể của linh hồn này được tạo ra bằng các hợp chất thô trược nhất, có như vậy mới tạo được một cơ thể có khả năng đáp ứng với các thôi thúc từ  thể hạ trí và thể cảm dục của linh hồn này. Một linh hồn đă để cho thể hạ trí và thể cảm dục của ḿnh đưa ḿnh tới chỗ quá độ, thí dụ rượu chè say sưa, sẽ được dẫn dắt để đầu thai trong một gia đ́nh mà hệ thần kinh bị suy nhược do quá độ và sẽ do cha mẹ say sưa sinh ra, cha mẹ này sẽ cung cấp chất liệu bệnh hoạn cho cái vỏ xác thân của linh hồn này. Như vậy, sự chỉ đạo của các Nghiệp Quả Tinh Quân hiệu chỉnh phương tiện đưa tới mục đích và đảm bảo được việc thực thi lẽ công bằng. Linh hồn mang theo với ḿnh các sở đắc về nghiệp quả gồm các năng khiếu và dục vọng, và linh hồn nhận lại một xác thân thích hợp để làm thể biểu lộ của chúng.           

                                    (MTNX, 293–295)

Cái Đó (That):

     Trong các thủ bút cổ xưa nhất của văn học Ấn Độ, Vị Thượng Đế Trừu Tượng Huyền vi (Unrevealed Abstract Deity) không có danh hiệu. Ngài thường được gọi là “Cái Đó” (tiếng Bắc Phạn là Tad) và tất cả mọi danh xưng đang có, đă có và sẽ có, hay bất cứ tên gọi nào mà trí người có thể nghĩ đến.        

                        (GLBN I, 144)

Cảm dục quang : (Astral light)

   ... Cuộn sách (scroll) của cảm dục quang vốn là phản ảnh của tiên thiên kư ảnh. Tiên thiên kư ảnh là cuốn sách vĩnh cửu có ghi kế hoạch của thế giới chúng ta và từ đó, nhiều vị trong chúng tôi giảng dạy, gom góp dữ kiện và nhiều kiến thức của chúng ta. Cảm dục quang làm lệch lạc và làm mờ bớt tiên thiên kư ảnh đi.                                                    (SHLCTĐ, 12)

- Ở đây, cần ghi nhận một điểm lư thú. Được biết rằng về mặt huyền bí, giới thực vật là tác nhân truyền chuyển (transmitter) và tác nhân chuyển hóa (transformer) lưu chất sinh khí cho các h́nh thức sự sống khác trên hành tinh chúng ta. Đó là chức năng thiêng liêng và độc đáo của giới thực vật. Lưu chất sinh khí này (pranic fluid), dưới h́nh thức cảm dục quang (astral light) là tấm kính phản xạ đối với tiên thiên khí thiêng liêng (divine akasha). Bởi đó, cơi thứ hai tự phản chiếu trong cơi cảm dục. Những ai t́m cách đọc các tiên thiên kư ảnh, hay là những ai cố gắng hoạt động trên cơi cảm dục mà muốn cho không có sự thất thoát nào (with impunity) và t́m ṭi nơi đó h́nh ảnh của các biến cố trong cảm dục quang một cách chính xác, tất yếu phải là những người ăn chay nghiêm nhặt và không có ngoại lệ. Chính kho tàng tri thức (lore) cổ xưa này của thời Atlantis nằm đàng sau sự chú tâm nghiêm chỉnh của kẻ ăn chay về cái cần thiết của chế độ ăn chay vốn dĩ  đem lại sức mạnh và chân lư cho nghiêm lệnh này. Chính v́ việc không tuân theo quy luật sáng suốt này đă đưa tới các diễn tả sai lầm đối với các kư ảnh cảm dục và tiên thiên kư ảnh của nhiều nhà tâm thông hiện nay và đă tạo ra việc soi kiếp (reading of post lives) bừa băi và thiếu chính xác. Chỉ những ai ăn chay nghiêm nhặt trong 10 năm mới có thể hoạt động như vậy trong trạng thái có thể được gọi là “trạng thái ghi nhận cảm dục quang”.                                                    (TLHNM I, 241)

Cảm giác (feeling, sensation)

     - Cảm giác là phản xạ của dục vọng.                         (LVLCK, 661)

    - Trạng thái Hoạt Động (Activity-aspect) của Chân Thần tự biểu lộ trên cơi cảm dục dưới h́nh thức cảm giác (sensation).

(KCVTT  244)

Cảm thức (sentiency, hữu cảm thức):

     Cảm thức tức là sự đáp ứng bén nhạy với việc tiếp xúc và nhờ đó mới có sự tăng trưởng tiếp theo về sự hiểu biết.

 (TLHNMI, 130)

CaÛm thức: (Sentient consciousness)

   Cảm thức tức là ánh sáng của hạ trí (the Lower Manasic light)                                                                    (CKMTTL, 138)

Cảm-huệ-thức (Astral-budhic consciousness, ư thức cảm dục-trực giác):

     Cảm-huệ-thức là thuật ngữ dùng để chỉ ư thức căn bản trong Thái Dương Hệ ta. Nó được đặc trưng bằng xúc cảm, cảm tính, cảm giác mà sau rốt phải được chuyển hóa thành trực giác, nhận thức tâm linh và sự hợp nhất.    (LVLCK, 193)

Cánh hoa (Petal) :

   Từ ngữ “cánh hoa” chỉ diễn đạt được h́nh thức tượng trưng một biểu hiện của lực và tác dụng hiển nhiên của nó trong vật chất.                                                                                                                                (LVHLT, 199)

   Cánh hoa tức là đơn vị của lực (unit of force).(CTNM, 149)

Cánh hoa bác ái (Love petals) :

   Các cánh hoa bác ái tức là trạng thái bác áiminh triết  (lovewidom aspect).

   Thuộc ṿng cánh hoa thứ nh́ trong hoa sen Chân Ngă (egoic lotus).

Cánh hoa hy sinh (sacrifice petals) :

   Các cánh hoa hy sinh tức là trạng thái ư chí (will aspect).

Cánh hoa kiến thức (knowledge petals) :

   Các cánh hoa kiến thức tức là trạng thái trí tuệ (mind aspect).

   Thuộc ṿng cánh hoa thứ ba hay ṿng ngoài của hoa sen Chân Ngă.

Cánh hoa ư chí (will petals) :

   Thuộc ṿng cánh hoa bên trong của hoa sen Chân Ngă.

(ĐĐTKNMI, 753; LVHLT, 195196)

Cánh hoa sen (Petal of the lotus) :

   Về mặt biểu tượng, người t́m đạo có thể xem mỗi trung tâm lực như là một hoa sen.

   Hoa sen này được tạo thành bằng các đơn vị năng lượng đang hoạt động hay rung động theo một cách thức riêng biệt và các làn sóng rung động này có các h́nh dáng mà chúng ta gọi là các cánh của hoa sen.                                                      (ASCLH, 82)

Cát bụi trở về với cát bụi (1) (“Dust thou art; unto dust thou shalt return”):

     “Là cát bụi, ngươi sẽ trở về với cát bụi”, là một phát biểu của định luật huyền linh. Trong công cuộc tiến hóa khác thường của ngôn từ - như bất cứ tự điển có uy tín nào sẽ chứng minh - từ ngữ “bụi” xuất phát từ hai nguồn gốc, một hàm ư là “gió” (“wind”) và một có nghĩa là “tan thành mảnh vụn” (falling to pieces”). T́m quan trọng của cả hai nghĩa này sẽ rơ rệt và tŕnh tự của các ư tưởng rất đáng chú ư. Với sự triệt thoái của gió hay hơi thở, việc tan thành mảnh vụn sẽ xảy ra, và đây là một phát biểu đúng thực và có ư nghĩa. Khi sự sống vĩ đại thu hút sự sống thứ yếu, việc biến mất của những ǵ mà sự sống làm linh hoạt sẽ xảy ra; điều này đúng đối với mọi h́nh hài trong các giới dưới nhân loại khi chúng đáp ứng với sự cản trở hoặc sức thu hút của sự sống hành tinh; điều đó cũng đúng đối với h́nh hài con người khi nó phản ứng với tiếng gọi của linh hồn để hoàn lại nguyên khí sự sống của nó cho linh hồn xuyên qua Sutratma và để quay lại như là ư thức cho cội nguồn ghi nhận của nó.                                      (CTNM, 246-247)

Cát bụi trở về cát bụi (2) (Earth to earth and dust to dust):

     Câu nói “cát bụi trở về cát bụi” rất quen thuộc trong các nghi lễ tống táng của Tây phương, đề cập đến việc tác động hoàn trở lại và ngụ ư các nguyên tố (elements) của xác thân trở về với kho vật chất nguyên thủy và chất liệu của thể sinh lực (vital form) trở về với kho dĩ thái chung; c̣n câu “thần hồn sẽ trở về với Thượng Đế, Đấng đă  tạo ra linh hồn” (“the spirit shall return unto God who gave it”) là lối nói lệch lạc đối với việc hội nhập (absorption) của linh hồn vào linh hồn vũ trụ (universal soul).                                                             (CTNM, 435)

Cá tính con người (Character of the person):

     Trong trường hợp của những người đă hội nhập được toàn bộ Phàm Ngă (lower nature) và đă dung hợp (fuse) được các năng lượng của Phàm Ngă. Tất cả những năng lượng liên hệ đến sự dung hợp này đều có tính chất (quality) riêng của chúng. Sự phối hợp và sự tương tác của các tính chất này (mỗi tính chất đều được xác định bằng năng lượng của cung đặc thù nào đó) tạo ra cá tính con người.                            (TLHNM II, 442)

Cái Tôi: (the I): Thượng Trí (causal body) chính là Cái Tôi đối với đệ tử .                                                          (GLASTTĐ 214)

Căn chủng (Root race, giống dân chính):

   Một trong 7 giống dân thuộc nhân loại, tiến hóa trên một hành tinh trong chu kỳ hiện tồn vĩ đại của hành tinh. Chu kỳ này được gọi là chu kỳ thế giới (world period). Căn chủng Aryan hay căn chủng thứ năm, gồm có người Ấn, người Âu và các chủng tộc Mỹ châu hiện đại; người Trung Hoa và người Nhật thuộc căn chủng thứ tư.                         (ĐĐNLVTD, 224)

   Giáo lư bí nhiệm dạy chúng ta rằng trong ṿng tiến hóa hay cuộc tuần hoàn (round) trên hành tinh này, Jivatma tức nhân hồn (human soul) trải qua bảy kiểu mẫu chính hay “căn chủng”. Trong trường hợp này, hai căn chủng trước được biết dưới tên là “Adamic” và “Hyperborean”, các h́nh hài được phú cho linh hồn là chất cảm dục và chất dĩ thái theo thứ tự: “khổng lồ và không h́nh dáng rơ rệt”, chúng có một trạng thái ư thức hướng ngoại tác động qua giác quan duy nhất (thính giác) mà giống dân thứ nhất làm chủ, hay là qua hai giác quan (thính giác và xúc giác) mà giống dân thứ hai có được. Nhưng với giống dân thứ ba, giống Lemuria, một kiểu mẫu giống con người hơn và thô đặc hơn được phát triển, kiểu mẫu này được hoàn thiện trong giống dân thứ tư hay giống Atlantis. Giống dân thứ năm, dân Aryan, hiện nay đang phát triển trên bầu hành tinh này đồng thời với một phần lớn giống dân thứ tư và một ít c̣n sót lại của giống dân thứ ba. Cần phải ghi nhận rằng, mặc dù mỗi giống dân khai sinh ra giống dân kế tiếp, cả hai giống dân sẽ trùng lắp nhau theo thời gian cùng tồn tại trong nhiều thời đại. Trong số các dân tộc hiện hữu, người Tartares, Trung Hoa và Mông Cổ thuộc về giống dân thứ tư, thổ dân Úc Châu và người Hottentots thuộc giống dân thứ ba.   

      (LVLCK, 121122)

   Giáo lư bí nhiệm dạy rằng có bảy nhóm đơn vị nhân loại cư trú trên bảy lục địa trong .                                             (GLBN II, 68)

   a) Giống dân 1         ...         Thánh địa bất hoại.

   b) Giống dân 2         ...         Vùng đất Hyperborea.

   c) Giống dân 3         ...         Lemuria.

   d) Giống dân 4         ...         Atlantis.

   e) Giống dân 5         ...         Aryan.

   f) Hai giống dân nữa sẽ nối tiếp giống dân hiện nay.

(LVLCK, 714)

     - Bảy căn chủng hợp thành một chu kỳ thế giới (world period).                                                                                                                                     (LVLCK, 62)

     Căn chủng thứ nhất (Adamic race): có các h́nh hài được làm cho linh hoạt là thể cảm dục, có một giác quan (thính giác).

     Căn chủng thứ hai (Hyperborean race): H́nh hài được làm cho linh hoạt là thể dĩ thái, có hai giác quan (thính giác và xúc giác).

     Căn chủng thứ ba (Lemurian race): Thổ dân Úc Châu và người Hottentots thuộc căn chủng 3).

    Căn chủng thứ tư (Atlantean race): Người Tartars, Trung Hoa, Mông Cổ thuộc căn chủng 4.

    Căn chủng thứ năm (Aryan race)                           (LVLCK, 122)

Căn chủng thứ tư (Fourth root race):

     Dân tộc thuộc căn chủng thứ tư được t́m thấy trên hành tinh chúng ta là người Trung Quốc, người Nhật, nhiều chủng tộc Mông Cổ khác nhau ở Trung Á (và họ ít  nhiều bị pha trộn lẫn nhau với giống dân Caucase) cùng với các nhóm lai giống được t́m thấy trong nhiều đảo ở các biển phía Nam trong các đại dương và các bán cầu, cũng như hậu duệ của các chủng tộc mà cách đây hàng triệu năm đă làm cho lục địa Nam Mỹ nổi danh v́ nền văn minh của nó.                                                 (GDTKNM, 119)

Căn chủng thứ năm: (Fifth Root Race)

   Căn chủng hiện nay của chúng ta (căn chủng 5) đă xuất hiện được khoảng một triệu năm (1.000.000)             (GLBN 2,  376)

Căn chủng thứ sáu (Sixth root race):

     Các đại họa (catalysms) có bản chất toàn cầu sẽ xảy đến trong ṿng 1.000 năm tới. Các lục địa sẽ bị rung chuyển (shaken); đất đai sẽ bị nâng lên và ch́m xuống, tột đỉnh trong thảm họa vật chất sâu xa sẽ diễn ra trên thế giới vào lúc kết thúc chi chủng thứ tư (fourth branch race) của phụ chủng 6 (sixth subrace). Việc này sẽ mở đầu trong căn chủng non trẻ thứ sáu.                                                                                          (LVLCK, 467)

Cặp đối hợp ([1])(the pairs of opposites):

     - Cơi cảm dục là nơi mà các cặp đối hợp tác động và tương tác, nơi mà sức lôi kéo của các nhị nguyên quan trọng được nhận thấy mạnh mẽ nhất. Trước tiên, là sự tương tác giữa linh hồn với hiện thể của nó, vật chất. Nhưng có nhiều nhị nguyên kém quan trọng cũng có vai tṛ của chúng và người thường cũng dễ nhận biết.

     Ánh sáng (light) và bóng tối (darkness) tác động lẫn nhau, khoái lạc (pleasure) và đau khổ (pain) cũng thế. Thiện (good) và ác (evil) gặp nhau và tạo thành trường tác động (play ground) của các Thiên Đế. Nghèo (poverty) và giàu (riches) được đền bù cái này dựa vào cái kia. Toàn bộ t́nh h́nh kinh tế hiện đại có bản chất cảm dục, đó là hậu quả của dục vọng và là kết quả của việc sử dụng chắc chắn là ích kỷ các sức mạnh của vật chất. Nóng (heat) và lạnh (cold), theo như chúng ta hiểu, theo cách đặc biệt nhất, là kết quả của sự tương tác của các cặp đối hợp, và là một đường lối lư thú của nghiên cứu huyền linh, chính nó liên quan với các hậu quả của các xúc cảm của con người lên các t́nh trạng của khí hậu…

     Đối với con người, huyền nhiệm của việc giải thoát nằm trong việc làm quân b́nh các mănh lực và làm thăng bằng các cặp đối hợp. Thánh đạo là con đường hẹp giữa các cặp đối hợp này mà kẻ t́m đạo t́m ra và bước lên, không rẽ sang phải cũng không sang trái.

     Phải luôn luôn nhớ rằng khi các cặp đối hợp được phân biệt, khi một người làm thăng bằng được các mănh lực của bản chất riêng của ḿnh, khi y đă t́m thấy Thánh Đạo và trở nên Thánh Đạo, bấy giờ, y có thể hoạt động với các sức mạnh của thế gian, có thể duy tŕ được sự thăng bằng và quân b́nh của các năng lượng thuộc ba cơi thấp và nhờ thế trở thành kẻ cùng hoạt động với các Chân Sư Minh Triết.                           (LVHLT, 225)

     - Vào lúc mà việc định hướng bên trong hướng tới cơi giới giá trị cao siêu xảy ra, bấy giờ dĩ thái lực hay sinh lực lại xung đột với trạng thái thấp nhất của con người, tức thể xác trọng trược, trận chiến của cặp đối hợp thấp lại xảy ra.

     Thật là lư thú mà ghi nhận rằng chính trong giai đoạn này, cần phải chú trọng vào cách giữ giới luật cho xác thân, vào các yếu tố kềm chế như là hoàn toàn có tiết độ, sống độc thân và ăn chay, chú trọng vào vệ sinh cá nhân và tập thể dục. Nhờ các yếu tố này mà việc kềm chế sự sống bởi h́nh hài (tức biểu hiện thấp nhất của trạng thái thứ ba của thánh linh) có thể bị xóa bỏ, con người thoát khỏi trận chiến thực sự của các cặp đối hợp.                                                                            (TLHNM II, 309)

Cầu vồng (rainbow bridge):

     Cái cầu được kiến tạo thường được gọi là “cầu vồng”, bởi v́ nó được cấu tạo với tất cả các màu của 7 tia sáng. Nói về mặt chuyên môn và theo quan điểm của đệ tử, nhịp cầu mà y tạo nên giữa Phàm Ngă với Tam Thượng Thể Tinh Thần gồm có bảy tuyến năng lượng hay 7 ḍng thần lực…    (CVĐĐ, 505)

Cây có bảy lá : X. Saptaparna

Cây vô ưu : Asoka (Bắc Phạn)

Cha Trên Trời (Father in Heaven):

     Mỗi dân tộc và mỗi quốc gia đều có một Đấng Quán Sát (Watcher), Đấng Bảo Hộ (Guardian) trực tiếp và Cha Trên Trời – một Hành Tinh Thượng Đế (a Planetary Spirit).

       (GLBN II, 300)

Chakra : X. Bí huyệt.

Chấm dứt biệt nghiệp (The ceasing of individual karma):

     X. Ước muốn giải thoát.

Chân lư : (the truth)

   Chân lư về bất cứ sự vật nào là cách thức mà sự vật đó tự thị hiện (presents itself) trước Thái Dương Thượng Đế, tức là trước Đấng Tạo Lập (the Maker) của toàn bộ Thái Dương Hệ. 

(GLASTTĐ, 293)

Chân Ngaơ (Ego, Chân Nhân, Linh hồn):

     Là Con Của Trí Tuệ (Son of Mind).                                     (LV7C, 475)

     Là thực thể biết suy tư (thinking entity)

     Chân Ngă (Ego) của kẻ thường nhân có trú sở trên cơi phụ thứ ba của cơi trí.                                                                                   (LVHLT, 113)

     – Chân Ngă (real man) tức hồn tinh thần (spiritual soul).                                                                                                                                      (CTNM, 346)

     – Chân Ngă tức chủ thể hữu ngă thức (self conscious Identity), có bản chất và thật sự là Bác ái - Minh Triết , nhưng biểu lộ chính yếu như là ư thức sáng suốt (intelligent consciousness).                                                     (LVLCK, 684)

     - Chân Ngă, h́nh ảnh (reflection) của Chân Thần, chính nó cũng là một tam bộ (a triplicity) như tất cả các cái khác (vạn hữu) trong thiên nhiên và phản ánh ba trạng thái của thánh linh (divinity), giống như trên cơi cao, Chân Thần phản ánh ba trạng thái – Ư chí, Bác ái - Minh Triết và Thông tuệ linh hoạt – của Thượng Đế (Deity).                                   (ĐĐNLVTD, 114)

     – Kiên tŕ (endurance) là một trong các đặc tính (characteristics) của Chân Ngă. Chân Ngă kiên tŕ (persist) v́ biết ḿnh bất tử. Phàm ngă hay năn ḷng v́ biết thời gian ngắn ngủi.                                                                (ĐĐNLVTD, 776)

     – Chân Ngă  của con người (human Ego) không phải là Atman, cũng không phải là Buddhi mà là Thượng Trí (Higher Manas); kết quả của hoạt động trí tuệ (intellectual fruitage) và tinh túy của cá thể hữu ngă thức biết hoạt động trí tuệ (intellectual–self–conscious Egotism) – theo ư nghĩa tâm linh cao siêu. Kinh sách cổ gọi nó là Karana Sharira (Chân Ngă thể/Linh hồn thể) trên cơi của Sutratma, vốn là “sợi chỉ vàng” mà các phàm ngă khác nhau của Chân Ngă này được xỏ xâu qua đó, giống như xâu chuỗi (beads).                                  (GLBN III, 89)

     - Higher self tức là causal self.                                               (ASCLH, 400)

Chân Ngă của Địa cầu (Earth’s alter ego):

     Kim Tinh (Venus) cũng là Chân Ngă của Địa cầu.

(CTHNM, 361)

Chân Ngă liên hoa (Egoic lotus, Hoa sen Chân Ngă) :

   tức là linh hồn thể (soul body).                                                     (ĐĐTKNM, 763)

Chân Ngă Luân hồi : (Incarnating/ Reincarnating Ego)

-         Chân Ngă luân hồi tức là hồn thiêng (divine soul).

-  Sutratma theo nghĩa đen là Thread Soul (Hồn Dây), đồng nghĩa với Chân Ngă luân hồi (tức là Manas liên kết với Buddhi).                                                      (CKMTTL,120,125)

Chân Ngă thể (causal body, thể nguyên nhân, thể nhân khởi, linh hồn thể):

  - Theo quan điểm cơi trần, thể này không phải là một thể, dù là nội tâm hay ngoại cảnh. Tuy nhiên, đó là trung tâm của Chân Ngă thức (egoic consciousness) và được tạo thành bằng sự kết hợp của tuệ giác thể (buddhi) và thượng trí (manas). Thể này tương đối trường cửu và kéo dài suốt chu kỳ dài của các lần luân hồi, và chỉ bị tan ră sau cuộc điểm đạo thứ tư, khi con người không cần tái sinh thêm nữa.        (ĐĐNLVTD, 217)

     – Chân Ngă thể đôi khi được gọi (dù không chính xác) là “Karana sarira”, nằm ở cơi phụ (phân cảnh) thứ ba của cơi (cảnh) trí, tức cơi trừu tượng thấp nhất.                               (LVLCK, 707)

     – Chân Ngă thể của thường nhân (average causal body) ở cơi phụ thứ ba của cơi trí.                                                      (TVTTHL, 3)

     – Chân Ngă thể được tạo ra nhờ vào sự sống hay lửa dương (positive life, or fire) của Tinh thần (lửa điện) gặp gỡ lửa âm (negative fire) của vật chất hay “lửa do ma sát”, sự kiện này tạo ra sự bừng sáng của lửa thái dương.

     … Chân Ngă thể (linh hồn thể) là lớp vỏ (sheath) bằng chất trí, được tạo ra vào lúc biệt lập ngă tính do sự tiếp xúc của hai lửa. Lực hay năng lượng tuôn đổ qua từ các cơi cao (hơi thở của Chân Thần, nếu bạn đồng ư gọi thế) tạo ra một chân không (vacum) hay một cái ǵ tương tự với một bọt hỗn nguyên (bubble  in Koilon) và lớp vỏ của linh hồn thể – ṿng giới hạn của Sự sống trung ương được tạo ra. Bên trong lớp vỏ này có ba nguyên tử được đặt tên là nguyên tử thường tồn hạ trí (mental unit), nguyên tử thường tồn cảm dục và nguyên tử thường tồn hồng trần…                                   (LVLCK, 506–507)

     - Chân Ngă thể là hiện thể (vehicle) của Chân Ngă.

 

 (TVTTHL, 3)

      - Chân Ngă thể được tạo thành bằng sự kết hợp của luồng sóng sinh hoạt thứ hai và thứ ba.                                                  (LVLCK, 94)

- Mục tiêu tiến hóa của con người trong ba cơi thấp - hồng trần, cơi cảm dục và cơi hạ trí - là chỉnh hợp (alignment) Phàm Ngă tam phân với Chân Ngă thể cho đến khi trở thành đường thẳng duy nhất và con người trở nên Đấng Duy Nhất (One).                                                                                                     (TVTTHL, 5)

- Chân Ngă thể tức là thể biểu lộ  (body of manifestation) của Chân Ngă.                                                                             (LVLCK, 803)

- Sau khi được điểm đạo, Chân Ngă thể ở trên cơi phụ thứ hai của cơi trí, và bấy giờ, Chân Thần mới bắt đầu kềm chế.

      (LVLCK, 578)

- Body egoic tức là causal body.                                               (LVLCK, 261)

- Chân Ngă thể chỉ là lớp vỏ (sheath) của Chân Ngă (Ego).                                                                                                                                            (LVLCK, 179)

 

- Tinh thần được bọc (incased) trong linh hồn thể được gọi là linh hồn, con người cá biệt (individual), chân nhân.  

        (MTNX, 213)

Chân Ngă thức (Causal consciousness):

     Chân Ngă thức tức là việc mở rộng liên tục sự hiểu biết sáng suốt của một người từ kiếp này đến kiếp khác.    

     (LVLCK, 279)

Chân nhân (Real man):

     Là hồn tinh thần (spiritual soul).                                                (CTNM, 346)

Chân Như : Tathagata, Presence.

Chân Sư (Adept hay Master):

     Một Chân Sư hay một người đă vượt qua con đường tiến hóa và đi vào giai đoạn cuối cùng của thánh đạo, tức Con đường Điểm đạo , đủ được 5 lần điểm đạo và do đó, đă bước vào giới thứ năm hay giới Tinh thần, chỉ c̣n nhận thêm hai cuộc điểm đạo nữa.                                                 (ĐĐNLVTD, 215)

     Một Chân Sư là một vị sáng tạo (creator) bằng chất liệu cơi trí (mental matter), một vị phát khởi (originator) các xung lực (impulses) trên cơi trí, nhờ đó tạo được các kết quả trong biểu hiện ở cơi cảm dục hoặc cơi hồng trần. Các kết quả này mạnh mẽ và hữu hiệu, do đó vị phát khởi phải có tư tưởng thanh khiết, lời nói chính xác và hành động khéo léo. 

                        (ĐĐNLVTD, 198199)

     - Các Chân Sư chuyên môn về khoa học thị giác (science of sight) và khoa học về âm thanh (science of sound) là một số Chân Sư thông thái nhất và tiến hóa nhất (most erudite and advanced) trong Thánh Đoàn.

    

- Vị Chân Sư có được tự do hoàn toàn để hoạt động trong ba cơi thấp cộng với cơi Bồ Đề (buddhic realm), trong khi Đức Christ và các Vị cùng cấp điểm đạo với Ngài có được tự do hoạt động trong năm cơi tiến hóa của con người.          

              (ASCLH, 354, 356)

Chân Sư Djwhal Khul (Master D.K.):

     Đức Djwhal Khul hay là Đức D.K. như Ngài thường được gọi, là một Chân Sư thuộc Cung 2, Cung Bác áiMinh Triết. Ngài là vị Chân Sư được điểm đạo gần đây nhất, Ngài được điểm đạo lần 5 vào năm 1875, và do đó đang ngự trong chính thể xác lúc Ngài được điểm đạo. Đa số các Chân Sư khác được điểm đạo lần 5 trong khi đang ngự trong các thể trước kia. Thể xác Ngài không c̣n trẻ và Ngài là người Tây Tạng. Ngài rất tận tụy với Đức Thầy K.H. và ngự nơi một ngôi nhà nhỏ không xa với ngôi nhà lớn hơn của Sư Phụ, và v́ Ngài sẵn sàng phụng sự và làm bất cứ điều ǵ cần làm. Ngài được gọi là “Vị Sứ Giả của các Chân Sư”. Ngài có kiến thức uyên bác và biết nhiều về các Cung và các Huyền Giai hành tinh của Thái Dương Hệ hơn là bất cứ vị nào khác trong cấp đẳng các Chân Sư. Ngài hoạt động với những người chữa bệnh và cộng tác một cách vô vi (unknown and unseen) với những người t́m ṭi chân lư trong các pḥng thí nghiệm lớn trên thế giới, với tất cả những người chắc chắn nhắm vào việc chữa trị và vỗ về thế gian, và với các phong trào từ thiện lớn trên thế giới như Hồng Thập Tự. Ngài chăm nom đến những đệ tử nào của các Chân Sư khác có thể tận dụng được giáo huấn của Ngài. Trong ṿng 10 năm qua, Ngài đă gánh vác cho cả Đức M. lẫn Đức K.H. một số lớn công việc giảng dạy, tiếp nhận từ các Đấng này một số môn đồ dành cho một vài thời kỳ đă định trước. Ngài cũng làm việc ở mức độ lớn với một vài nhóm thiên thần dĩ thái, vốn là các thiên thần chữa trị, và như thế họ cộng tác với Ngài trong việc chữa một số bệnh thuộc xác thân của nhân loại. Chính Ngài đọc cho viết một phần lớn bộ sách quan trọng là Giáo Lư Bí Nhiệm và Ngài đă chỉ cho Bà H.B. Blavatsky nhiều h́nh ảnh và đem lại cho Bà nhiều dữ liệu (data) chứa trong bộ sách này.

Chân Sư Hilarion :

     Trên cung 5, Cung Tri Thức Cụ Thể hay Khoa học, có Chân Sư Hilarion, trong một tiền kiếp, Ngài là Paul ở Tarsus. Ngài có một thể xác người Crete, nhưng phần lớn thời gian sống ở Ai Cập. Ngài cống hiến cho thế gian bộ luận huyền linh “Ánh sáng trên Thánh đạo” (Light on the Path). Công việc của Ngài đặc biệt lư thú đối với đại chúng vào lúc khủng hoảng này, v́ Ngài làm việc với những ai đang mở trực giác, kiểm soát và chuyển hóa các phong trào lớn có khuynh hướng tháo bỏ bức màn ra khỏi cơi vô h́nh. Năng lượng của Ngài là loại năng lượng mà, qua các đệ tử của Ngài, đang làm phấn khích các nhóm sưu khảo tâm linh ở khắp nơi, và chính Ngài đă phát khởi, thông qua nhiều đệ tử của Ngài, phong trào Duy Linh (spiritualistic movement). Ngài quán sát tất cả những nhà tâm thông cao cấp và giúp họ mở các quyền năng cho lợi ích tập thể, và cùng với một số thiên thần cơi cảm dục, Ngài làm việc để khai mở cho những kẻ t́m ṭi chân lư biết được thế giới bên trong (subjective world) ẩn sau thế giới quá thiên về vật chất.

Chân Sư Jesus :

     Chân Sư Jesus là điểm hội tụ của năng lượng đang lưu chuyển qua nhiều Giáo hội Cơ Đốc. Hiện nay, Ngài đang sống trong một thể xác người Syrya và ngự đâu đó trong vùng Thánh Địa (Holy Land). Ngài đi hoằng khai đạo pháp ở nhiều nơi của Châu Âu. Ngài chuyên hoạt động với quần chúng hơn là với cá nhân, mặc dù Ngài quy tụ được quanh Ngài rất đông đệ tử. Ngài thuộc Cung 6, Cung Sùng Tín hay Lư Tưởng Trừu Tượng (Abstract Idealism) và các môn đồ của Ngài thường được nhận ra bằng sự cuồng tín và sùng tín lộ rơ trong các thời kỳ đầu của Cơ Đốc Giáo trong số người tử đạo. Chính Ngài là một nhân vật uy dũng, một người đề cao kỹ luật và một người có luật lệ và ư chí sắt đá.

     Ngài có dáng dấp cao lớn và xương xương, gương mặt dài và không được đầy đặn, tóc đen, nước da tái, với đôi mắt xanh sắc sảo. Hiện nay, công việc của Ngài cực kỳ quan trọng v́ Ngài được giao cho việc lèo lái tư tưởng của Tây Phương ra khỏi t́nh trạng bất ỗn hiện nay vào ḍng nước an b́nh của xác tín và tri thức, và chuẩn bị con đường ở Âu Châu và Mỹ Châu cho sự tái lâm sau rốt của Đức Chưởng Giáo. Ngài nổi tiếng trong câu chuyện Thánh Kinh, trước tiên xuất hiện dưới tên Joshua, con trai của Nun, tái hiện vào thời Ezra dưới tên Jeshua, được điểm đạo lần ba dưới tên Joshua, như đă được nhắc đến trong sách Zechariah. Trong câu chuyện Phúc Âm, Ngài được biết tới do hai hy sinh lớn, cuộc hy sinh mà trong đó, Ngài nhường thể xác cho Đức Christ sử dụng, và cuộc đại từ bỏ vốn là đặc điểm của lần điểm đạo thứ tư. Dưới tên là Appolonius ở Tyana, Ngài được điểm đạo lần 5 và trở thành một Chân Sư Minh triết. Kể từ đó, Ngài đă ở lại và làm việc với Giáo Hội Cơ Đốc, nuôi dưỡng mầm mống của sự sống tinh thần đích thực có trong các thành viên của mọi chi phái và môn phái, cố gắng làm trung ḥa các sai sót và lỗi lầm của các giáo sĩ và các nhà thần học. Rơ ràng Ngài là vị Đại Lănh Đạo, vị Tướng Lĩnh và nhà hành pháp khôn khéo. Trong các vấn đề Giáo Hội, Ngài cộng tác chặt chẽ với Đức Christ, như thế đỡ đần cho Đức Christ nhiều việc và đóng vai tṛ trung gian cho Đức Christ khi có thể được. Không ai hiểu biết các vấn đề của Phương Tây một cách sáng suốt bằng Ngài, không ai tiếp xúc một cách mật thiết với những người tiêu biểu cho tất cả những ǵ tốt đẹp nhất trong giáo lư Cơ Đốc bằng Ngài và không ai biết rơ bằng Ngài về nhu cầu của thời hiện tại. Một số vị đại Giám Mục của Giáo Hội Anh Giáo và Cơ Đốc Giáo là các nhân viên sáng suốt của Ngài.

     - Đức Jesus là vị Chohan trên cung 6.                       (LVLCK, 439)

Chân Sư Jupiter :

     Trong nhóm lớn thứ nhất do Đức Bàn Cổ (Manu) lănh đạo, có hai Chân Sư là Đức Jupiter và Đức Morya. Cả hai Ngài đều được hơn 5 lần điểm đạo. Đức Jupiter cũng là vị Nhiếp Chính (Regent) của Ấn Độ, được toàn thể Đại Đoàn Chân Sư xem như là vị kỳ cựu nhất trong số các Chân Sư. Ngài ở trong vùng đồi Nilgherry, thuộc miền Nam Ấn Độ và không phải là một trong các Chân Sư thường thu nhận đệ tử, v́ trong các đệ tử của Ngài có các điểm đạo đồ cao cấp và một số các Chân Sư. Ngài lănh phần cai quản Ấn Độ, gồm một phần lớn vùng biên giới phía Bắc và Ngài được giao cho nhiệm vụ gian nan là cuối cùng dẫn dắt nước Ấn Độ ra khỏi t́nh trạng hỗn loạn và bất an hiện nay, kết hợp các chủng tộc khác nhau thành một khối tổng hợp sau cùng.

Chân Sư Koot Humi :

     Chân Sư Koot Humi rất nổi tiếng ở phương Tây và có nhiều đệ tử ở khắp nơi. Ngài gốc ở Kashmir, mặc dù thoạt đầu gia đ́nh Ngài từ Ấn Độ đến. Ngài cũng là điểm đạo đồ cao cấp thuộc cung hai, Cung Bác ái Minh triết. Ngài có dáng vẻ quư phái, cao, mặc dù hơi mảnh khảnh hơn Chân Sư M.. Ngài có nước da đẹp, râu tóc nâu vàng, mắt xanh thẳm tuyệt diệu, dường như qua đó bác ái và minh triết vô thủy tuôn tràn ra. Ngài có kinh nghiệm và học vấn rộng, trước kia có theo học ở Đại học nước Anh, và nói tiếng Anh lưu loát. Ngài đọc nhiều và bao quát, tất cả các sách vở và văn học hiện có bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau đều được Ngài đem đến Hi Mă Lạp Sơn để nghiên cứu. Phần lớn Ngài để tâm đến việc làm sinh động một vài triết thuyết lớn và chính Ngài cũng chú ư đến một số cơ quan từ thiện. Ngài được giao phó công việc mà chính phần lớn là kích thích sự biểu lộ đức bác ái đang tiềm tàng trong tâm mọi người và khơi dậy trong tâm thức việc nhận ra sự kiện căn bản lớn lao là t́nh huynh đệ.

Đặc biệt là vào lúc này Chân Sư M., Chân Sư K.H. và Chân Sư Jesus đang lưu tâm chặt chẽ đến việc hợp nhất tối đa tư tưởng Đông và Tây, ngơ hầu các tôn giáo lớn ở Đông phương với sự phát triển sau này của Cơ Đốc Giáo với tất cả các chi phái của nó, có thể giúp ích cho nhau. Có được như thế th́ sau rốt mới hy vọng Giáo Hội đại đồng vĩ đại duy nhất xuất hiện.

- Chân Sư K.H. là Đế Quân (Chohan) của cung giáo huấn (teaching ray).                                                                                                        (SHLCTĐ, 505)

Chân Sư Morya :

     Đức Morya là một trong các Chân Sư Đông phương nổi tiếng nhất, trong các môn đồ của Ngài có một số lớn người Âu Châu và Mỹ Châu. Ngài là một ông Hoàng thuộc tộc Rajput, trong nhiều thập niên đă giữ một địa vị có thẩm quyền trong quốc sự Ấn Độ.

     Ngài hoạt động bằng sự hợp tác chặt chẽ với Đức Bàn Cổ và chính Ngài rốt lại sẽ giữ chức vụ Bàn Cổ của căn chủng thứ sáu. Cũng như đạo huynh của Ngài là Đức K.H., Ngài ở tại Shigatse trong vùng Hi Mă Lạp Sơn và là một gương mặt được biết nhiều đối với dân cư của ngôi làng xa xôi này. Ngài có tầm vóc cao, dáng vẻ uy nghi, tóc, râu và mắt đều sậm màu, có thể coi là nghiêm khắc nếu không có nét t́nh cảm ẩn trong đôi mắt. Ngài và Đức K.H. hoạt động hầu như là một đơn vị đă từ nhiều thế kỷ và vẫn sẽ tiếp tục trong tương lai v́ Đức K.H. sẽ đảm nhiệm chức Chưởng Giáo khi Đấng đang giữ chức này rời nhiệm sở để nhận công việc cao hơn, lúc căn chủng thứ sáu ra đời. Cả hai Ngài đều ở trong các ngôi nhà gần nhau và các Ngài dùng nhiều th́ giờ cộng tác chặt chẽ với nhau. V́ Đức M. thuộc cung 1, Cung ư chí hay Quyền lực nên công việc của Ngài phần lớn có liên quan tới việc xúc tiến kế hoạch của Đức Bàn Cổ hiện tại. Ngài tác động như vị gợi hứng khởi cho các chính trị gia trên thế giới, Ngài vận dụng các thần lực, qua Đức Văn Minh Đại Đế (Mahachohan) để mang lại các t́nh huống mong muốn hầu thúc đẩy sự tiến hóa của nhân loại. Ở cơi trần, các nhà hành pháp quan trọng của quốc gia có t́m nh́n xa và có lư tưởng quốc tế đều chịu ảnh hưởng của Ngài. Cộng tác với Ngài là một số đại thiên thần của cơi trí và ba nhóm lớn các thiên thần làm việc với Ngài trên các phân cảnh của cơi trí, liên quan với các thiên thần cấp thấp đang làm linh hoạt các h́nh tư tưởng, và nhờ thế, giữ cho h́nh tư tưởng của các vị Hướng Dẫn nhân loại được linh hoạt, ngơ hầu đem lại lợi ích cho toàn thể nhân loại.

     Chân Sư M. giảng dạy một số lớn đệ tử, Ngài cũng hoạt động liên quan đến nhiều tổ chức thuộc loại nội môn và huyền linh, cũng như hoạt động qua các chính trị gia và nhà lănh đạo trên thế giới.

     - Chân Sư M. là một Chohan.                                       (SHLCTĐ, 522)

Chân Sư Rakoczi :

     Chân Sư đặc biệt lưu ư đến việc phát triển các sự việc của nhân loại trong tương lai ở Âu Châu là Đức Rakoczi. Ngài là người Hungary, có nhà ở vùng núi Carpath và có thời là nhân vật nổi tiếng ở triều đ́nh Hungary. Các sách lịch sử cổ xưa có nói đến Ngài. Đặc biệt là khi xuất hiện trước công chúng, Ngài là Bá Tước St. Germain và trước đó nữa, Ngài vừa là Roger Bacon, rồi sau là Francis Bacon. Thật lư thú mà ghi nhận rằng khi Chân Sư R. đảm trách các sự vụ ở Âu Châu trên các nội cảnh giới dưới tên là Francis Bacon th́ Ngài xuất hiện trước mắt công chúng trong cuộc tranh căi BaconShakespear.

     Ngài có vóc người hơi nhỏ, gầy g̣, cḥm râu nhọn màu đen, tóc đen mướt. Ngài không nhận nhiều đệ tử như các Chân Sư khác. Hiện nay, cùng với Đức Hilarion, Ngài đang trông coi đa số các đệ tử thuộc Cung 3 ở Tây phương. Đức R. thuộc Cung 7, Cung Pháp thuật Nghi lễ hay Trật Tự (Ceremonial Magic or Order), Ngài làm việc phần lớn qua nghi thức và nghi lễ huyền bí, đặc biệt lưu tâm tới các hiệu quả, đến nay vẫn chưa được nhận biết, đối với nghi lễ của Hội viên Tam Điểm, của  nhiều hội đoàn và Giáo  Hội ở khắp nơi. Nơi Thiên đ́nh (Lodge), Ngài thường được gọi là “Bá Tước”. Ở Mỹ và Âu châu, Ngài gần như hoạt động với tư cách vị Tổng Quản để xúc  tiến các kế hoạch của Hội đồng chấp hành của Thiên Đ́nh.

Chân Sư Serapis :

     Một Chân Sư khác có thể được nói đến vắn tắt ở đây là Đức Serapis, thường được gọi là Chân Sư Ai Cập. Ngài thuộc Cung 4. Các phong trào nghệ thuật lớn trên thế giới, việc tiến triển của âm nhạc, của hội họa và kịch nghệ đều nhận được nơi Ngài một xung lực mạnh mẽ. Hiện nay, Ngài dành phần lớn th́ giờ và sự lưu tâm vào công việc của cuộc tiến hóa thiên thần, cho đến khi sự tác động của thiên thần giúp cho việc thiên khải vĩ đại xảy ra trong thế giới âm nhạc và hội họa về sau này.

     Không thể nói thêm về Ngài, chỗ ở của Ngài cũng không được tiết lộ.

Chân Sư P. :

     Chân Sư P. làm việc theo Chân Sư R. ở Bắc Mỹ. Chính Ngài có liên quan nhiều về mặt huyền môn với các khoa học về trí tuệ, như là Khoa học Cơ Đốc Giáo và Tân Tư Tưởng, cả hai đều là các nỗ lực được Thiên Đ́nh đưa ra với cố gắng giảng dạy cho con người biết được sự thật về những ǵ vô h́nh và quyền năng sáng tạo của thể trí.

     Chân Sư  này có thể xác người Ái Nhĩ Lan, thuộc Cung 4, chỗ ngự của Ngài không được phép tiết lộ. Ngài đảm nhận nhiều công việc của Đức Serapis khi Đấng này chuyển chú tâm vào cuộc tiến hóa của thiên thần.

Chân Sư người Anh (English Master):

     Có thể nói ít điều về hai  Chân Sư người Anh. Không một vị nào thu nhận đệ tử theo cùng ư nghĩa thu nhận đệ tử của Đức K.H. hay Đức M.. Một trong hai Ngài ngự tại nước Anh, đảm trách việc dẫn dắt chủng tộc AngloSaxon, Ngài đề ra các kế hoạch cho sự phát triển và tiến hóa trong tương lai của chủng tộc này. Ngài đứng sau phong trào Lao động trên khắp thế giới, chuyển hóa và hướng dẫn , trào lưu dân chủ đang lên hiện nay có bàn tay điều khiển của Ngài trong đó. Do sự bất ỗn của chế độ dân chủ, do t́nh trạng xáo trộn và hỗn loạn hiện nay, sẽ nảy sinh t́nh h́nh thế giới sau này với chủ âm là sự hợp tác chứ không phải tranh chấp, phân phối chứ không tập trung.                                                                                       (ĐĐNLVTD, 5360)

Chân thần (Monad, Spiritual Individuality – Thư Chân Sư, 127):

     Đấng Duy Nhất. Tinh thần tam phân trên cảnh giới riêng của nó. Trong huyền linh học, từ ngữ này thường có nghĩa là Tam Thượng Thể hợp nhất (unified Triad)Atma, Buddhi, Manas; Ư chí Tâm linh, Trực giác và Thượng trí hay là phần bất tử của con người luân hồi trong các giới thấp và dần dần, qua các giới này tiến đến con người và từ đó đi đến mục đích cuối cùng.                                                       (ĐĐNLVTD, 221)

     Trong Thái Dương Hệ thứ nhất có một cuộc tiến hóa chiếm ưu thế và nó gồm có 100 tỷ Chân Thần.

   Trong Thái Dương Hệ hiện tại, Thái Dương Hệ thứ hai, có hai cuộc tiến hóa chiếm ưu thế, đó là cuộc tiến hóa nhân loại và thiên thần; như đă nói trước kia, có 60 tỷ Chân Thần con người. Thêm vào đó, có cuộc tiến hóa âm (feminine evolution) của thiên thần, gồm có 140 tỷ …                                  (CTNM, 109) 

- Trạng thái thấp của Chân Thần là trực giác (hồn tinh thần).                                                                                                                                    (CTHNM, 506)

- Chân Thần tức là tiểu vũ trụ.                                                  (LVLCK, 69)

            - Chân Thần là sự sống nhập thế (outbreathed life) của Thượng Đế biểu lộ (Logos, Ngôi Lời).               (MTNX,  180)

            - Chân Thần là trạng thái tâm linh cao siêu nhất.

 (ACMVĐTG, 97)

            - Chân Thần do Thượng Đế Ngôi Một sinh ra và ngự trên cơi Đại Niết Bàn (Anupadaka plane), tức cơi thứ nh́. 

       (KCVTT,  133)

            - Có bảy kiểu mẫu (types) Chân Thần lớn và căn bản mà đôi khi được mô tả như là giống với bảy màu của quang phổ mặt trời dẫn xuất từ ba màu nguyên thủy.          (MTNX,   203)

            - Kể từ điểm giữa của giống dân Atlantis trở đi, không c̣n một Chân Thần mới (fresh Monads) nào đi đầu thai nữa.            

                                                                                                                                    (GLBN III, 304)

   Chân Thần là Tinh thần (Spirit), là Linh Ngă (Divine Self).                                                                                                                                             (LVLCK, 48)

     Con người tâm linh (spiritual man) là Chân Thần.

(ASCLH, 31)

     Chân Ngă Tâm linh (Spiritual Self) tức là Chân Thần.               

                                                                                                                        (ĐĐNLVTD, 207)

     Là Tinh thần, là Linh Ngă, là Bản Lai Diện Mục (Presence).                                                                                                                   (ASCLH, 8)

     ­ Chân Thần là ư chí hay mục tiêu năng động (dynamic will or purpose) nhưng vẫn không hiển lộ măi cho tới sau lần điểm đạo thứ ba. Chân Thần là Sự Sống, mănh lực kiên tŕ (sustaining force), một Tinh Quân (Lord) kiên nhẫn và luôn luôn tận tụy theo đuổi mục tiêu đă được xác định và được thấy rơ.                                                                                 (TLHNMI, 48)

     – Chân Thần, tức là Đơn vị Tâm thức (Unit of Consciousness), hữu thức trên cơi thứ nh́ (tức cơi Đại Niết Bàn–ND) nhưng hoàn toàn vô ư thức (unconscious) trên năm cơi thấp hơn.                                                          (KCVTT, 41)

     – Chân Thần, hai hạng:

            1/ Một số Chân Thần tự nguyện trải qua (willing to live through) các công việc vất vả (toils) của năm cơi thuộc vũ trụ chúng ta để chế ngự vật chất tại đó và sau đó sáng tạo ra một vũ trụ khác, nên phải giáng nhập vào năm cơi này để phát triển thành một Thượng Đế (God), một Cây Sự sống (Tree of Life, Sinh Thụ), một Suối Nguồn của Vạn Vật khác nữa (another fount of Being). Công cuộc sáng tạo một vũ trụ là Ngày Ly Biệt (Day of Forth–going); sự sống đang biến dịch; sự sống biết được chính ḿnh bằng sự thay đổi.

            2/ Có các Chân Thần khác không muốn trở thành những kẻ chế ngự vật chất (masters of matter), những Đấng sáng tạo (creators), vẫn ở lại trong phúc lạc yên tĩnh của ḿnh, không nhập vào năm cơi tiến hóa của vũ trụ này, không biết đến các sinh hoạt của năm cơi đó.                                                             (KCVTT, 41)

     – Đa số các Chân Thần ở trên cơi phụ thứ hai của cơi Chân Thần. Có một ít Chân Thần Quyền lực hay Ư chí (Monads of power hoặc will) ở trên cơi phụ vi tử (tức cơi phụ thứ nhất của cơi Chân Thần–ND) nhưng số đó không nhiều và các Chân Thần này chỉ tạo thành cái nhân để chuẩn bị công cuộc tiến hóa cho Thái Dương Hệ III, Thái Dương Hệ Quyền Lực. Đa số các Chân Thần ở trên cơi phụ thứ hai là các Chân Thần Bác Ái (Monads of Love). Trên cơi phụ thứ ba, có một số đáng kể các Chân Thần Hoạt động (Monads of Activity), nhưng số lượng không nhiều bằng các Chân Thần Bác Aùi. Đó là các Chân Thần thất bại của Thái Dương Hệ I.

     Như chúng ta biết, có một vận hà trực tiếp giữa phân cảnh (cơi phụ) vi tử trên mỗi cảnh giới (cơi). Điều này đúng ít nhiều đối với mỗi phân cảnh và các phân cảnh cao tương ứng bằng số của nó. Do đó, có một vận hà (đường vận chuyển) trực tiếp và hoàn toàn phát triển giữa các phân cảnh thứ hai trên mọi cảnh giới, giúp cho các Chân Thần Bác ái liên kết rất dễ dàng với mọi hiện thể của các Chân Thần này khi chúng được cấu tạo bằng vật chất của phân cảnh 2. Sau khi được điểm đạo, linh hồn thể ở trên phân cảnh 2 của cơi trí, và lúc bấy giờ mới có sự kềm chế của Chân Thần.                                           (LVLCK, 578)

     – Chân Thần của “con người” (“human” Monad), dù bị nhập thể vào trong khoáng thạch (immetallized) dưới h́nh thức nguyên tử của ḥn đá (stone–atom), hoặc nhập thể vào thực vật (invegetalized) dưới h́nh thức cỏ cây, hoặc nhập thể vào động vật (inanimalized) dưới h́nh thức con vật, bao giờ cũng vẫn là một Chân Thần thiêng liêng, cho nên cũng gọi là Nhân Thần (Human Monad). Chân Thần không c̣n là nhân thần nữa chỉ khi nào trở nên tuyệt đối thiêng liêng. Cái tên gọi như Chân Thần “khoáng vật”, Chân Thần “thực vật”, Chân Thần “động vật” chỉ dùng để chỉ sự phân biệt bề ngoài chứ thực sự không có một Chân Thần (Jiva) nào mà không thiêng liêng và tất nhiên đă hay đang trở thành người sau này. Tên gọi sau sẽ trở thành vô nghĩa nếu sau này người ta không hiểu rơ sự dị biệt nêu trên. Chân Thần là một giọt nước trong Đại Dương Vô Bờ Bến (Shoreless Ocean) vượt ra ngoài (beyond), hay nói đúng hơn, ở bên trong (within) cơi biến phân nguyên thủy (plane of primeval differentiation). Chân Thần có tính thiêng liêng ở trạng thái cao và có tính con người ở trạng thái thấp – các tính từ “cao” và “thấp” được dùng tạm v́ thiếu từ ngữ chính xác hơn. Trừ ra ở trạng thái Niết Bàn, c̣n dưới bất luận t́nh huống nào hay h́nh thức bên ngoài nào, Chân Thần lúc nào cũng vẫn là một. Giống như Thượng Đế (Logos) phản ảnh vũ trụ trong Thiên Trí, c̣n Vũ trụ Biểu lộ tự phản ảnh trong mỗi Chân Thần, (theo cách nói của Leibnitz, lặp lại một giáo huấn Đông phương), th́ cũng thế, trong chu kỳ nhập thế của ḿnh, Chân Thần cũng phản ánh trong chính ḿnh mọi h́nh thể căn bản (root–form) của mỗi giới (kingdom).

(GLBN III, 192)

   - Chân Thần nhị thể (dual Monad): gồm nguyên khí thứ 7 và thứ 6.                                                             (Thư của Ch.S.  379)

Chân Thần con người :

     – Như chúng ta đă thấy, Chân Thần con người (the human Monad) có bản chất tam phân, ba trạng thái của nó (aspects) được đặt tên theo thứ tự là Tinh thần (the Spirit), Hồn Tinh thần (the spiritual Soul) và Nhân Hồn (the human Soul): Atma, Buddhi, Manas.                                                                        (MTNX, 212)

     – Chân Thần là hợp thể (combination) của hai nguyên khí chót trong con người, tức nguyên khí thứ 6 và thứ 7. Nói cho đúng th́ thuật ngữ “Chân Thần con người” chỉ dùng để chỉ Linh Hồn Kép (Dual Soul) (Atma–Buddhi) chứ không dùng để chỉ nguyên khí linh hoạt tâm linh cao nhất, tức Atma, mà thôi. Nhưng v́ Hồn Tinh thần (Spiritual Soul) không thể có sự sống, cũng không thể biểu lộ nếu bị tách khỏi Atma, nên Chân Thần được gọi như vậy.                                                        (GLBN I, 230)

Chân Thần thức (Monadic realisation):

     Chân Thần thức liên quan tới tâm thức của Hành Tinh Thượng Đế. Bắt đầu được nhận biết vào lần điểm đạo thứ ba, Chân Thần thức chi phối linh hồn và hoạt động xuyên qua Phàm Ngă.                                                                  (TLHNM II, 7)

Chân thật (Truth) :

   Điều này chủ yếu có liên quan tới việc sử dụng lời nói và các cơ quan phát âm, và có liên quan tới sự “chân thật tận thâm tâm” (“truth in the inmost part”) sao cho sự chân thật biểu lộ ra bên ngoài.                                                 (ASCLH, 185)

Chất dĩ thái (Etheric matter): X. Dĩ thái chất.

Chất liệu (substance):

   Là năng lượng (energy).                                                (ĐĐTKNMII, 437)

   Là mănh lực (force).                                                                             (LVHLT, 565)

   Nói về mặt chuyên môn và hiểu về mặt huyền bí, thực ra chất liệu là chất dĩ thái vũ trụ (cosmic etheric matter) hay là chất tạo thành bốn cơi cao trong số 7 cơi (planes) của chúng ta.

                        (VCVTDT, 189)

   Chất liệu là chất dĩ thái (ether) thuộc một trong nhiều thứ bậc của dĩ thái và là những ǵ ẩn sau chính vật chất (matter).

     (TTCNT, 37)

     – Thực tướng của sự vật (things–in–themselves) tức là chất liệu.                                                                                           (GLBN II, 43)

Chất liệu Nguyên thủy (Premordial substance) :

     Chất liệu Nguyên thủy là Akasha, Hiện Thể của Tư Tưởng Thiêng liêng (the Upādhi of Divine Thought).

     Chất liệu Nguyên thủy được gọi là Chất liệu Vũ trụ (Cosmic Substance), tức là Vật chất (Matter).   (GLBN II, 39)

Chất liệu nguyên tử (Atomic matter):

     – Chất liệu giáng hạ tiến hóa (involutionary substance) tức là chất liệu nguyên tử. Chất liệu nguyên tử này là chất sống (living substance).                                                       (LVLCK, 888)

     – Dĩ thái thứ nhất (first ether) tức là chất liệu nguyên tử.            

                                                                                                                        (LVLCK, 910)

     Phân biệt giữa nguyên tử thường tồn với chất liệu nguyên tử (distinction between permanent atome and atomic matter):

     + Nguyên tử thường tồn là nguyên tử đă được dành riêng cho một trong các sinh linh đang tạo thành các trung tâm lực trong cơ thể của một Thái Dương Tinh Quân, trong khi chất liệu nguyên tử tinh anh tạo thành các phần khác của thể ánh sáng (body of light) vĩ đại của Ngài.

     + Nguyên tử thường tồn là nguyên tử xuất hiện dưới mănh lực hút của Ngôi hai, trong khi chất liệu nguyên tử chính nó được làm linh hoạt bởi sự sống của Ngôi Ba.

     + Một nguyên tử thường tồn tuân theo đường lối dễ dàng nhất của thần lực, và đang vượt qua khỏi sự kềm chế của Tinh Quân Thiên Thần và đến dưới sự kềm chế của sự sống tích cực. Điều này liên quan với sự tiến hóa của ư thức trong vật chất.

     + Một nguyên tử thường tồn tiến đến dưới sự chi phối trực tiếp của nhóm dưới trong số ba nhóm các Nghiệp Quả Tinh Quân và là tác nhân mà qua đó các Ngài tác động dưới sự áp đặt của nghiệp quả lên thực thể riêng biệt đang sử dụng nó.

     Các Ngài hoạt động trực tiếp với các vi tử thường tồn của con người và tạo ra các kết quả qua sự tác động của h́nh hài cho đến khi chúng đă khai thác hết năng lực rung động của bất cứ vi tử đặc biệt nào. Khi xảy ra trường hợp này, nguyên tử chuyển vào giai đoạn quy nguyên như là nguyên khí thứ bảy của bất cứ thể nào đang làm. Nó tiến vào dưới ảnh hưởng của Ngôi Một, biểu lộ như Đấng Hủy Diệt.                   (LVLCK, 517)

Chất liệu vũ trụ: (Cosmic matter, vũ trụ chất)

 Vũ trụ chất (vật chất vũ trụ) vốn là akasa, tức môi trường nguyên thủy (primeval), không phải là môi trường dễ uốn nắn thứ hai (secondary plastic medium), tức là chất Ether mà Khoa Học phỏng đoán/ nghi ngờ (suspected) theo bản năng mà không chứng minh phần c̣n lại.                (Thư của Ch. S,  63)

 

Chất liệu tuyệt đối: (Absolute matter)

    Chất liệu tuyệt đối/ vật chất tuyệt đối có nghĩa là điểm ngưng hoạt động (point of cessation of action) của nguyên khí hoạt động (active principle).                     (Thư của Ch.S.   64)       

Chất trí (Mind-stuff): X. Chitta.

Chén Thánh (Holy Grail, Thánh Bôi):

Chén Thánh, tức cái chén (cup) tiếp nhận và chứa sự sống của Thượng Đế.                                                                                                                     (ASCLH, 227)

Chết (Death, tử vong):

     – Theo nghĩa đen, chết là sự triệt thoái (withdrawal) ra khỏi tim và đầu, hai luồng năng lượng giác tuyến và sinh mệnh tuyến do đó tạo ra sự mất ư thức hoàn toàn và sự tan ră của thể xác.                                                                    (CTNM, 454)

     – Chết là sự triệt thoái một cách hữu thức hay vô thức của thực thể (entity) sinh động bên trong ra khỏi lớp vỏ ngoài của nó, sự tương ứng sinh động bên trong của nó, và sau cùng, chính là sự từ bỏ của thể tinh anh (subtle body) hay các thể tùy theo tŕnh độ tiến hóa của con người.               (CTNM, 478)

     – Sự chết (death) chỉ là một thay đổi (change) mang lại cho linh hồn sự giải thoát một phần (partial liberation), tháo cho linh hồn ra khỏi các xiềng xích nặng nề nhất. Đó chỉ là việc hóa sinh vào một sự sống bao la hơn, một sự trở về trú sở đích thực của linh hồn sau cuộc sống tha hương (exile) ngắn trên cơi trần, một sự chuyển đổi từ bầu khí ngục tù sang bầu khí tự do khoáng đạt hơn. Sự chết là ảo tưởng (illusion) lớn nhất trong số các ảo tưởng ở cơi trần. Không có sự chết mà chỉ có các thay đổi trong các điều kiện sống. Sự sống vẫn liên tục, không gián đoạn, không đứt đoạn; “bất sinh (unborn), vĩnh hằng, có tự ngh́n xưa, thường tồn”. Sự sống không bị hủy diệt cùng với sự hủy diệt (perishing) của các thể bao phủ nó. Cho rằng linh hồn bị hủy diệt khi thể xác tan ră th́ cũng như nghĩ rằng bầu trời sập xuống khi cái lọ bị vỡ.                                                        (MTNX, 174)

     – Sự chết diễn ra theo hai giai đoạn chính:

     Giai đoạn chính 1 (phase one): cái chết của thể xác– thể dĩ thái (physical–etheric body). Giai đoạn này gồm hai giai đoạn phụ (stages):

     a/ Giai đoạn mà các nguyên tử cấu thành thể xác được hoàn trả (restored) cho cội nguồn của chúng. Cội nguồn này là toàn thể vật chất của hành tinh, tạo thành thể xác trọng trược của Sự sống hành tinh.

     b/ Giai đoạn mà thể dĩ thái, gồm một tập hợp các thần lực, hoàn trả lại các lực này cho kho chứa năng lượng chung. Giai đoạn chính có hai phần này nằm trong tiến tŕnh hoàn trả (X. “Tiến tŕnh sự chết”).

     Giai đoạn chính 2 (Phase two): Loại bỏ (“rejection”, đôi khi được gọi như thế) các hiện thể trí cảm. Thực ra, các thể này chỉ hợp thành một thể duy nhất; thuở ban đầu, các nhà Theosophy (một cách chính xác) đă đặt tên cho nó là “thể trí cảm” (“Kama–manasic body) hay là hiện thể của dục vọng–trí tuệ (desire–minh).

     … Sau cái chết lần thứ nhất (cái chết của thể xác), thể này vẫn c̣n hoàn toàn thực (equally real). Nhưng sức mạnh của nó từ từ tàn lụi; con người thiên về trí (mental man) bắt đầu nhận thức được trạng thái tâm thức thực sự của riêng ḿnh (dù cho đă hay chưa phát triển), và lần chết thứ hai có thể bắt đầu xảy ra. Giai đoạn này nằm trong tiến tŕnh loại bỏ (X. “Tiến tŕnh sự chết).

     Khi cả hai giai đoạn này của Thuật Từ Trần (Art of dying) kết thúc, linh hồn thoát xác (discarnate soul) mới thoát khỏi sự kềm chế của vật chất; nó trở nên tinh khiết (tạm thời nhờ các giai đoạn hoàn trả và loại bỏ), thoát khỏi mọi nhiễm trược của vật chất. Điều này đạt được, không phải nhờ bất cứ hoạt động nào của hồn trong h́nh hài, tức nhân hồn, mà là do kết quả hoạt động của linh hồn trên cơi tiêng của nó (tức hồn tinh thần, trên cơi thượng trí–ND), hồn này tách ra một mẩu của chính nó mà ta gọi là nhân hồn. Chính công việc quan yếu của hồn phù tŕ (overshodowing–soul, tức hồn tinh thần–ND) là thực hiện điều này, c̣n hồn trong phàm ngă (tức nhân hồn–ND) không đảm trách việc đó. Trong giai đoạn này, nhân hồn chỉ đáp ứng với lực kéo hay là lực hút của hồn tinh thần, khi hồn này – với ư định có cân nhắc – kéo nhân hồn ra khỏi các lớp vỏ đang cầm giữ nhân hồn. Sau này, khi các diễn tŕnh tiến hóa nối tiếp và linh hồn ngày càng kềm chế phàm ngă th́ chính hồn nằm trong các lớp vỏ cầm giữ này sẽ tạo ra – một cách hữu thức và có chủ tâm – các giai đoạn từ trần. Trong các giai đoạn trước, việc siêu thoát (release) này xảy ra với sự trợ giúp của hồn tinh thần đang phù tŕ. Về sau, khi con người sống trên cơi trần với tư cách là linh hồn, y sẽ – với sự liên tục toàn vẹn của ư thức – chính ḿnh xúc tiến các tiến tŕnh trừu xuất (tách ra) và lúc bấy giờ sẽ (với mục đích đă định) “thăng lên đến chỗ mà từ đó y xuất phát”. Đây là phản ảnh trong ba cơi thấp của việc thăng lên thiêng liêng (divine ascension) của Đứa Con hoàn thiện của Thượng Đế.                                                                (CTNM, 408–410)

Chết trốn đau (Euthanasia):

     Một số đạo sinh bận tâm về việc cố gắng  sắp xếp để hợp pháp hóa việc chết trốn đau và thắc mắc về việc đặt mănh lực của sự sống và cái chết trong tay của người thầy thuốc. Đồng thời họ biết rằng trong đó cũng bao hàm yếu tố nhân đạo trong trường hợp không thể ngưng được sự đau đớn kéo dài. Tôi xin nói: việc nghiên cứu thực hành để chết trốn đau được đưa ra sẽ không thành vấn đề nữa khi có sự liên tục của ư thức (nó phủ nhận cái chết). Điều đó có nghĩa là, do sự tiến hóa của nhân loại, sẽ đến lúc linh hồn biết được rằng kỳ hạn của kiếp sống trần gian chấm dứt và sẽ tự chuẩn bị để triệt thoái ra khỏi h́nh hài với đầy đủ ư thức. Linh hồn sẽ biết rằng việc phụng sự của h́nh hài không c̣n cần thiết nữa và h́nh hài phải bị vứt bỏ. Linh hồn sẽ biết rằng ư thức về sự hiểu biết của nó đang tập trung trong bản chất trí tuệ hăy c̣n đủ mạnh và đủ sinh lực để đưa nó vượt qua tiến tŕnh và giai đoạn xuất ra. Khi ư thức đó đă phát triển trong con người và tiến tŕnh xảy ra phải được nhà chuyên môn y khoa và các đạo sinh có kiến thức khoa học về cơ cấu con người nhận biết, th́ bấy giờ toàn bộ thái độ đối với cái chết và các diễn tiến của sự chết, đi kèm với nỗi đau đớn, sẽ được thay đổi về mặt vật chất. Lúc bấy giờ, người nào khi đến lúc ĺa trần đều có thể có được trong chính ḿnh một vài phương pháp để thoát ra mà theo quan điểm thường nhân, có thể được xem như liên hệ đến việc chết trốn đau. Các cách thức xuất ra (của linh hồn-ND) sẽ được nghiên cứu và áp dụng khi gần đến lúc từ giă cơi trần, và tiến tŕnh sẽ được xem như là sự triệt thoái của linh hồn, như là một tiến tŕnh giải thoát và giải phóng. Thời kỳ đó không c̣n xa lắm như bạn nghĩ.

     … Tuy nhiên, khi nào xảy ra cơn đau khủng khiếp và tuyệt đối không có hy vọng trợ giúp thực sự hay là phục hồi, và khi nào bệnh nhân mong muốn (hay nếu bệnh nhân quá yếu và gia đ́nh mong muốn), bấy giờ, dưới các biện pháp an toàn thích hợp, một điều ǵ đó (something) nên làm.

     Nhưng việc sắp xếp thời gian ra đi này sẽ không được căn cứ vào t́nh cảm và vào ḷng từ ái, mà là dựa vào sự hiểu biết đúng đắn về các khả năng tâm linh của sự chết.       

            (CTNM, 318-320)

Chết lần thứ nhất (First death):

     Cái chết của thể xác (c̣n gọi “cái chết của thể xác–thể dĩ thái)

Chết lần thứ hai (Second death):

     Cái chết lần hai có liên quan đến cái chết hay sự tan biến của linh hồn thể vào lúc điểm đạo lần 4. Cái chết này đánh dấu việc hoàn tất của công cuộc kiến tạo giác tuyến và lập được mối liên hệ trực tiếp, thông suốt và liên tục giữa Chân Thần với Phàm Ngă.

 

     … “Chết lần hai” được dùng để chỉ cái chết hay sự tiêu tan của linh hồn thể mà từ trước đến giờ, hồn tinh thần đă hoạt động trong đó. tuy nhiên, nó cũng có thể được dùng một cách sát nghĩa hơn và có thể được dùng để nói tới giai đoạn hai của tiến tŕnh chết trong ba cơi thấp. Do đó, nó chỉ liên quan tới h́nh hài và được gắn liền với các thể biểu lộ nằm dưới các phân cảnh vô sắc tướng của cơi hồng trần vũ trụ.

Chết lần thứ ba (Third death):

     Cái chết lần ba xảy ra khi vị đạo đồ, sau rốt và không có triển vọng trở lại, bỏ lại đàng sau ḿnh mọi liên hệ với cơi hồng trần vũ trụ. Tất nhiên cái chết này c̣n ở xa phía trước đối với tất cả các vị trong Thánh Đoàn, và hiện nay chỉ có thể xảy ra và chấp nhận được đối với một vài vị trong Huyền linh Nội điện ở Shamballa. Tuy nhiên, đó không phải là một tiến tŕnh mà Đức Sanat Kumara sẽ vượt qua. Ngài đă vượt qua sự “chuyển hóa” này nhiều thiên kỷ trước đây, trong kỳ đại biến đă khai mở kỷ nguyên Lemuria và đă được tạo ra bằng kinh nghiệm vũ trụ của Ngài và cần có một ḍng năng lượng lưu nhập từ các Đấng ngoài hành tinh.                                (CTNM, 406–408)

Chi chủng (Branch race):

     Bảy chi chủng tạo thành một phụ chủng (subrace).

(LVLCK, 62)

Chí phúc (Bliss, Toàn phúc):

     - Chí phúc là sự thành toàn (consumation) mà Chân Thần ban cho vị đạo đồ.

     - Chí phúc là nguyên h́nh mẫu (archetypal pattern) của lạc phúc (joy).

     - Chí phúc là bản chất của Đấng Tinh thần, và đến lượt nó, vào đúng lúc, được áp đặt lên nhịp điệu của linh hồn.                        

                                                (ĐĐTKNM, 181, 399, 558)

     - Chí phúc là bản chất của Tinh thần.                        (LVHLT, 369)

Chí Thánh (Holy of Holies):

- Shamballa                                                                                                                           (CTHNM, 633)

- Tương ứng với sự sống của Chân Thần, hay Linh Ngă (Divine Self).                                                                  (LVLCK, 653)

Chỉ trích (Criticism, phê phán):

     Việc chỉ trích có thể được dựa vào nhiều sự kiện, nhưng thường có nguồn gốc từ sự ganh ghét, tham vọng bị cản trở hay kiêu hănh v́ trí tuệ cá nhân.

     Nên nhớ rằng chỉ trích là một liều thuốc độc hại (virulent poison). Trong mọi trường hợp, cuối cùng, nó gây tổn thương cho kẻ chỉ trích do việc định hướng của lời nói được phát ra nó c̣n làm hại nhiều hơn cho kẻ bị chỉ trích. Khi nào sự chỉ trích là do động lực trong sạch, t́nh thương chân chính và mức độ lớn lao của tính vô tư (detachment), th́ các thể tinh anh của kẻ bị công kích có thể vẫn không bị tác động (remain immune), nhưng các hiệu quả đối với thể xác nhất định là có, và khi nào có bất cứ chỗ yếu hay thiếu sót nào trên thể xác th́ nơi đó sẽ là vùng bị nhiễm độc (locasition of the projected poison).

     Loại chỉ trích không phát thành lời (unvoiced criticism) th́ rất nguy hại v́  nó được tập trung một cách mạnh mẽ và dữ dội, mặc dù không được hướng vào cá nhân nào. Nó liên tục phát ra và theo một luồng ổn định, được phóng ra bằng sự ganh tỵ, tham vọng, tự phụ bằng sự hiểu biết riêng về một t́nh huống được giả dụ xảy ra và một tin tưởng rằng kẻ chỉ trích đang ở vào vị thế hiểu biết chính xác và có thể lựa đúng cơ hội chọn đúng hành động.

     Khi nào việc chỉ trích được thốt ra thành lời, tất nhiên nó được củng cố bằng sự hợp tác của những người bị tác động bởi sự chỉ trích và các ảnh hưởng của ư tưởng tập thể được định hướng này có thể đưa đến kết quả trong việc hủy hoại thể chất và gây rối loạn (disruption) thể xác của những người lănh đạo. Đây có thể là một ư tưởng mới đối với một số người và có thể sẽ làm cho nhiều người trong các nhóm thuộc Kỷ Nguyên Mới chận đứng các ư tưởng của họ và nhờ thế giải thoát cho các nhà lănh đạo của họ thoát khỏi ảnh hưởng tai hại do việc chỉ  trích của họ gây ra.                                                                                      (TLHNMII, 617618)

Chích thủ diệu thanh : X. Tiếng Vỗ của một bàn tay.

Chiêm tinh học (Astrology):

      Là một khoa học phải được đưa trở lại nét đẹp và chân lư ban đầu của nó trước khi thế giới có thể đạt được bối cảnh trung thực hơn và nhận thức được đúng đắn và chính xác hơn về Thiên cơ như nó được biểu hiện vào lúc này qua Minh triết Muôn đời (Wisdom of the Ages).                            (CTHNM, 5)

     – Một trong các khái niệm nằm đàng sau các lư thuyết chiêm tinh học là thể dĩ thái của bất luận h́nh hài nào cũng là một phần của thể dĩ thái của Thái Dương Hệ, do đó, là trung gian để truyền chuyển các năng lượng mặt trời, các mănh lực hành tinh và các xung lực ngoài Thái Dương Hệ hay thuộc vũ trụ, về mặt huyền bí được gọi là “các linh khí” (“breath”). Các lực và năng lượng của các vũ trụ tuyến (cosmic rays) này luôn luôn luân lưu và đi theo các đường nhất định qua chất dĩ thái của không gian ở khắp nơi, và do đó, luôn luôn đi qua các thể dĩ thái của mọi h́nh hài bên ngoài. Đây là một chân lư căn bản cần nhớ kỹ v́ nó chứa nhiều ẩn ư, nhưng tất cả đều qui trở lại ư tưởng về sự hợp nhất và về sự Duy Nhất của mọi biểu lộ, chỉ được hiểu biết ở khía cạnh chủ quan.

     Ư tưởng căn bản thứ hai là sự đáp ứng của thể dĩ thái của mọi h́nh hài và khả năng chiếm hữu, sử dụng và truyền chuyển của nó đều tùy thuộc vào t́nh trạng của các bí huyệt (theo cách gọi của phương Đông). Các bí huyệt này không những chỉ gồm bảy bí huyệt chính đă  biết rơ, mà c̣n rất nhiều xoáy lực nhỏ mà cho đến nay, phương Tây chưa biết và chưa đặt tên. Nó cũng tùy thuộc vào tính chất của thể dĩ thái, vào sự linh hoạt của thể này và cũng tùy thuộc mạng lưới đan xoắn vào nhau mà các bí huyệt nằm trong đó, toàn bộ được gọi là “tấm lưới” (“web”) hay cái “chén vàng” (“golden bowl”). Nếu lưới này được thông và không đóng cặn, nếu các vận hà (channel) của nó không bị tắt nghẽn th́ bấy giờ, các tia, các năng lượng và các lực có thể gặp được phương tiện dễ chịu và có thể chạy ṿng suốt cơ thể dễ dàng. Lúc bấy giờ, chúng có thể dùng các bí huyệt này để đáp ứng với các rung động của chúng và có thể được chuyển vào các h́nh hài cùng giới hay khác giới trong thiên nhiên. Ở đây có ẩn cái bí nhiệm của mọi cách chữa trị khoa học và huyền bí. Các nhà chữa trị đang thực nghiệm với thể dĩ thái, tuy thế, họ biết rất ít về điều đó. Họ biết ít hay không biết ǵ về các bí huyệt trong chính cơ thể họ mà các ḍng từ lực phải chạy qua. Họ không biết ǵ về t́nh trạng các bí huyệt dĩ thái mà họ chữa trị và về bản chất các lực mà họ muốn dùng. Tất cả những ǵ mà họ có thể làm là giữ giới luật cho cuộc sống, như thế, kềm chế các ham muốn để tạo một cơ thể trong sạch, cung ứng một vận hà thông suốt để cho thần lực nhờ chính họ mà đến được những kẻ khác.

     Ư niệm thứ ba cần nhớ là, cho đến nay, h́nh hài đáp ứng với các lực tới được với chúng từ các h́nh hài khác trên hành tinh, đáp ứng với bảy loại năng lượng căn bản từ bảy hành tinh phát ra và cũng đáp ứng với tia nắng ban sự sống. Mọi h́nh hài trong cả bốn giới đều đáp ứng  với nhiều mănh lực này, với bảy năng lượng này và với một tia duy nhất. Gia đ́nh nhân loại cũng đáp ứng với các năng lượng khác và với các tia nắng, – tuy nhiên, tất cả đều được nhuốm màu bởi mănh lực phát sinh trong ṿng giới hạn thái dương.                    (LVHLT, 289–291)

Chiến tranh (War):

      -  Chiến tranh chỉ là một khía cạnh của biến dịch (change), cội nguồn của nó nằm sâu trong vật chất.      (SHLCTĐ, 277)

     - Chiến tranh không phải giết người như những kẻ nhân hậu nghĩ; đó là cách hủy diệt h́nh hài với chủ đích tốt lành (nếu người ta có thể hiểu được Thiên Ư) của Hành Tinh Thượng Đế. Tuy vậy, chính các động cơ của kẻ gây chiến trên cơi trần mới là xấu xa. Nếu không có chiến tranh, Hành Tinh Thượng Đế sẽ kêu gọi một số lớn linh hồn trở về theo thiên ư bằng “tác động của Thượng Đế” (“Acts of God”). Khi kẻ ác gây ra chiến tranh, Ngài nhân cái chẳng lành để làm điều lành.                                                                                                     (CTNM, 436)

     - Qua tiến tŕnh hủy diệt của chiến tranh, sự chết xảy ra theo dự tính có chỉ đạo và theo chu kỳ của Hành Tinh Thượng Đế, thể hiện qua Huyền Linh Nội Điện ở Shamballa. Nơi đây, các Đấng Cao Cả điều khiển các tiến tŕnh thế giới biết rằng đến một thời điểm nào đó, khi mối tương hệ giữa tà lực hành tinh với các lực lượng Chính Đạo đă đạt tới mức “đối kháng bùng nổ” (explosive antagonism”), như người ta thường gọi. Điều này phải được xảy ra tự do nếu muốn cho thiên cơ được diễn tiến một cách trôi chảy (anarrested). Do đó, sự bùng nổ được phép xảy ra, tuy nhiên, lúc nào cũng có yếu tố kiểm soát đi kèm, cho dù con người không nhận thức được điều đó. V́ lẽ các Đấng Cao cả (các Đấng đang thi hành Thiên Ư) không hề đồng nhất hóa với sự sống sắc tướng (form life), tất nhiên các Ngài có cách lượng xét đúng đắn về t́m quan trọng tương đối của sự sống trong h́nh hài, nên đối với các Ngài, việc hủy diệt h́nh hài không phải là cái chết theo như chúng ta hiểu, mà đơn giản chỉ là một tiến tŕnh giải thoát. Chính cái nh́n hạn hẹp của những ai đồng nhất hóa ḿnh với h́nh hài mới nuôi dưỡng hoài nỗi sợ chết. Trong chu kỳ mà chúng ta đang sống hiện nay, có sự hủy diệt to tát h́nh hài con người (human forms) trong toàn bộ lịch sử của hành tinh chúng ta. Tuy nhiên, không có sự hủy diệt con người (human beings).

Về cơ bản, căn cội (basis) của mọi cuộc chiến tranh là ư thức chia rẽ (sense of separateness). Chủ nghĩa cá nhân căn bản hay việc thích tách biệt này đưa đến các nguyên nhân phụ của chiến tranh: tham lam, sinh ra thảm trạng kinh tế; hận thù, sinh ra tranh chấp quốc gia và quốc tế; tàn bạo, gây ra đau khổ và chết chóc.                       (CTNM, 431-432)

Chiêu hồn thuật: (Necromancy)

     Là cách thực hành vô cùng nguy hại.           (CKMTTL, 149)

Chính đạo, Chính phái : X. Huyền thuật.

Chỉnh hợp (The aligning, The alignment):

     Công việc đích thực của Chân Ngă (Ego) hay Thượng Ngă (Higher Self) trong bất cứ lần luân hồi  đặc biệt nào cần được hoàn tất, đó là việc chỉnh hợp ba hiện thể: thể xác, thể cảm dục và thể hạ trí trong chu vi của thể nguyên nhân (causal periphery) và làm ổn định (stabilising) ba thể này vào thể nguyên nhân bằng một nỗ lực của ư chí.

     Các đại tư tưởng gia (great thinker) của nhân loại tức là những người lỗi lạc thực sự (true exponents) về hạ trí; về căn bản, họ đều là những người có ba hạ thể đă được chỉnh hợp, tức là thể hạ trí của những người này giữ cho hai thể kia ở t́nh trạng chỉnh hợp khít khao (circumspect alignment). Lúc bấy giờ, hạ trí (mental body) thông thương trực tiếp, không bị ngăn chận, không bị cản trở, thẳng suốt tới bộ óc của xác thân.

     Khi sự chỉnh hợp này có bốn phần, tức là khi ba thể nói trên được chỉnh hợp với thể của Thượng Ngă, tức thể nguyên nhân hay thể của Chân Ngă (causal hoặc egoic body) và được giữ ổn định trong chu vi của thể Chân Ngă, lúc đó ta có được các đại lănh tụ (great leaders) của nhân loại  – tức là những người tác động tới nhân loại về mặt t́nh cảm và trí tuệ; kế đó là các nhà văn có linh hứng (inspirational writers) và các lư thuyết gia, họ đưa ra các linh hứng và các ước mơ lư tưởng; kế nữa là các tư tưởng gia tổng hợp và trừu tượng, họ có thể chuyển các suy niệm (conceptions) của họ cho thế giới sắc tướng này.

     … Đối với kẻ thường nhân (average man) th́ sự chỉnh hợp này chỉ xảy ra đôi lúc – như trong những lúc căng thẳng (stress), những lúc cần có nỗ lực nhân đạo và những lúc đạo tâm dâng lên mănh liệt nhất (intensest aspiration). Dù ít dù nhiều, phàm ngă cũng phải nhập vào trạng thái trừu xuất (abstraction) trước khi Chân Ngă liên tục chú ư đến nó. Khi sự trừu xuất này liên quan đến các t́nh cảm, được dựa vào trí lực (mentality) và tiếp xúc với bộ óc xác thịt th́ lúc đó, sự chỉnh hợp mới bắt đầu.

     … Mục đích của công cuộc tiến hóa của con người trong ba cơi: hồng trần, cảm dục và hạ trí là chỉnh hợp phàm ngă tam phân với thể Chân Ngă cho đến khi đạt tới đường thẳng duy nhất và con người trở thành Duy Nhất.             (TVTTHL, 1, 2, 5)

Chỉnh hợp trong Tiểu thiên địa và Đại thiên địa (Microcosmic and Macrocosmic Alignment):

     Mục đích tiến hóa của con người trong ba cơi thấp – cơi trần, cơi cảm dục và cơi hạ trí – là sự chỉnh hợp của Phàm Ngă tam phân với Chân Ngă thể cho đến khi đạt tới đường thẳng duy nhất và con người trở thành Đấng Duy Nhất (The One).

     Ở cuối mỗi kiếp sống, con người được tượng trưng bằng một dạng thức h́nh học nào đó, một ứng dụng nào đó đối với các đường của h́nh khối và minh chứng chúng bằng một loại h́nh theå (form) nào đó.

     Ở những kiếp đầu, th́ nét phác thảo như đám rối (intricate), đồ họa (design) không rơ ràng và sơ sài. Khi con người đạt được mức tiến hóa trung b́nh th́ h́nh thể được phác thảo rơ rệt và sáng sủa. Khi bước lên Con Đường Đệ Tử th́ mục tiêu của con người là phối hợp tất cả các đường này thành một đường duy nhất, dần dần sẽ đạt tới sự viên măn (consumation). Chân Sư là Đấng đă phối hợp (blended) được tất cả các đường phát triển ngũ phân trước tiên thành ba và kế đó thành một đường. Ngôi sao sáu cánh trở thành ngôi sao năm cánh, khối lập phương (cube) trở thành tam giác, tam giác trở thành đường thẳng. Vào cuối đại chu kỳ, đường thẳng trở thành điểm (the point) trong ṿng tṛn biểu lộ.

     Đó là nỗ lực được tạo ra để giảng dạy cho tất cả những kẻ tận tụy (devotees) tính chất đơn giản, dựa vào Ba Ngôi (Trinity) của các chân lư căn bản và ghi khắc sự nhất tâm (one–pointedness) để tiến tới.

     Mỗi kiếp sống đều đưa đến sự ổn cố nhiều hơn nhưng ít khi Phàm Ngă tam phân lại được thẳng hàng (tạm gọi thế) với Chân Ngă thức. Có những lúc tạm thời xảy ra trường hợp này và khi (trong những lúc đạo tâm lên cao nhất và có các mục tiêu nỗ lực v́ kẻ khác), Chân Ngă với Phàm Ngă tạo thành một đường trực tiếp. Thường thường, thể cảm dục, do t́nh cảm và rung động dữ dội, hay do sự bất an thất thường nên luôn luôn bị lệch khỏi sự chỉnh hợp. Lúc mà thể cảm dục có thể được chỉnh hợp tạm thời, bấy giờ, thể hạ trí lại là vật chướng ngại, ngăn chận những ǵ đă tinh lọc (percolation) từ thể cao không xuống được thể thấp, và như thế không đến được bộ óc hồng trần.

     Phải tốn nhiều kiếp sống nỗ lực bền chí th́ thể cảm dục mới được tĩnh lặng và thể hạ trí mới được kiến tạo để tác động như là cái lọc chứ không c̣n là vật ngăn cản nữa. Ngay khi điều này đă ḥan thành được một ít, thể cảm dục được ổn cố và trở thành tấm kính phản chiếu tinh khiết, c̣n thể hạ trí đáp ứng cho mục đích làm tấm kính nhạy bén, một tác nhân phân biện (discriminator) và là tác nhân diễn giải sáng suốt các chân lư cao siêu được truyền đạt, ngay đến lúc đó cũng cần nhiều giới luật và nhiều kiếp cố gắng mới chỉnh hợp được (align) cả hai thể cùng một lúc. Khi xong giai đoạn này th́ việc kế tiếp là kiểm soát bộ óc hồng trần và việc chỉnh hợp cuối cùng với bộ óc vẫn phải được thực hiện để cho bộ óc có thể tác động như là tác nhân thu nhận (receiver) và tác nhân truyền chuyển (transmitter) một cách trực tiếp giáo huấn được truyền đạt và có thể phản chiếu một cách chính xác tâm thức cao siêu.

     Thế th́ sự tương ứng trong Đại thiên địa nằm ở đâu? Đâu là mối tương đồng trong Thái Dương Hệ? Tôi xin nêu ra đây một dẫn chứng. Trong diễn tŕnh tiến hóa của Thái Dương Hệ, có sự chỉnh hợp trực tiếp của một vài hành tinh với nhau và với thái dương, đưa đến sự chỉnh hợp thiêng liêng hay chỉnh hợp của Thượng Đế. Hăy suy gẫm về điều đó, tôi có một lời cảnh báo. Đừng t́m cách nêu ra giả thuyết về sự chỉnh hợp dựa trên các hành tinh vật chất. Chân lư không nằm ở đó. Chỉ có ba trong số các hành tinh vật chất (và ba hành tinh này bằng chất dĩ thái) tiến vào việc chỉnh hợp cuối cùng, đánh dấu cho việc đạt được Chân Ngă thức vũ trụ (cosmic egoic consciousness) của Thượng Đế, đó là mục tiêu thành đạt của Ngài. Địa cầu không phải là một trong số ba hành tinh này, c̣n Kim Tinh (Venus) có vị trí tương ứng với vi tử thường tồn cảm dục.

     C̣n một sự chỉnh hợp xa xăm hơn: sự chỉnh hợp của toàn thể Thái Dương Hệ chúng ta với Thái Dương Hệ của sao Thiên Lang (Sirius). Đó là một thời điểm c̣n xa, nhưng nó giữ cái bí nhiệm của đại chu kỳ.                                            (TVTTHL, 5–7)

Chỉnh hợp và rung động (Alignment and vibration):

     Đừng quên rằng phần lớn đây là vấn đề vật chất và mức rung động. Các phân cảnh (levels) trừu tượng của cảnh trí gồm có ba phân cảnh cao mà cái thứ nhất được gọi là phân cảnh (cơi phụ–subplane) thứ ba. Như trước đây tôi có giải thích, mỗi cơi phụ đều có các liên hệ của nó (correlation) trên các cơi chính (major planes). Do đó, khi bạn đưa vào thể xác, thể cảm dục và thể hạ trí của bạn chất liệu của cơi phụ thứ ba của mỗi cơi chính này th́ bấy giờ Chân Ngă bắt đầu tác động một cách hữu thức và ngày càng liên tục xuyên qua Phàm Ngă đang chỉnh hợp. Chúng ta có thể nói đảo lại rằng chỉ khi nào chất liệu của cơi phụ thứ ba có một tỷ lệ bách phân nào đó (tỷ lệ bách phân này là một trong các bí mật của điểm đạo) nằm trong các hiện thể này th́ Phàm Ngă, với tư cách là một tổng thể hữu thức (conscious whole), mới nhận biết và tuân theo Chân Ngă.

     Sau khi đạt được tỷ lệ bách phân như thế rồi, bấy giờ cần kiến tạo tiếp bằng chất liệu của hai cơi phụ cao hơn thuộc về cơi trần và cơi cảm dục; v́ vậy, người t́m đạo cần phải phấn đấu để thanh luyện và tŕ giới cho thể xác và chế phục (subdue) thể cảm dục. Thanh luyện và chế phục là công việc phải làm trên hai cơi này. Điều này liên quan tới việc sử dụng hạ trí, để rồi nhờ đó ba hiện thể thấp trở nên được chỉnh hợp.

     Lúc bấy giờ, các rung động của các phân cảnh trừu tượng mới có thể bắt đầu được cảm nhận. Bạn cần nhớ rằng các rung động này đến xuyên qua linh hồn thể, tức hiện thể của Chân Ngă, và linh hồn thể của kẻ thường nhân ở trên cơi phụ thứ ba của cơi trí.  Đây là một điểm không được hiểu đầy đủ. Hăy suy gẫm về điều đó. Tư tưởng trừu tượng thực sự chỉ có thể có được khi nào mà Phàm Ngă, nhờ rung động hỗ tương với rung động của Chân Ngă, đă tự ḿnh chỉnh hợp đầy đủ để tạo thành một vận hà khá thông suốt. Lúc bấy giờ, các ư tưởng trừu tượng bắt đầu lọt qua, lúc đầu c̣n thưa thớt, nhưng càng ngày càng nhiều hơn, rồi vào đúng lúc, được nối tiếp theo sau bằng các tia chớp của sự giác ngộ thực sự hay trực giác từ Tam Thượng Thể Tinh thần hay là chính Chân Ngă tam phân đích thực.                                                                         (TVTTHL, 3–4)

Chit (Tối Linh thức):

     Chúa Thánh Thần, Brahma, Thượng Đế Ngôi Ba, Minh triết sáng tạo, Thông Tuệ.                                                                       (LVLCK, 94)

Chitta :

   Chitta là thể trí (the mind), hay là chất trí (mind stuff), hạ trí (mental body), quan năng của tư tưởng và quan năng tạo ra h́nh tư tưởng, toàn thể các tiến tŕnh thể trí; đó là vật liệu do Chân Ngă hay linh hồn chi phối, nhờ đó, các h́nh tư tưởng được tạo ra.                                                                                   (ASCLH, 10)

Chịu đựng (the endurance) :

     Chịu đựng là hứng chịu một cách vui vẻ mọi sự việc xảy đến mà không chút bực tức (resent), thẳng tiến đến mục tiêu mà không đi quanh co.                                                                (MTNX, 331)

Cḥm sao (constellation, tinh ṭa):

   Tinh ṭa gồm hai hay nhiều Thái Dương Hệ hay chuỗi Mặt Trời với các hành tinh (planet) đi kèm theo các Mặt Trời. Các Thái Dương Hệ này được giữ chung với nhau như một tổng thể cố kết do sự tương hệ (interrelation) mạnh mẽ của các thái dương, mà sự liên hệ từ lực được quân b́nh đến nỗi, nói về mặt huyền linh, “các mặt trời cùng tiến bước trong phạm vi năng lực của nhau”. Các mặt trời duy tŕ các khoảng cách tương đối với nhau và truyền sinh lực cho các hành tinh của ḿnh, nhưng đồng thời cũng duy tŕ một sự đồng đều về sự quân b́nh và về ảnh hưởng. Trong vài trường hợp hiếm có, sự quân b́nh này bị xáo trộn và có việc tăng hay giăm ảnh hưởng và năng lực thu hút.                                                                           (TLHNM I, 152)

Christ cá nhân (Individual Christ):

     Đấng cứu rỗi tiềm tàng trong mỗi người.                  (ASCLH, 28)

Christ vũ trụ (Cosmic Christ);

     - Tự biểu hiện qua một Thái Dương Hệ.                   (ASCLH, 28)

     - Ishvara, Ngôi Hai. Con của Thượng Đế Vishnu. Toàn Ngă. Linh hồn của mọi vật. Ta là Cái Đó. AUM. Ngôi Lời. Gurudeva. Aùnh sáng của trần gian.                      (ASCLH, 28, 51)

Chu kỳ Qui nguyên : X. Qui nguyên.

Chu kỳ khai nguyên : X. Manvantara.

Chu kỳ mạt pháp : X. Kali Yuga.

Chu kỳ thế giới (World period):

     -  Ring                                              (Thư của Ch, S.,   160)

     – Bảy căn chủng hợp thành một chu kỳ thế giới.

(LVLCK, 62)

     – Bảy chu kỳ thế giới tạo thành một cuộc tuần hoàn (round).                                                                                                                                  (LVLCK, 63)

Chủ nghĩa  Duy Vật và Chủ Nghĩa Vô Thần (Materialism and Atheism).   Chính do sự thiếu hiểu biết về các Giáo Lư Huyền Linh Học (Occult tenets) và sự áp đặt (enforcement) các quan niệm sai lầm dưới chiêu bài giáo dục tôn giáo (the guise of religious education) mà Chủ Nghĩa Duy Vật và Chủ Nghĩa Vô Thần mới được tạo ra như là một sự phản kháng lại (protest) trật tự thiêng liêng đă được xác định của vạn vật. 

                                        (GLBN  I,   234)

 

 

Chủ nghĩa Quốc Xă : (Narism)

    Chủ Nghĩa Quốc Xă hay Chủ Nghĩa Hitler (Hitlerism) là sự pha trộn đặc biệt lệch lạc của Chủ Nghĩa Phát Xít (Fascism) và Chủ Nghĩa Cộng Sản.                               (SHLCĐD9CG.  127)

Chủ nghĩa lư tưởng (Idealism):

     Chủ nghĩa lư tưởng là năng lực thấy được linh thị (see the vision) và điều khiển con đường của ḿnh về hướng đó.           

     (CTHNM, 177)

Chủ thể tư tưởng (thinker) :

- hay linh hồn                                                                                          (TLHNMII, 64)

- hay Chân Ngă (Ego).                                                                          (LVLCK, 662)

- Thể thường tồn (permanent body=causal body) cùng với tâm thức thiêng liêng (divine consciousness) hợp thành Chủ Thể Tư Tưởng.                                                                       (MTNX, 144)

     – Chủ Thể Tư Tưởng tức con người cá biệt (individual), tức Nhân hồn (Human Soul).                                                                       (MTNX, 132)

Chủ thể tư tưởng thiêng liêng (Divine thinker) :

     Tức là Toàn Linh Trí (Univeral Mind).                      (LVLCK, 317)

Chủ thể quan sát (Seer):

- Chủ thể quan sát tức là con người tinh thần (spiritual man).                                                                                                                                               (ASCLH, 163)

- Chủ thể quan sát, tức linh hồn (soul).                      (ASCLH, 169)

Chúa Thánh Thần (Holy Ghost):

   Chúa Thánh Thần là Ngôi Ba của thánh linh, vốn là nguyên khí linh hoạt trong vật chất, và thể xác là một tương ứng của nguyên khí này.                                                                    (TBĐC, 148)

Chủ nghĩa quốc gia : X. Quốc gia chủ nghĩa.

Chúng sinh : Sattva (Bắc Phạn), Creatures.

Chụp h́nh vong linh (Spirit photography, chụp h́nh hồn ma):

     Cần nên nhớ rằng cái gọi là các “vong linh” (“spirits”) th́ đều đang hoạt động trong thể cảm dục hăo huyền (illusory), trong khi các “vong linh” tiến hóa chỉ hoạt động như là thể trí, và do đó chỉ có thể tiếp xúc được bằng trí chứ không c̣n cách nào khác. Không bao giờ có thể chụp được h́nh thể trí (mental vehicle); chỉ có thể cảm dục mới đủ thụ cảm (susceptible) để chụp h́nh được mà thôi. Khi c̣n sống, người nào có dục vọng và ham muốn càng thô trược th́ người đó càng dễ chụp h́nh được sau khi qua đời (nếu có người muốn chụp h́nh y!), người càng tiến hóa th́ càng khó chụp được h́nh. (CTNM, 377–378)

Chuyển động (Motion):

     - Theo nghĩa đen, tất cả mọi chuyển động đều là kết quả của sự va chạm hoặc sự giao lưu (intercourse) giữa các nguyên tử, và không có một nguyên tử nào ở bất cứ nơi đâu thoát khỏi được mănh lực này. Trong trường hợp chuyển động quay tṛn (rotary motion) vốn đang chi phối hoạt động của nguyên tử vật chất, xung lực xuất phát từ bên trong ṿng giới hạn và được tạo ra bởi sự va chạm của điện tích dương lên trên các điện tích âm. Điều này đúng cho tất cả các nguyên tử, thuộc vũ trụ, thái dương, cá nhân, hóa học và vv…                     (LVLCK, 1039)

     - Chuyển động được đặc trưng bằng ba tính chất:

1/ Tịnh (Inertia)

2/ Động (Mobility)

3/ Nhịp (Rhythm)                                                                        (CTNM, 418)

1/ Tính chất tịnh:

     Tính chất này là đặc điểm của mọi nguyên tử lúc bắt đầu biểu lộ, lúc bắt đầu một chu kỳ thái dương hay chu kỳ đại khai nguyên - mahamanvantara - (hay là 100 năm của Brahma), lúc bắt đầu một dăy, một bầu hay của bất cứ dạng h́nh cầu nào. Do đó, cách tŕnh bày bao gồm toàn thể các h́nh hài biểu lộ trong Thái Dương Hệ.

     … Tính chất tịnh là kết quả của sự thiếu hoạt động và sự tương đối bất động (relative quiescence) của các lửa vật chất.

2/ Tính chất động:

     Các lửa nội tại của vật chất tạo ra chuyển động quay. Sau rốt, sự quay này dẫn đến kết quả là sự phát xạ (radiation). Việc phát xạ của vật chất, kết quả của nhiệt lưỡng phân của nó, tất nhiên tạo ra một tác dụng lên các nguyên tử ở môi trường chung quanh nó (không có ǵ quan trọng, dù môi trường chung quanh đó là không gian vũ trụ, không gian Thái Dương Hệ hay là vùng bên ngoài của thể xác con người), và sự tương tác này tạo ra cự lực (repulsion, lực đẩy) và hấp lực (atraction, lực hút) tùy theo cực của nguyên tử vũ trụ, nguyên tử Thái Dương Hệ hay nguyên tử hồng trần. Sau rốt, chính điều này tạo ra sự cố kết của h́nh hài. Các cơ thể hay tập hợp các nguyên tử xuất hiện hay biểu lộ và tồn tại trong các chu kỳ lớn hay nhỏ của chúng cho đến khi tính chất thứ ba được nhận ra.

3/ Tính chất nhịp nhàng, tức là việc đạt tới điểm thăng bằng hoàn toàn và điểm quân b́nh. Lúc bấy giờ, điểm thăng bằng hoàn hảo này tạo ra một số hiệu quả đặc thù có thể được liệt kê và suy gẫm, cho dù chúng có thể dường như nghịch thường và mâu thuẩn đối với thể trí hữu hạn của chúng ta. Các hiệu quả này là:

a.      Sự tan ră của h́nh hài

b.      Giải thoát tinh hoa mà h́nh hài giam giữ.

c.      Các phân ly (separations) của Tinh thần và Vật chất.

d.      Kết thúc một chu kỳ, dù là hành tinh, con người hay thái dương.

e.      Tạo ra việc quy nguyên và chấm dứt việc biểu lộ (objectivity or manifestation).

f.       Tái hấp thu tinh hoa, phối hợp lại vật chất đă biến phân với cội nguồn của vật chất.

g.      Kết thúc thời gian và không gian theo cách hiểu của chúng ta.

h.      Hợp nhất ba luồng Hỏa và đưa tới sự cháy tự phát (spontaneous combustion), nếu có thể nói như thế.

i.        Hoạt động tổng hợp của vật chất bằng ba loại chuyển động - quay tṛn, xoắn ốc theo chu kỳ và lũy tiến (onward progression) - mà chuyển động hợp nhất sẽ được tạo ra bằng sự tương tác của lửa vật chất, lửa của trí tuệ và của Tinh thần vào nhau.           (LVLCK, 157-159)

Chuyển động quay và biểu tượng kư (Rotary motion and symbolism):

Mọi khối cầu quay của vật chất có thể được phác họa bằng cách dùng cùng các biểu tượng chung của vũ trụ như đă được dùng để mô tả sự tiến hóa.

1. Ṿng tṛn (The circle). Ṿng tṛn này thay cho ṿng giới hạn của vật chất chưa biến phân. Nó tượng trưng cho một Thái Dương Hệ hay là cơ thể Thượng Đế, xét về mặt siêu việt (etherically); nó thay cho một hành tinh hay cơ thể của Hành Tinh Thượng Đế xét về mặt siêu việt; nó thay cho một cơ thể người cũng xét về mặt cao siêu và nó thay cho tất cả các cơ thể đó vào thời kỳ biểu lộ đầu tiên. Sau rốt, nó thay cho một tế bào đơn thuần trong hiện thể của con người, và thay cho nguyên tử của nhà hóa học hay vật lư.

2. Ṿng tṛn có tâm điểm (Circle with the point in the centre). Ṿng tṛn này hàm ư là việc sinh ra nhiệt ở tâm của vật chất; điểm lửa, thời điểm có hoạt động quay đầu tiên, lần giăn ra (straining) đầu tiên của nguyên tử, được tiềm nhiệt kích hoạt tiến vào phạm vi ảnh hưởng của nguyên tử khác. Điều này tạo ra bức xạ đầu tiên, lực cuốn hút thứ nhất và đưa tới khuynh hướng đẩy nhau, và do đó tạo ra:

3. Ṿng tṛn chia hai (Circle divided into two). Ṿng này đánh dấu sự quay tích cực và việc bắt đầu hoạt động của nguyên tử vật chất, tạo ra sự bành trướng theo sau đó của ảnh hưởng của điểm tích cực bên trong nguyên tử vật chất cho đến khi phạm vi ảnh hưởng của nó trải rộng từ trung tâm đến ngoại biên. Nơi điểm tiếp xúc với ngoại biên, nó tiếp nhận ảnh hưởng của các nguyên tử ở chung quanh nó; bức xạ được tạo nên và điểm trũng xuống xuất hiện, đánh dấu chỗ lưu nhập và lưu xuất của thần lực hay nhiệt.

4. Ṿng tṛn chia tư (Circle divided into four). Đây là ṿng tṛn đích thực của vật chất, thập giá có cánh bằng nhau của Chúa Thánh Thần; Ngài là nhân cách hóa của vật chất thông tuệ linh hoạt. Điều này chứng tỏ tính chất bề đo thứ tư của vật chất và việc xâm nhập của lửa trong bốn hướng, bức xạ tam phân của nó được biểu tượng hóa bằng các tam giác hợp thành bởi thập giá tứ phân. Thập giá này diễn tả diễn tŕnh tiến hóa tứ phân của bất cứ nguyên tử nào.

5. Chữ Vạn (Swastika), hay là lửa trải dài, không những từ ngoại vi đến trung tâm theo bốn hướng, mà c̣n từ từ chạy quanh và tỏa ra từ và quanh toàn bộ ngoại vi. Điều này hàm ư là hoạt động hoàn tất trong mọi phần của vật chất cho đến khi sau rốt, chúng ta có được một bánh xe lửa (fiery wheel, hỏa luân) rực sáng, quay theo mọi cách, với các vận hà rực rỡ lửa từ tâm đến ṿng giới hạn, - lửa bên trong, bên ngoài và chung quanh cho đến khi bánh xe cháy rụi và không c̣n lại ǵ ngoại trừ hoàn toàn là lửa.                                   (LVLCK, 159-161)

Chuyển hóa (transmutation):

   Là phương pháp mà nhờ đó cái thấp được thu hút bởi cái cao, nhờ đó mănh lực (force) được chuyển hóa thành năng lượng (energy), nhờ đó, năng lượng của ba trung tâm thấp được chuyển lên ba trung tâm cao (đầu, tim và cổ họng), sau đó cho phép vị đệ tử điểm đạo tập trung tất cả năng lượng vào trong ba trung tâm điều khiển ở trong đầu. Tiến tŕnh chuyển hóa này diễn tiến dưới sự thôi thúc của kinh nghiệm sống hằng ngày, dưới hiệu quả thu hút của sự giao tiếp với linh hồn và như là kết quả tất yếu của chính sự tiến hóa.

(CVĐĐ, 278279)

- Sự chuyển hóa có liên hệ đến biểu hiện của sức sống (life force) trên ba cơi thấp của sự sinh hoạt và tiến hóa của nhân loại.                                                                                                                           (CVĐĐ, 280)

   Là thay đổi và tái định hướng năng lượng của thể trí, của các t́nh cảm (emotions) và của bản chất xác thân sao cho chúng dùng để khai mở Chân Ngă (Self) chứ không chỉ khai mở các bản chất tâm thông  và xác thể.                   (TTTĐTG, 79)

Chuyển hóa cao (Siêu chuyển hóa, transfiguration):

   Là giai đoạn trên con đường Điểm đạo, khi trải qua cuộc điểm đạo 3, lúc đó, Phàm ngă được rọi chiếu (irradiated) bằng ánh sáng đầy đủ của linh hồn và ba hiện thể của Phàm ngă được hoàn toàn siêu việt (transcended); chúng trở thành chỉ là các h́nh hài mà qua đó, t́nh thương tinh thần có thể tuôn đổ vào cơi giới con người với nhiệm vụ sáng tạo cứu độ (salvaging task of creation).                                  (CVĐĐ, 278)

     - Siêu chuyển hóa liên quan đến sự sống của Tam Thượng Thể Tinh thần (Spiritual Triad) trên ba mức độ đồng nhất hóa riêng của nó.                                                                        (CVĐĐ, 280)

Chuyển hóa vừa (trung chuyển hóa, transformation):

     - Diễn tŕnh tiến hóa xảy ra trên Con đường Đệ tử, trong đó, vị đệ tử biến đổi cái “sắc tướng” tam phân hạ đẳng của ḿnh hay Phàm ngă và bắt đầu biểu lộ “tính chất” thiêng liêng. Thể xác của vị đệ tử trở nên tuân phục các mệnh lệnh (dictates) của thể trí, thể này đang trở nên đáp ứng với thượng trí qua trung gian của linh hồn; bản chất t́nh cảm của vị đệ tử trở thành chỗ tiếp nhận (receptacle) thể bồ đề hay trực giác, để rồi, sau cuộc điểm đạo thứ ba, nó hoàn toàn biến mất, và hiện thể bồ đề (buddhi vehicle) trở thành vận cụ chính của cảm tính (sentiency). Cuối cùng, thể trí cũng hoàn toàn được biến đổi bằng ấn tượng từ thượng trí khi thể này nỗ lực để thể hiện bản chất ư chí của Chân Thần.                                                            (CVĐĐ, 278)

     - Việc trung chuyển hóa có liên quan bằng phương cách đặc biệt nhất với ba trạng thái của thể trí trên cơi trí:

   a) Hạ trí (lower mind)

   b) Con của trí tức linh hồn.

   c) Thượng trí (higher mind).                                                                     (CVĐĐ, 280)

Chữa trị bằng bức xạ (Radiatory healing):

Trong cách chữa trị bằng bức xạ, tiến tŕnh chữa trị th́ đơn giản và an toàn hơn, v́ người chữa trị chỉ quy tụ năng lượng (power) vào chính ḿnh rồi phóng rải (radiate) năng lượng đó vào bệnh nhân dưới dạng một luồng năng lượng tỏa chiếu tuôn ra đều đặn. Ḍng năng lượng này phải được hướng đến bí huyệt gần chỗ bị bệnh nhất.                                         (CTNM, 101)

Chữa trị bằng cách hút từ điển (Magnetic healing):

Trong cách chữa trị bằng từ điển, người hoặc nhóm chữa trị làm hai việc:

     1/ Y thu hút về phía bí huyệt cần chữa trị loại năng lượng sẽ làm mất tác dụng  (counteract) căn bệnh.

Tất nhiên đây là một vấn đề bao la và có t́m quan trọng khoa học sâu xa. Một vài loại thần lực của cung có thể được dùng với một số bệnh, bắt buộc phải sử dụng một vài bí huyệt đặc biệt để phân phối.

     2/ Y thu hút về chính ḿnh và hấp thu các mănh lực đang gây ra bệnh, rút nó ra khỏi bệnh nhân.

Tiến tŕnh sau này cần có sự bảo vệ thận trọng của nhà chữa trị khỏi mọi lây nhiễm của bệnh, để cho các lực gây bệnh không vào trong cơ thể y. Cũng cần phải cung cấp năng lượng lành mạnh cho bệnh nhân để thế chỗ cho năng lượng đă được rút ra.                                                                                                      (CTNM, 100)

Chữa trị đích thực bằng tinh thần (True spiritual healing):

     Khi nào bệnh nhân th́nh ĺnh và thường là bất ngờ, tiếp xúc với linh hồn ḿnh, và trong lúc đó, năng lượng của linh hồn nhiều và mạnh đến nỗi nó quét qua các hiện thể và nhất định phải tạo ra nhiều hiệu quả. Nhờ thế mang lại việc chữa trị cho một hiện thể nào đó và thường là trong thể xác. (CTNM, 359)

Chữ Vạn (Swastika): X. Chuyển động quay và biểu tượng kư.

     - Thập giá khả chuyển (Mutable Cross) có thể được mô tả bằng chữ Vạn                   (chữ Vạn ngược)     (CTHNM, 560)

    - Swastika/Svastika (B.Ph): Chữ Vạn       (chữ Vạn thuận)

     Trong Triết Học Nội Môn, đây là biểu đồ cổ xưa và thần bí nhất. Đó là “tác nhân sáng tạo của lửa do ma sát và của “49 Linh hỏa”. Biểu tượng của nó được khắc vào chỗ quả tim của Phật, và do đó, được gọi là “Tâm Ấn” (“Heart’ s Seal”). Chữ Vạn được đặt vào ngực của các Đạo Đồ sau khi chết; và nó được nhắc đến với niềm tôn kính sâu xa trong Ramâyana. Chữ Vạn được khắc trên mọi ḥn đá, đền thờ và các kiến trúc tiền sử của Ấn Độ và bất cứ nơi đâu có dấu vết tín đồ Phật giáo. Nó cũng được t́m thấy ở Trung Hoa, Tây Tạng, Thái Lan và trong các quốc gia Nhật Nhĩ Man cổ xưa (ancient  Germanic nations) giống như cái Búa của thần Thor (Thor’ s Hammer).

     (NGMTTL, 315)

Chướng ngại trên đường phát triển tâm linh (Impediment in the way of spiritual development):

     Cách nói ẩn dụ của các huyền bí gia Ấn Độ khi nói đến “Con Mắt của Shiva”, tức là “có đệ tam nhăn” (the Tri–lochana hoặc three–eyed”) được chứng minh là có lư. Việc chuyển di tuyến tùng quả (có thời là Con Mắt Thứ Ba) ra trước trán chỉ là cách nói lệch lạc của ngoại môn. Việc này cũng rọi ánh sáng vào một điều bí nhiệm mà một số người không thể hiểu được, về mối liên hệ giữa t́nh trạng có nhăn thông với sự tinh khiết về mặt sinh lư của Nhà Nhăn thông (Seer). Câu hỏi sau đây thường được đưa ra: “Tại sao đời sống độc thân và sự trinh khiết (chastity) lại là điều kiện tất yếu của hàng đệ tử thông thường khi muốn phát triển các quyền năng tâm linh thần bí? Câu trả lời nằm trong Thiên b́nh luận. Nếu chúng ta biết được rằng Con Mắt thứ ba trước là cơ quan sinh lư, rồi sau đó, do sự biến mất từ từ của tính chất tâm linh và việc tăng tiến của tính chất vật chất, bản chất tâm linh v́ bị bản chất vật chất dập tắt nên nó trở thành một cơ quan thoái hóa mà hiện nay các nhà sinh lư học chỉ hiểu được đôi chút (giống như trường hợp của lá lách) – Khi chúng ta hiểu được điều này th́ mối liên hệ sẽ trở nên rơ rệt hơn. Trong kiếp sống con người, trở ngại lớn nhất trên đường phát triển tâm linh và nhất là để hoạch đắc các quyền năng nhờ yoga là hoạt động của các khả năng sinh lư (physiological senses). Do tác động hỗ tương, hoạt động t́nh dục cũng có liên quan chặt chẽ với tủy sống và chất xám của bộ óc, không cần giải thích dài ḍng thêm nữa. Dĩ nhiên, t́nh trạng b́nh thường và bất thường của bộ óc và mức độ hoạt động tích cực của tủy sống sẽ tác động mạnh mẽ lên tuyến tùng quả, bởi v́, do con số các “trung tâm”, ở vùng đó, từ lâu đă kềm chế một số lớn các tác động sinh lư của cơ cấu động vật (animal economy), và cũng do sự gần gũi mật thiết của cả hai nên tủy sống phải có một tác động “cảm ứng” rất mạnh lên tùng quả tuyến.                                                              (GLBN III, 297)

Cơi (Plane, cảnh giới):

   Về mặt bản thể, cơi là một trạng thái tâm thức (a state of consciousness) chứ không phải là một vị trí (locality) theo như rất nhiều nhà nội môn học tưởng nghĩ.                                   (CTNM, 490)

   Trong Thái Dương Hệ, prana thể hiện như là năm trạng thái năng lượng vĩ đại (great states of energy) mà chúng ta gọi là các cơi, môi trường của tâm thức, đó là:

     1) Cơi Niết Bàn hay là cơi Tinh thần (atmic or spiritual plane).

     2) Cơi Bồ Đề hay cơi trực giác.

     3) Cơi trí.

     4) Cơi cảm dục.

     5) Cơi hồng trần.                                                                                                (ASCLH, 329)

     – Các lực trường vĩ đại (great fields of forces) được gọi là các cơi (planes).                                                                  (TLHNM II, 54)

     - Như được dùng trong huyền linh học, thuật ngữ này chỉ phạm vi (range) hay mức độ (extent) của một trạng thái ư thức nào đó hay là của năng lực nhận thức của một tập hợp các giác quan đặc biệt, hoặc là tác dụng của một lực đặc biệt, hoặc là trạng thái vật chất tương ứng với bất cứ thứ nào nói trên.    

                   (LVLCK, 66)

Cơi ảo tưởng (Plane of illusion, cơi huyễn tưởng):

     Cơi ảo tưởng vốn là cơi cảm dục.                     (TLHNM II, 189)

Cơi Bồ Đề (Buddhic plane):

   - Cơi Bồ Đề tức là cơi trực giác                    (LVHLT, 383).

     Cơi thứ tư hay cơi Bồ Đề, cơi của vũ trụ chúng ta, trong cơi này vẫn c̣n nhị nguyên tính (duality) nhưng không c̣n sự phân chia (separation).                                                     (MTNX, 182)

Cơi bên trong: (Inner planes, nội cảnh giới)

    Cơi bên trong là cơi của các nguyên nhân và các xung lực (impulses), của tư tưởng và ham muốn (of thought and desire). 

(SHLCTĐ, 352)

Cơi cảm dục (Astral plane):

   Tất cả các bạn đều đang hoạt động ở một mức độ nào đó trên cơi ảo tưởng và ảo cảm, và đối với các bạn, thế giới ảo tưởng có thật và cơi cảm dục đối với bạn là có thật. Nhưng tôi có thể nói: đối với các thành viên đă được điểm đạo của Đại Bạch Giai th́ cơi cảm dục không có thật. Các vị này không hoạt động trên phân cảnh ư thức đó v́ cơi cảm dục là một trạng thái tri thức rơ rệt cho dù (theo quan điểm tâm linh), nó không thật sự hiện tồn. Nó biểu hiện cho đại công tác sáng tạo của nhân loại qua bao thời đại và là sản phẩm của sự tưởng tượng “giả tạo” và hoạt động của bản chất tâm thông thấp. Khí cụ của công tác sáng tạo của nó là bí huyệt xương mông và bí huyệt nhật tùng. Khi các năng lượng t́m cách biểu hiện qua hai bí huyệt này được chuyển hóa và đưa tới bí huyệt cổ họng và tim nơi người tiến hóa, bấy giờ, những người vượt trội nhất trong nhân loại sẽ biết được rằng cơi cảm dục không có thật. Bấy giờ, họ sẽ hoạt động mà không có ấn tượng của nó và nhiệm vụ giải thoát nhân loại ra khỏi t́nh trạng nô lệ của sáng tạo riêng của nó sẽ diễn tiến nhanh chóng.        (SHLCTĐ, 40)

3.      Desire plane tức là astral plane.                           (LVHLT, 220)

4.      Cơi ảo tưởng (plane of illusion) là cơi cảm dục

(TLHNM II, 189)

     Thuật ngữ “astral” (“tính chất giống như sao”) rất thường được dùng thật sự là cách gọi sai. Về căn bản th́ H.P.B. có lư khi bà dùng thuật ngữ này để nói về các mức độ dĩ thái hay sinh lực của cơi trần. Khi tiếp xúc với lĩnh vực dĩ thái, ấn tượng đầu tiên có được luôn luôn là có ánh sáng như sao, chói rực, lấp lánh. Tuy nhiên, dần dần, từ này được đồng hóa với kama hay dục vọng, và như thế, dùng để chỉ cơi của phản ứng t́nh cảm.

     Thật là lư thú mà biết được điều này v́ chính nó là một thí dụ về tác dụng của cơi cảm dục lên năo bộ con người, khi không được biết rơ, nó sẽ đảo ngược sự thật và thấy các sự vật ở t́nh trạng lộn ngược. Cái bề ngoài của cơi cảm dục khi được thấy lần đầu tiên một cách rơ rệt bởi “con mắt mở rộng” của người t́m đạo là một đám sương mù dày đặc, hỗn độn, h́nh hài biến đổi, màu sắc xuyên thấu nhau và trộn lẫn nhau và có dáng vẻ biến ảo đến nỗi sự vô vọng của việc khó khăn này dường như lấn áp tất cả. Nó không phải là ánh sáng, hoặc lấp lánh như sao, hoặc trong suốt. Hiển nhiên, đó là một khối lộn xộn, không thể xuyên qua được, v́ đó là nơi hội tụ của các mănh lực. Bởi v́ các mănh lực trong chính cơ thể của người t́m đạo cũng hỗn độn nên y trộn lẫn với sự hỗn độn chung quanh đến nỗi mà lúc đầu, linh hồn đứng bên ngoài hầu như không thể tách rời cơ cấu cảm dục của riêng ḿnh ra khỏi cơ cấu cảm dục của nhân loại nói chung, và ra khỏi cơ cấu cảm dục của thế giới.

   Bấy giờ, một trong các điều đầu tiên mà người t́m đạo phải học là tách rời hào quang của riêng ḿnh trong ư thức t́nh cảm ra khỏi hào quang của môi trường quanh ḿnh và phải mất nhiều thời giờ mới học được điều này. Lư do của việc này là một  trong các tính chất đầu tiên trên đường đệ tử là phân biện, v́ chính nhờ dùng thể trí như là dụng cụ phân tích, gạn lọc mà thể cảm dục mới được kềm chế.

   Thứ đến là, cơi cảm dục là cơi của ảo tưởng, của ảo cảm và của cách tŕnh bày thực tại bị méo mó. Lư do là v́ mọi con người trên thế gian đều đang vướng bận với chất cảm dục và sức mạnh của dục vọng nhân loại và dục vọng của thế giới luôn luôn tạo ra sự “vẽ vời” (“out picturing”) và xây đắp h́nh hài (form building) vốn dẫn đến các hiệu quả cụ thể nhất đối với chất cảm dục. Dục vọng cá nhân, dục vọng quốc gia, dục vọng của giống dân, dục vọng của nhân loại nói chung, cộng với dục vọng do bản năng của tất cả các sinh linh dưới nhân loại tạo ra một sự thay đổi và chuyển dời thường xuyên chất liệu của cơi này. Ngoài ra c̣n việc tạo nên các h́nh hài tạm thời, một số đẹp đẽ hiếm thấy, một số không đẹp và có sinh khí do năng lượng cảm dục của tác nhân tạo ra chúng. Thêm vào các h́nh hài này có các màn cảnh mà chúng ta gọi là “tiên thiên kư ảnh” có liên hệ đến liïch sử của quá khứ, cộng với các hoạt động của các sinh linh thoát xác đang vượt qua cơi cảm dục, hoặc là ĺa trần, hoặc là đi đầu thai, cộng với ước vọng mạnh mẽ được thanh lọc và sáng suốt của các siêu nhân, kể cả các vị thuộc Thánh Đoàn trong hành tinh, và toàn thể các mănh lực hiện diện thật kỳ diệu. Tất cả đều đang tác động lên, chung quanh và xuyên qua mọi người tùy vào năng lực thể xác y và t́nh trạng của các trung tâm lực của y mà y đáp ứng được.

 (LVHLT, 221222)

     – Phân cảnh thứ tư của cơi cảm dục nắm giữ đa số nhân loại khi họ qua đời.                                                         (LVHLT, 374)

     – … Trong giai đoạn cuối cùng của lịch sử nhân loại (trong căn chủng thứ bảy), cơi cảm dục sẽ không c̣n tồn tại nữa.

     (CTNM, 487)

     - Cơi cảm dục dứt khoát là một trạng thái ư thức, cho dù (theo khía cạnh tâm linh) nó không thực sự tồn tại.

   (SHLCTĐ,  40)

Cơi hiện tượng (world of phenomena, phenomenal world, Ye-dhamma- Thư của Ch.S.,   256):

     Là ba cơi tiến hóa của con người (three worlds of human evolution).                                                                                                                 (GDTKNM, 60)

Cơi hồng trần (Physical plane/objective plane – CTNM, 1, cảnh giới hồng trần):

     Gồm bảy phân cảnh (cơi phụ) từ thấp (thứ bảy) lên cao (thứ nhất):

     1/ Phân cảnh một … Phân cảnh vi tử (Atomic subplane) … Vật chất vi tử (Atomic matter).

     2/ Phân cảnh 2 … Phân cảnh á vi tử (sub-atomic) … Chất ether II (Dĩ thái II).

     3/ Phân cảnh 3 … Phân cảnh siêu dĩ thái (super etheric) … Chất ether III.

     4/ Phân cảnh 4 … Phân cảnh dĩ thái thứ nhất … Chất ether IV.

     5/ Phân cảnh 5 … Phân cảnh chất hơi (gaseous subplane) … Chất hơi (gas).

     6/ Phân cảnh 6 …… Chất lỏng (liquids).

     7/ Phân cảnh 7 …… Chất đặc (solids).                     

                                                (LVLCK, 94 và ASCLH, 323)

 

Cọi giới xám (The gray world):

            Ñôøi soáng ôû coơi giôùi xaùm sau khi cheát laø do söï vöôùng maéc cuûa theå t́nh caûm vaø theå sinh löïc. Nhieàu ngöôøi khoâng coù ñöùc tin roơ reät naøo vaøo söï soáng beân kia cöûa töû, tuy theá hoï laïi khao khaùt muoán tieáp tuïc söï soáng. Hoï thöôøng noùi moät caùch mô hoà vôùi baïn raèng hoï tin coù traïng thaùi haäu töû (an after-state), nhöng roát laïi hoï raát nghi ngôø. V́ khoâng coù söï soáng naøo tröø söï soáng hoàng traàn laø coù yù nghóa ñoái vôùi hoï, hoï lieàu lónh baùm chaët vaøo xaùc thaân ñeán möùc maø sau khi cheát, chaát dó thaùi khoâng theå ruùt heát ra khoûi chaát hoàng traàn troïng tröôïc (dense physical matter) nhö caùc tröôøng hôïp thoâng thöôøng. Baáy giôø, moät luùc laâu sau khi cheát, con ngöôøi vaăn coøn ôû t́nh traïng khoâng phaûi laø coơi traàn, maø cuơng khoâng phaûi laø coơi sau khi cheát. Ngöôøi aáy coøn giöơ laïi moät soá lôùn chaát dó thaùi (etheric matter), chaát naøy ngaên khoâng cho y vaän duïng caùc giaùc quan thuoäc theå caûm duïc (astral senses) moät caùch troïn veïn ñaày ñuû, cho neân y khoâng theå chuyeån qua coơi caûm duïc theo yù muoán, maët khaùc, y khoâng theå ôû laïi coơi traàn v́ y ñaơ maát lieân laïc vôùi coơi aáy maëc duø vaăn coøn moät soá chaát dó thaùi ôû laïi quanh y. Theá laø y ḅ treo trong caùi ñoâi khi ñöôïc goïi laø coơi giôùi xaùm. Trong t́nh traïng naøy, y chæ coù ñoâi chuùt aán töôïng cuûa moăi coơi, nhöng y ôû trong t́nh traïng raát khoâng oån ṇ̃nh, luoân luoân tranh chaáp ñeå coù ñöôïc cuoäc soáng ñaày ñuû ôû nôi naøy hoaëc nôi kia. Moïi ñieàu ñoù ñeàu coù theå rôøi khoûi y trong thoaùng choác neáu y cḥu buoâng ra, nhöng thöôøng thöôøng phaûi maát moät thôøi gian daøi tröôùc khi y coù theå laøm ñöôïc nhö theá.           (GLASTÑÑ, 389)

Coơi hoàng traàn vuơ truï (cosmic physical plane, kosmic Prakritic plane):

     Baûy coơi (caûnh giôùi) cuûa chuùng ta laø baûy coơi phuï (subplanes) cuûa coơi hoàng traàn vuơ truï.                                              (ÑÑNLVTD, 169), (LVLCK, 94)

 

 

 

Cơi nguyên h́nh (Archetypal plane):

     - Cơi nguyên h́nh là cơi của biểu lộ thiêng liêng, cơi thứ nhất của Thái Dương Hệ chúng ta, cơi Tối Đại Biết Bàn (the plane Adi).

     Vật chất (matter) của cơi cao nhất đó thường được gọi là “bể lửa” (“sea of fire”) và đó là cội rễ (root) của tiên thiên khí (akasha), một thuật ngữ được dùng để chỉ chất liệu (substance) của cơi biểu lộ thứ nh́.                                                                      (LVLCK, 79)

     - Đối với người t́m đạo (aspirant), cơi nguyên h́nh là cơi của trực giác, mặc dù trong thực tế, nó là một trạng thái tâm thức c̣n cao hơn nhiều.

     - Cơi nguyên h́nh là chỗ tập trung sự chú tâm của nhóm các Đấng Thông tuệ cao siêu nhất trên hành tinh chúng ta. Tâm thức các Ngài có thể đáp ứng và bao gồm vào lĩnh vực hoạt động này, nơi mà Thiên Trí tự biểu hiện, không bị hạn chế của những ǵ mà chúng ta hiểu như là h́nh hài sắc tướng.

              (LVHLT, 456, 458)

Cơi Niết Bàn (The Nirvanic plane, Atmic plane):

     - Cơi thứ năm, tức cơi Niết Bàn, là cơi của trạng thái cao nhất của con người đối với Thượng Đế bên trong chúng ta, trạng thái này được các nhà nghiên cứu Minh Triết Thiêng Liêng gọi là Atma, tức Chân Ngă (the Self). Đó là cơi của sự sống thuần khiết (pure existence), của các quyền năng thiêng liêng dưới biểu lộ (manifestation) đầy đủ nhất của chúng trong vũ trụ ngũ phân của chúng ta – những ǵ ở bên kia, tức cơi thứ sáu và thứ bảy được ẩn giấu trong ánh sáng không thể tưởng tượng được của Thượng Đế.                                               (MTNX, 184)

    - Atmic plane là trú sở (home) của Atma con người.

 (KCVTT,  236)

Cơi phụ (subplane):

     Cơi phụ của bất cứ cơi (plane ) nào được gọi là “sphere” (phân cảnh).                                                                                                                         (LVLCK, 153)

Cơi phụ Chân Ngă  (Egoic levels): X. Phân cảnh Chân Ngă.

Cơi siêu phàm (super-physical planes)

    Cơi siêu phàm là các cơi mà Ngă-Thức (Self-consciousness) chưa được xác lập trên đó                                   (KCVTT, 163)

 

Cơi thiêng liêng (Divine plane):

     Cơi thiêng liêng tức cơi của Thượng Đế, đôi khi được gọi là cơi Tối Đại Niết Bàn (Adi).                                   (LVLCK,468)

Cơi thứ tám (Eighth sphere):

   ... Giống như thể xác không được coi như là một nguyên khí, cũng vậy, có một lĩnh vực hoạt động không được kể tới trong bảng liệt kê của chúng ta, nó đă qua rồi. Cách giải thích nào đó về điều này ẩn giấu trong các lời lẽ huyền linh “Cơi thứ tám”.                                                                                                           (LVLCK, 588)

Cơi trí (mental plane):

     - Cơi trí là cơi phản chiếu Toàn Linh Trí trong Thiên Nhiên, trong hệ thống nhỏ bé của chúng ta, cơi trí tương ứng với cơi của Đại Trí (Great Mind) trong Đại Vũ Trụ (Kosmos).

                 (MTNX,  123)

     - Cấu tạo của cơi trí gồm có ba cơi phụ vô sắc tướng (three formless levels) và bốn cơi phụ hữu sắc tướng (four levels of form).                                                                                                                                          (LVLCK, 923)

     - Trên cơi trí không có thời gian.                                 (LVHLT, 480)

     - Cơi phụ thứ tư của cơi trí là cơi Devachan (plane of Devachan).                                                                                                                       (LVHLT, 374)

Cơi trực giác (Intuitional plane) :

     - Hay là cơi bồ đề (buddhic plane).                              (LVHLT, 383)

- Phân cảnh thứ tư của cơi hồng trần vũ trụ.   (CVĐĐ, 700)

Cơi và các bản tố (Plane and elements):

a/ Hậu thiên khí (Aether) ….…    Cơi Niết Bàn (Atmic plane)

b/ Phong (Air)           ………………………..        Cơi Bồ Đề (Buddhic plane)

c/ Hỏa (Fire)             ………………………..        Cơi Trí (Mental plane)

d/ Thủy (Water)       ………………………..        Cơi cảm dục (Astral plane)

e/ Địa (Earth)            …………………………      Cơi Hồng Trần (Physical plane)

(LVLCK, 185)

Cơi và trạng thái tâm thức (Planes and states of consciousness):

1. Cơi hồng trần … Bhu … Thế giới trần tục - Hồng trần thức

(Physical plane)                                                                            (physical consciousness)

2. Cơi cảm dục … Antariksa … Thế giới xúc cảm- Cảm dục thức

 (Astral plane)                                                     (kamic or desire consciousness)

3. Cơi trí … Mahendra … Thế giới của trí tuệ và linh hồn

 (Mental plane)                                                       - Trí tuệ thức

                                                                                (Mind consciousness)

4. Cơi Bồ Đề … Mahar Prajapatya … Thế giới Christ

(Buddhic plane)                                   -Trực giác thức

                                            hay Tâm thức Christ-Tập thể thức

5. Cơi Niết bàn … Jana … Thế giới tinh thần - Hành Tinh thức

 (Atmic plane)                                            (planetary consciousness)

                                                                                                                                               -Thế giới của Ngôi Ba

6. Cơi Chân Thần … Tapas … Thế giới thiêng liêng-Thiên thức        

    (Monadic plane)                                      (God consciousness)

                                                                                                                                       -Thế giới của Ngôi Hai

7. Cơi Thượng Đế … Tatya … Thế giới của nguyên nhân phát

   (Logoic plane)             sinh-Tuyệt đối thức (Absolute consc.)

                                                              -Thế giới của Ngôi Một

(ASCLH, 298)

Cơi vật chất (Material planes)

Tập hợp các cơi vật chất, tức là cơi hồng trần, cơi cảm dục và cơi hạ trí (lower mental plane)                          (GLTNVT, 104)

Con của trí tueä (Sons of mind) :

   Loài người khác với loài thú ở chỗ có được sự thông tuệ, biết biện luận bằng lư trí. V́ thế, trong Minh triết Vô thủy, Giáo Lư Bí Nhiệm của thế gian, con người thường được gọi là “con của trí tuệ”. Chính trí tuệ giúp cho con người có ư thức về biệt ngă (sense of individuality), có ư thức về sự cá biệt của ḿnh, đó là Chân Ngă.                                                              (ASCLH, 318)

Con dân của Chúa (Man of God, Dân nước Chúa):

Dân nước Chúa là người có các quyền năng được kềm chế bởi rung động vượt trội (dominant vibration) của cung linh hồn, c̣n bộ máy bén nhạy bên trong đang rung động với mức độ mà đến lượt cung linh hồn lại đang tái định hướng về phía cung Chân Thần và được cung này kềm chế.   

                                                                     (TLHNM II, 17-18)

Con đường Dự bị (Path of Probation):

     Trong thực tế, con đường dự bị là toàn thể kinh nghiệm sống (life experience), trước khi bước lên con đường đệ tử (discipleship).                                                                                                           (CTHNM, 279)

Con đường Ly Nguyên (Path of Outgoing):

     – Con đường ly nguyên đưa vào vật chất.       (CTHNM, 569)

     – Huynh đệ hắc đạo dồn hết th́ giờ vào các mănh lực giáng hạ tiến hóa, hay là Con Đường Ly Nguyên.            (LVLCK, 987)

Con đường Qui Nguyên (Path of Return, Phản Bổn Hoàn nguyên):

     – Như người ta biết rơ, nhà huyền linh học hoạt động theo khía cạnh tiến hóa thăng thượng hay liên quan đến Con đường Qui Nguyên.                                                                     (LVLCK, 987)

     – Bốn giai đoạn của Con đường Qui Nguyên:

            a/ Chính giai đoạn tiến hóa.

            b/ Giai đoạn Con đường Dự bị.

            c/ Giai đoạn Con đường Đệ tử.

            d/ Giai đoạn Con đường Điểm đạo.             (CVĐĐ, 476)

    - Nhờ con đường Quy nguyên, nhân loại được rút ra khỏi sự chú trọng vào ngoại cảnh, bắt đầu nhận ra và ghi nhận các tri thức hữu thức nội tâm của những ǵ không có tính chất hiện tượng, để rồi, nhờ vào diễn tŕnh tiến hóa, đạt được một tŕnh độ phát triển mà trong đó một số người có thể noi theo con đường này từ ư thức hồng trần (physical consciousness) đến ư thức t́nh cảm và từ ư thức t́nh cảm (emotional consciousness) đến ư thức trí tuệ (mental consciousness).                    (GDTKNM, 27)

Con đường Thanh Luyện (Path of Purification):

     Con đường Dự bị là Con đường Thanh luyện.(TLHNM, 307)

Con người (man):

Con người là một điểm linh quang (point of divine light) bị che giấu trong một số lớp vỏ bao bọc (enveloping sheaths) giống như ánh sáng bị che giấu bên trong ngọn đèn lồng.

(TTTĐTG, 76)

- Con người là một thực thể (being, sinh vật) mà trong y, phần tinh thần cao siêu nhất và phần vật chất thấp thỏi nhất được nối kết lại với nhau bằng trí tuệ (intelligence).              

      (TTCNT, 83)

- Theo chúng tôi biết, Con Người hay cái h́nh bóng thanh nhẹ (filmy image) của con người có thể đă xuất hiện từ 300.000.000 năm nay, mặc dù chúng tôi không được dạy cho biết các con số chính xác, v́ chúng được các Chân Sư của Huyền Môn giữ bí mật như đă nói trong Esoteric Buddhism.

                                (GLBN  3,   253)                    

Con người, các dị biệt tạm thời (Temporary differences):

     Con người khác nhau ở các điểm:

     a/ Cung năng lượng (hầu hết tác động đến từ khí của sự sống).

     b/ Tiếp cận với chân lư, hoặc con đường huyền linh, hoặc con đường thần bí có mănh lực thu hút mạnh hơn.

     c/ Sự an trụ, định đoạt chủ đích của t́nh cảm, trí tuệ hay xác thân của một kiếp sống.

     d/ T́nh trạng tiến hóa đưa đến sự đa dạng đă thấy trong con người.

     e/ Cung hoàng đạo, xác định khuynh hướng của bất cứ kiếp sống đặc biệt nào.

     f/ Giống dân, đặt phàm ngă dưới h́nh tư tưởng riêng biệt của giống dân đó.                                                                      (LVHLT, 111)

Con người, cấu tạo (Constitution of man):

     Về căn bản, cấu tạo của con người gồm ba phần như sau:

I. Chân Thần (Monad , hay Tinh thần thuần khiết (pure Spirit), Cha Trên Trời (Father in Heaven). Trạng thái này phản chiếu Ba Ngôi của Thượng Đế (Godhead):

1. Ư chí hay Quyền năng (Will or Power)    Chúa Cha

2. Bác áiMinh Triết (LoveWisdom)..... Chúa Con

3. Trí tuệ linh hoạt (Active Intelligence) Chúa Thánh

                                                                                        Thần.

     Chân Thần tự phản chiếu lần nữa trong:

II. Chân Ngă (Ego), Thượng Ngă (Higher Self) hay Biệt Ngaơ (Individuality). Tiềm năng của trạng thái này là:

     1. Ư chí Tinh thần ………………………….. Atma (Linh thể).

     2. Trực giác ………………………………………….Buddhi (Tuệ giác thể),

Bác ái Minh triết, nguyên khí Christ.

     3. Thượng trí hay Trí trừu tượng … Manas cao

                                                         (Thượng trí thể).

     Nơi người tiến hóa cao, Chân Ngă bắt đầu hiển thị sức mạnh của ḿnh, và sức mạnh này ngày càng tăng trên đường Dự Bị cho đến lần điểm đạo ba th́ Thượng Ngă hoàn toàn kềm chế Phàm Ngă, và trạng thái cao nhất bắt đầu hiển lộ năng lượng.

     Chân Ngă tự phản chiếu trong:

 

III. Phàm Nhân hay Phàm Ngă (Personality hoặc lower self), con người hồng trần(physical plane man):

     Trạng thái này cũng có ba phần:

     1. Hạ trí (mental body)...................... Manas thấp

                                                                 (Thể hạ trí)

     2. Thể t́nh cảm (emotional body)... Thể cảm dục

     3. Thể hồng trần (physical body) ……... Xác thịt trọng trược

  (dense physical body) và thể dĩ thái.

(ĐĐNLVTD, XV)

Con người, phân loại (People, categories):

     Có ba hạng người (three types of people):

     a/ Người cảm dục (Kamic people, kamic person): những người này có tính chất và cấu tạo thuần là cảm dục (purely astral).

     b/ Người trí cảm (kama–manasic person): đây là những người quân b́nh (balanced people), họ là các Phàm Ngă hội nhập (integrated personalities). Người trí cảm có được  cái gọi là “sự tự do của cuộc sống nhị phân” (“freedom of the dual life”) và thấy chính ḿnh có được h́nh thức nhị phân (dual form) khiến cho y tùy ư giao tiếp với các phân cảnh cao của cơi cảm dục và các phân cảnh thấp của cơi trí. Tôi xin nhắc lại rằng không có năo bộ hồng trần nào ghi lại được các tiếp xúc này. Biết được sự tiếp xúc là tùy vào hoạt động bên trong của chân nhân (inner man) và t́nh trạng đặc biệt của cách hiểu biết và đánh giá.

     c/ Người thiên về trí (manasic subjects /person /man):

     Đây là những người tiến hóa  (advanced people) và các đệ tử đủ mọi cấp. Những người này có cách sống chính yếu là tập trung vào trí.

     Người thiên về trí, tức Phàm Ngă hội nhập, hoạt động theo hai cách tất nhiên là tùy vào mức độ hội nhập đă đạt được. Có hai loại hội nhập:

1– Loại Phàm Ngă hội nhập tập trung vào trí và có được mối liên giao luôn luôn tăng tiến với linh hồn.

2– Bậc đệ tử, có Phàm Ngă hội nhập đang được hội nhập một cách nhanh chóng vào linh hồn và được hóa nhập (absorbed) bởi linh hồn.                                  (CTNM, 487–488, 498)

Con người, sau khi chết (People, sau khi chết):

     Cho đến nay, ít có người tiến hóa đủ để sau khi chết, thấy ḿnh có được một hiện thể phần lớn làm bằng chất trí (mental substance). Chỉ có các đệ tử và các vị đạo đồ, tức là những người hầu như sống trong thể trí, sau khi chết, tức khắc thấy ḿnh ở trên cơi trí. Đa số con người đều thấy ḿnh ở cơi cảm dục, khoác lấy lớp vỏ (shell) bằng chất cảm dục (astral matter) và phải chịu một giai đoạn thải bỏ (olimination) bên trong vùng ảo giác (illusory area) của cơi cảm dục.           (CTNM, 486)

Con người sơ khai (Early mankind):

     Các nhà huyền linh học vốn vững tin vào các giáo lư của Minh triết Nguyên thủy đă bác bỏ các bài bác của các nhà thần học lẫn các nhà khoa học. Các nhà huyền linh học chủ trương rằng ngay vào thời kỳ mà trái đất c̣n nóng bỏng, thậm chí ở hai cực nữa, với những cơn ngập lụt liên tiếp làm xáo trộn các thung lũng và thường xuyên tạo ra thay đổi của các vùng nước và biển mênh mông, các t́nh trạng đó cũng không thể gây trở ngại cho sự sống và cơ cấu (organization) đối với con người sơ khai. Tính chất hỗn tạp của môi trường chung quanh, đầy dẫy các chất khí độc hại cũng như các hiểm họa của lớp vỏ địa cầu vừa mới đông đặc, tất cả đều không thể ngăn được Giống Dân Thứ Nhất và Thứ Hai xuất hiện, ngay cả trong Kỷ Thạch Thán (Carboniferous Age – cách nay 360 triệu–295 triệu năm–ND) hay chính Kỷ Silur (Silutian Age – cách nay 435 triệu–410 triệu năm–ND).  (GLBN III, 157–158)

Cô đơn (loneliness, cô độc):

     Hăy dọn ḿnh hứng chịu cô đơn. Đó là định luật. Khi một người tự tách rời khỏi những ǵ liên quan đến thể xác, thể cảm dục và thể hạ trí của ḿnh và an trụ vào Chân Ngă th́ việc đó tạo ra một chia cách tạm thời. Phải cố gắng chịu đựng và vượt qua t́nh trạng này, sau này, nó sẽ đưa đến một mối liên hệ chặt chẽ hơn với tất cả những ai cộng tác với vị đệ tử qua nghiệp quả của các tiền kiếp, qua công tác tập thể và qua hoạt động của vị đệ tử (lúc đầu xảy ra hầu như vô thức) để tập hợp lại những người mà sau này y sẽ làm việc thông qua họ.

                                                                        (ĐĐNLVTD, 76)

Cô tịch (solitude, tịch lặng, ninh tĩnh):

     Một trong các điều kiện ban đầu mà vị đệ tử phải bồi đắp, ngơ hầu nhận thức được thiên cơ và được Chân Sư sử dụng là trạng thái cô tịch. Trong cô tịch, đóa hoa của linh hồn mới phát triển; trong cô tịch, mới nghe được tiếng nói của Linh Ngă; trong cô tịch, các năng lực và ân huệ của Thượng Ngă mới có thể bắt rễ và trổ hoa trong Phàm Ngă. Cũng trong trạng thái cô tịch, Chân Sư mới có thể tiếp cận và tạo ấn tượng lên linh hồn tĩnh lặng những tri thức mà Ngài t́m cách truyền đạt, những bài học cần phải học, phải lĩnh hội. Trong trạng thái tịch lặng, người ta mới nghe được diệu âm (sound).                           (LVHLT, 13)

Cổ Ai Cập (The older Egyptians):

     Như đă nêu rơ trong Minh triết Nội môn (Esoteric Buddhism), người Ai Cập, cũng như người Hy Lạp và La Mă, cách đây vài ngàn năm, đều là “tàn dư (remnants) của giống dân Atlant–Āryans” – người Ai Cập thuộc giống người Atlant xưa hơn, ở đảo Ruta, hậu duệ của giống dân cuối cùng thuộc đảo đó, các đệ tử được điểm đạo của Ai Cập đă thuật lại với Solon (638?–?559 trước TC., một trong bảy nhà hiền triết của Hy Lạp–ND) câu chuyện về việc biến mất bất ngờ của đảo Ruta này. Triều đại (Dynasty) nhân loại của người cổ Ai Cập bắt đầu với Menes (có khi viết là Mena, phát triển năm 3400 (3500?) trước TC., vị vua đầu tiên của Triều đại thứ nhất (Thinite) của Ai Cập–ND) có được tất cả kiến thức của người Atlantis mặc dù trong mạch máu của họ không c̣n ḍng máu Atlant nữa. Tuy nhiên, họ đă bảo tồn được mọi kiến thức cổ đó.                                                                      (GLBN III, 434)

Cơ cấu (mechanism, bộ máy) :

   Khi dùng từ ngữ “cơ cấu” trong các giáo huấn này là tôi đề cập tới các khía cạnh khác nhau của vận cụ (instrument), thể (body) hay bản chất h́nh hài (form nature) mà mọi linh hồn t́m cách biểu hiện qua đó. Do đó, tôi đề cập tới:

      1) Thể xác trọng trược.

      2) Thể dĩ thái.

      3) Thể cảm dục.

      4) Thể hạ trí.                                                                                                       (CTNM, 23)

Cơ thể con người (Human body):

Chất liệu của hai phân cảnh (cơi phụ) thấp nhất của cơi trần và cơi cảm dục không bao giờ được kiến tạo thành cơ thể con người như ngày nay; chất liệu đó có rung động quá thấp và có mức độ quá thô trược ngay cả đối với hạng người thấp kém nhất trên địa cầu hiện giờ. Cũng cần nói thêm rằng nơi kẻ thường nhân, chất liệu của một cơi phụ nào đó sẽ chiếm đa số tùy theo mức tiến hóa của người đó.                   (LVLCK, 942)

Cung (Ray, cung năng lượng):

   Một trong bảy luồng thần lực của Thượng Đế; 7 nguồn sáng vĩ đại. Mỗi nguồn sáng biểu hiện cho một Thực Thể Thông Linh vũ trụ vĩ đại. Bảy cung được chia thành ba cung trạng thái và bốn cung thuộc tính như sau:

Cung trạng thái (Ray of Aspect) :

   1. Cung Ư chí hay Quyền năng.

   2. Cung Bác áiMinh triết.

   3. Cung Hoạt động hay Thích nghi

Cung thuộc tính (Ray of Attributs) :

   4. Cung hài ḥa, Mỹ lệ, Nghệ thuật hay Hợp nhất.

   5. Cung Kiến thức cụ thể hay Khoa học.

   6. Cung Lư Tưởng Trừu tượng hay Sùng tín.

   7. Cung Huyền thuật Nghi lễ hay Định luật.

   Các tên nêu trên chỉ là một vài trong số nhiều tên, và tiêu biểu cho các khía cạnh khác nhau của thần lực mà nhờ đó Thượng Đế biểu hiện.                                                                       (ĐĐNLVTD, 224)

1/ Cung Một, Ư chí hay Quyền lực (First Ray of Will or Power):
     Đức tính đặc biệt  (Special Virtues):

     Sức mạnh (strength), can đảm, kiên định, chân thực xuất phát từ tính hoàn toàn không e sợ, năng lực cai trị, khả  năng thấu hiểu các vấn đề vĩ đại bằng đường lối hiểu  biết rộng răi và vận dụng con người cùng với các phương tiện.

     Tính xấu của Cung (Vices of Ray):

     Kiêu hănh, tham vọng, quỷ quyệt (wilfulness), khắc nghiệt (hardness), ngạo mạn (arrogance), ưa kềm chế kẻ khác, ngoan cố (obstinacy), giận hờn.

     Đức tính cần hoạch đắc (Virtues to be acquired):

     Từ mẩn (tenderness), khiêm tốn, thiện cảm, khoan dung, kiên nhẫn.

2/ Cung Hai, Bác áiMinh triết (Second Ray of LoveWisdom):

     Đức tính đặc biệt :

     Điềm tĩnh (calm), sức mạnh, kiên nhẫn và chịu đựng (patience and endurance), yêu chân lư, trung thành (faithfulness), trực giác, sáng suốt thông tuệ, tính khí điềm đạm (serene temper).

     Tật xấu :

     Quá say mê (overabsorption) trong việc học hỏi, lạnh lùng (coldness), lănh đạm với kẻ khác, coi thường các giới hạn trí tuệ nơi những người khác.

     Tính tốt cần tập:

     Bác ái, thương xót, không ích kỷ, nghị lực (energy).

3/ Cung Ba, Thượng Trí (Third Ray of Higher Mind):

     Đức tính đặc biệt :

     Quan điểm rộng răi về mọi vấn đề trừu tượng, thành tâm đối với mục tiêu, trí năng sáng suốt, có khả năng tập trung vào các nghiên cứu triết lư, nhẫn nại, cẩn thận, không có khuynh hướng làm bận tâm chính ḿnh hay người khác về chuyện nhỏ nhặt.

     Tật xấu :

     Kiêu hănh về trí tuệ, lạnh lùng, cô lập, thiếu chính xác trong chi tiết, đảng trí (absentmindedness), cố chấp, ích kỷ, quá chỉ trích kẻ khác.

     Tính tốt cần tập :

     Cảm t́nh, khoan dung, sùng tín, chính xác, nghị lực và lương tri (commonsense).

4/ Cung Bốn, Hài Ḥa qua Xung Khắc (Forth Ray of Harmony through Conflict):

     Đức tính đặc biệt :

     T́nh cảm mạnh mẽ, cảm t́nh, liều mạng (physical courage), rộng lượng, sùng tín, nhanh trí và nhận thức mau lẹ.

     Tật xấu :

     Ngă chấp, hay lo lắng, sai sót, thiếu can đảm về đạo đức, nhiều đam  mê, thụ động (indolence), vô độ (extravagance).

     Tính tốt cần tập :

     Trầm tĩnh (serenity), tự tin, tự kềm chế, trong sạch, xă kỷ, chính xác, quân b́nh trí tuệ và đạo đức.

5/ Cung Năm, Hạ trí (Fifth Ray of Lower Mind):

     Tính tốt đặc biệt :

     Phát biểu rất chính xác, công bằng (không thương xót), kiên nhẫn, lương tri, chính trực (uprightness), độc lập, trí tuệ nhạy bén.

     Tật xấu :

     Chỉ trích khe khắt, hẹp ḥi, ngạo mạn, tính không muốn tha thứ, thiếu t́nh cảm và sùng kính, thành kiến (prejudice).

     Đức tính cần tập :

     Tôn kính, sùng tín, cảm t́nh, bác ái, đầu óc phóng khoáng (widemindedness).

6/ Cung Sáu, Sùng Tín (Sixth Ray of Devotion):

     Đức tính đặc biệt :

     Sùng tín, chuyên tâm, bác ái, dịu dàng, trực cảm (intuition), trung thành, tôn kính.

     Tật xấu :

     T́nh thương ích kỷ và ganh tỵ, quá dựa vào kẻ khác, kết luận quá nhanh, dễ nổi giận.

     Đức tính cần đạt được :

     Sức mạnh, quên ḿnh (selfsacrifice), trong sạch, chân thành, khoan dung, trầm tĩnh, quân b́nh và lương tri.

7/ Cung Bảy, Trật tự Nghi lễ hay Huyền thuật (Seventh Ray of Ceremonial Order or Magic):

     Đức tính đặc biệt :

     Sức mạnh, nhẫn nại, can đảm, tao nhă, quá cẩn thận trong chi tiết, tự lực (selfreliance).

     Tật xấu :