THÔNG-THIÊN-HỌC

DẪN GIẢI

NGUYỄN-HƯŨ-KIỆT    BIÊN SOẠN – NĂM 1974

]Luân-Hồi

Nhân-quả

Tiến-hóa

LỜI NÓI ĐẦU

Luân - hồi, Nhân - quả, Tiến - hóa là những định luật lớn cai quản sự linh hoạt của muôn loài vạn  vật. có thể nói đó là ba cột trụ chính yếu nâng đỡ toàn thể vũ - trụ càn - khôn, và chỉ - huy mọi sự vận hành, sinh - hóa trong trời - đất. Bởi vậy, người học đạo cần nắm vững ba định luật này nếu muốn hiểu biết thiên - cơ.

Để giúp bạn đọc có sự hiểu biết ít nhất trên đại -cương, về những nguyên  tắc căn  bản trong đời sống của con người và vạn vật, chúng tôi đă thâu  thập tài liệu trong các tác -phẩm huyền  môn của những nhà huyền học và đạo gia ưu- tú đă có nhiều năm vấn thân trên đường đạo, để soạn ra tập sách nhỏ này.

Đây không phải là một tác phẩm văn -chương đúng theo ư nghĩa của nó, mà chỉ là kết quả của sự sưu tầm về đạo -lư do soạn giả đă trích dịch, và soạn thảo dưới h́nh thức những bài giảng dùng để thuyết tŕnh trong những buổi sinh hoạt nội bộ của hội Thông – thiên – Học Việt – Nam

Bởi vậy, nên không khỏi có sự lập đi lập lại, và vài điểm giáo -lư đă được tŕnh bày ở một bài trước, đôi khi lại thấy xuất hiện ở đoạn sau. Cách tŕnh bày dưới h́nh thức bài giảng theo phương pháp giáo khoa, với những tiểu đề, tiểu mục có đánh số thứ tự, trên dưới phân minh, có tác dụng giúp trí nhớ, để cho những giáo lư triết học khô khan, trừu - tượng, siêu h́nh có thể được theo dơi một cách sáng  sủa rỏ ràng dễ hiểu.

Phần II là những lời trích dịch soạn thảo từ các tác giả ngoài giới huyền  môn gồm những giáo lư cũng không kém sâu -sắc thâm -trầm, và tiêu biểu cho đạo -lư muôn đời, v́ chân - lư ở đâu cũng là một.

Chúng tôi ước mong quyển sách này sẽ có thể hữu ích cho các giới bạn đạo t́m hiểu và đem đến nguồn an- ủi khích- lệ cho những ai không t́m thấy lối thoát và lẽ sống giữa cuộc đời trần ai dẫy đầy bất trắc và đau khổ này.

 

 

PHẦN I

NHỮNG ĐỊNH LUẬT LỚN TRONG TRỜI ĐẤT

Chương I

Luân – Hồi

            Luân - hồi quả báo là giáo – lư căn bản của Phật Giáo và Ấn -Giáo

I-Thuyết luân- hồi ngày nay được phổ biến rộng răi và được một số đông người chấp nhận. Tại sao? Bởi v́ nó đưa đến một sự giải- đáp hợp lư cho nhiều vấn- đề khó- khăn của loài người. Trước hết, ta hăy xét hai vấn đề chính yếu:

àVấn đề công bằng trên thế gian. Làm sao dung ḥa được sự đau khổ của đời người với sự công bằng thiêng-liêng, v́ sự đau khổ của người đời, bề ngoài có vẻ bất công, dường như phủ nhận sự công bằng của thượng- đế?

àVấn đề tương lai của con người. Đó tức là vấn đề ư nghĩa và mục đích của đời người.

1-Những bí hiểm của đời người

Sự bất công, chênh lệch, bất b́nh đẳng giữa mọi người thế gian.

Quan sát cuộc đời hằng ngày, người ta nhận thấy dường như có sự bất công rất lớn, một sự bất b́nh đẳng và chênh lệch về sức khỏe ,thân thế giữa người và người.

a/Có những đứa trẻ sinh ra với thể xác mạnh khỏe, trong những gia đ́nh giaù -có, sang -trọng, nơi đó chúng nó được thương -yêu săn - sóc, và được cung cấp mọi thứ nhu cầu để bảo đảm hạnh -phúc và sự tiến -bộ của chung trong cuộc đời về sau.

b/Trái lại, hằng triệu đứa trẻ khác sinh ra dưới những điều kiện thật vô cùng khó- khăn, bạc phước, với những thể xác tật- nguyền, đau ốm. có đứa sinh ra đă đui, mù, câm, điếc, và dường như bị một định -mệnh phải chịu cuộc đời đau- khổ từ thuở lọt ḷng mẹ.

c/Có những đứa trẻ sinh ra trong ṿng bất hợp pháp, hoặc trong những gia đ́nh tội lỗi, say sưa, trộm- cắp, những gia đ́nh nghèo khó, lầm -than, nheo -nhóc trong những căn nhà ổ chuột, dưới gầm cầu, lỗ cống. chúng là những đứa trẻ bụi –đời, những đứa con bất đắc dĩ, sinh ra thiếu t́nh thương, bị bỏ đói khát, không được sự chăm nom săn -sóc, và bị đánh đập tàn -nhẫn, khi chúng lớn lên. Chúng nó bước vào đời với những chướng ngại rất lớn,  có khi trở thành những kẻ tội phạm sát nhân.

d/Nh́n thấy những cảnh bất b́nh đẳng và chênh lệch đó, người ta phải tự hỏi:

Nếu thật có một Đấng Thượng – Đế công b́nh, từ bi, bác ái, th́ tại sao Ngài lại có thể dung túng cho bao nhiêu sự bất công phũ phàng như thế, nó vẫn từng xảy ra trên thế gian kể từ muôn đời về trước và những tiếp diễn luôn luôn không bao giờ thay đổi?

e/Ngoài ra c̣n có vấn đề bất công này, là người ta thấy ở đời có kẻ độc ác, bất nhân lại được giàu- sang sung- sướng, c̣n người nhân -từ đức - hạnh lại bị lầm than đau khổ, tai họa liên miên?

-Những điều kể trên làm cho người ta nghĩ rằng thượng -đế rất là bất công độc ác! !

2-Ư nghĩa và mục đích của đời người.

Vấn đề này được đưa ra bởi v́ phần lớn - loại, đời người bị ám ảnh sợ sệt, bất an do nơi kinh tế bấp -bênh, tai- họa, chiến -tranh, bệnh tật nghèo khó.

Phần đông nhân -loại sống trong sợ sệt lo âu, và không thấy đời người có một ư nghĩa hay mục- đích ǵ cả. Thoreau nói rằng: Đa số người đời sống trong cơn tuyệt vọng âm thầm!

Đó là hai vấn đế khó khăn lớn nhất trong đời người.

Để đưa ra câu giải đáp cho vấn đề đó, chúng tôi xin rút trong kho tàng minh -triết thâm sâu cổ truyền tự muôn đời, gọi là giáo lư huyền- môn. Bởi v́, đó không phải là vấn đề mới lạ. Trí óc con người đă từng nhận xét, và t́m sự giải đáp cho những vấn đề đó kể từ khi họ bắt đầu có khả năng nhận xét và lư luận.

Đây là sự giải đáp của khoa huyền – môn.

Trước hết, nền Minh - triết cổ truyền dạy rằng có một sự công- bằng thiêng – liêng cai quản thế -gian, và đời người quả có một ư nghĩa và mục đích. Mặc dầu xét về bề ngoài dường như thấy sự bất công, nhưng sự thật một sự công -bằng hoàn toàn được bảo đảm cho mọi người do sự hành động của luật nhân - quả.

Mục đích của đời người là sự tiến- hóa của linh -hồn đến mức toàn thiện, đạt tới một trạng thái phát triển tâm linh hoàn toàn để trở nên một bậc siêu – nhân, một Đấng cao cả như Đức Phật.

Đó là cái lư do v́ sao chúng ta sinh ra ở đây, đó là cái mục đích giải thoát mà tất cả mọi người đều sẽ đi tới.

Chính v́ bởi lẽ đó mà chúng ta chịu đựng mọi điều đắng cay, đau khổ và kinh nghiệm sự vui sướng trong cuộc đời hằng ngày, và tất cả những thứ ấy đều là những bài học và phương tiện làm phát triển, nẫy nở những quyền năng thiêng- liêng ẩn tàng trong linh hồn con người và giúp cho con người tiến hóa. Đạo lư cổ truyền cho biết rằng cái mục đích toàn thiện và giải thoát để được bảo đảm chắc chắn cho tất cả mọi người. Trong tương lai, tất cả mọi người đều sẽ tiến hóa đến quả vị giải thoát,  mau hay chậm là tùy nơi công phu cố gắng của mỗi người. Nhưng bằng cách nào? Bằng cách nào người ta có đủ khả năng, thời giờ và cơ hội để tiến hóa từ trạng thái bất toàn và yếu kém hiện tại để đạt tới cái quả vị tối cao, vĩ đại như thế?

Giáo lư Huyền -môn dạy rằng, sự phát triển hoàn toàn về mặt thể chất, trí tuệ và tâm linh đó không thể nào đạt được trong một kiếp sống ngắn ngủi trong ṿng 60, 70 năm ở cơi trần. Nếu như người ta chỉ sống có một kiếp này mà thôi, th́ cái quả vị tối cao đó không thể nào thực hiện được và sẽ trở thành một điều tuyệt vọng. Con người sẽ chịu thất bại ngay từ lúc đầu, v́ không đủ thời giờ và và cơ hội để phát triển tất cả mọi khả năng, sửa chữa mọi khuyết điểm và đạt tới mục đích toàn thiện.

Trái lại theo định luật luân hồi, nếu con người tái sinh lại cơi trần từ kiếp này sang kiếp khác, mỗi kiếp lại tiến hóa thêm một ít th́ rốt cuộc mục đích ấy có thể thực hiện được. Nếu sau mỗi kiếp sống ở cơi trần, con người lại tiến thêm được vài bước, và trong những kiếp thật tốt lành y tiến càng nhiều bước hơn nữa đến mục đích cao cả, th́ sau nhiều kiếp như vậy y có thể đạt tới mức toàn thiện một cách chắc chắn. Nếu đời người được sắp đặt như thế, ta thấy rằng một diễn ảnh sáng lạng huy- hoàng mở rộng trước mắt ta, và tương lai con người thật rực rỡ tốt đẹp vô cùng.

 

 

II-HAI QUAN NIỆM TƯƠNG PHẢN VỀ THUYẾT LUÂN HỒI

1-Quan niệm Phản đối:

Từ ngh́n xưa, các dân tộc đông phương đă nh́n nhận thuyết luân hồi và coi đó là một điều tự nhiên, không ai c̣n nghi ngờ hay nghị luận ǵ nữa. Trái lại, ở các nước phương tây, người ta rất hoài nghi và đưa ra những lư lẽ để chống lại thuyết luân hồi, điều quan trọng nhất là SỰ KHÔNG NHỚ LẠI TIỀN KIẾP.

Nói về trí nhớ:

a/Trí nhớ LOẠI BỎ NHỮNG CHI TIẾT MÀ GIỮ LẠI PHẦN NGUYÊN TẮC ĐẠI CƯƠNG. Thí dụ:

Ta biết đi, biết đứng, biết đọc, biết viết, biết tính toán v.v... Nhưng ta không nhớ rơ đă học tập các sự việc đó một cách rơ ràng từng chi tiết từ thuở nhỏ.

b/Không nhớ sự việc quá khứ ngay trong kiếp này.

Thật vậy, ta không nhớ những chuyện đă xảy ra ngày giờ này 30 năm qua, hoặc của một năm qua, và thậm chí của 1 hoặc 2 tháng về trước, th́ làm sao ta có thể nhớ được những sự việc của những tiền kiếp đă xảy ra từ mấy trăm năm hoặc cả ngàn năm trong quá khứ, trong khi đó ta có một thể xác khác, với một bộ óc khác, một quốc tịch và chủng tộc khác, v.v... Vậy th́ sự không nhớ tiền kiếp là một việc tự nhiên, không có chi là lạ cả.

c/Sự lăng quên việc quá khứ. Tại sao ta không nhớ các kiếp trước?

àSự lăng quên các kiếp trước là điều kiện cần thiết cho mọi sự thử thách và mọi sự tiến bộ ở cơi trần. Cái dĩ văng của mỗi người đều có dấu vết những tội lỗi xấu xa và những điều hổ thẹn. trong cái lịch tŕnh tiến hóa dài đăng đẳng, trải qua hằng bao nhiêu kiếp luân hồi sanh tử, chúng ta chắc chắn là phải có tích trữ bao nhiêu sự lỗi lầm, bất công và độc ác trong quá khứ. Vả lại, cuộc đời hiện tại, đôi khi cũng đă quá nhọc nhằn đau khổ đối với chúng ta, nó sẽ c̣n nhọc nhằn đau khổ hơn biết bao nhiêu, nếu, ngoài sự khó khăn nghịch cảnh trong kiếp này, ta lại c̣n nhớ thêm cả những điều cay đắng, nhục nhă và khổ đau của kiếp trước.

àViệc nhớ lại dĩ văng của ḿnh ở các kiếp trước cũng có liên hệ đến cái dĩ văng của người khác nữa. Lẽ tất nhiên, những hành động bất công của họ đối với ta trong kiếp trước sẽ hiện rơ, và sự hận thù sẽ tiếp tục diễn ra đời đời không bao giời dứt. Mặt khác, những kẻ thù hay những nạn nhân của chúng ta trước kia sẽ nh́n ra chúng ta và sẽ theo đuổi chúng ta để rửa hận.

*Nếu không có sự lăng quên, nó có tác dụng như liều thuốc an thần, hàn gắn mọi vết thương đau khổ, th́ những kẻ tội lỗi, sát nhân, sa đọa của quá khứ sẽ bị vạch mặt điểm trán đời đời, không c̣n có cơ hội nào để sửa đởi, ăn năn hay cứu chuộc, họ sẻ bị xă hội trong kiếp này ruồng bỏ, tẩy chay và hất hủi một cách thậm tệ để rốt cuộc xô đẩy họ vào con đường ác! Hầu hết, chúng ta cần có sự tha thứ và lăng quên. Sự lăng quên nó che lấp những sai lầm và tội lỗi của quá khứ, sẽ xoa dịu tâm hồn của chúng ta và giúp cho sự ăn năn hối cải được nhẹ nhàng và ít đau khổ hơn. Bởi đó, sự quên lăng là cái ân huệ thiêng- liêng. Nó là một điều cần thiết cho sự tiến hóa và cho hạnh phúc của con người.

            2/Những sự việc chứng minh cho: thuyết luân hồi:

                        a/Những khả năng thiên phú, sự linh cảm, linh giác

                        *Đứa trẻ mơ mộng, nhạy cảm trước sự mỹ lệ, cái đẹp thiên nhiên có thể là thi sĩ, nghệ sĩ ở kiếp trước.

                        *Đứa trẻ có tâm hồn hướng về những vấn đề đạo đức tâm linh, có thể là vị giáo sĩ, mục sư kiếp trước,

                        *Bản năng đứa bé gái thích chơi búp bê và kư ức làm mẹ ở kiếp trước.

            b/Trẻ thần đồng:                                           

                        *Những thần đồng âm nhạc như SCHUBERT,MOZART,CHOPIN, v.v...là những nhạc sĩ tài ba từ nhiều kiếp trước, cho nên trong kiếp này biết đàn giỏi từ năm lên bảy tuổi ,thiên tài âm nhạc biểu lộ từ lúc c̣n nhỏ.

                        *Thiên tư về toán pháp, hoặc các nghành văn hóa, cũng có thể giải thích một cách tương tự bằng định luật luân hồi chuyển kiếp.

            c/Khuynh hướng thói xấu của những đứa trẻ sinh trong gia đ́nh đạo đức, du đăng, bụi đời, nghiện ma túy,

                        Khuynh hướng tốt lành, hướng thiện của những đứa trẻ sinh ra trong những gia đ́nh thấp kém, sa đọa, trụy lạc, đều là sự tiếp nối của những khuynh hướng thiện hay ác từ những kiếp trước chuyển qua kiếp này

                        d/Đàn bà nhiều nam tính, đàn ông nữ tính: là v́ có sự thay đổi về phái, trăi qua nhiều kiếp, kiếp làm đàn ông, kiếp làm đàn bà, để phát triển đồng đều để phát triển mọi khả năng về đức tính.

                        e/ Sợ sệt vô cớ:Kư ức mơ hồ về những biến cố rùng rợn đă qua. Có người sợ nước  v́ đă chết đuối ở kiếp trước, sợ lửa v́ đă chết cháy ở kiếp trước, Đó là v́ những ấn tượng kinh khiếp rùng rợn đă ăn sâu vào tiềm thức và biểu lộ ra trong kiếp này.

                        f/Thiện cảm hay ác cảm tự nhiên đối với một người lạ: Đó là bạn hay thù của ta ở kiếp trước.

Theo nguyên tắc tâm linh sự thù hận phải được xóa bỏ thay thế bằng t́nh thương . Thí dụ: hai anh em một nhà ghét bỏ nhau là những kẻ thù ở kiếp trước, nay gặp lại nhau để lấy t́nh thương xóa bỏ hận thù.

 

ÁP DỤNG THỰC TẾ   ĐỊNH - LUẬT LUÂN - HỒI

1/Không biết luật luân hồi, chỉ biết có một kiếp sống hiện tại, khiến cho người ta có khuynh hướng duy vật, ham muốn một đời sống sung măn, khoái lạc kẻo thời giờ qua mau không c̣n trở lại. Đó là cái quan niệm thông thường của người tây phương, từ đó nảy sinh ra thái độ ích kỷ, chỉ biết có ḿnh, từ đó, khiến cho người ta có hành động bất chính, hay tàn nhẫn độc ác mà không sợ hậu quả, những hành động giết người không gớm tay của bọn côn đồ, đạo tặc, của những phần tử bất hảo trong nhân loại đều do đó mà ra.

2/Chấp Nhận Cuộc Đời.

a/Vui vẽ đón nhận nghịch cảnh, v́ biết rằng mọi sự ở đời đều có tiền căn hậu kiếp, tiền nhân hậu quả, không có ǵ là ngẫu nhiên t́nh cờ

Hiểu luật luân hồi giúp cho người ta có một thái độ b́nh tĩnh hồn nhiên đối với mọi nghịch cảnh khi nó xảy đến: bịnh tật, nghèo khó, thất bại trong việc làm ăn, sinh ly tử biệt, tai nạn.v.v...

b/Thận trọng trong mọi tư tưởng và hành động, v́ biết rằng  chúng sẽ mang lại hậu quả trong một tương lai xa hay gần.

3/Người hiểu đạo không c̣n ganh tỵ đối với người khác khi họ có một địa vị cao sang, tốt đẹp hơn ḿnh, v́ hiểu rằng họ có bài học tiến hóa phải học trong cái địa vị đó, dẫu rằng tài năng họ c̣n thấp kém hơn ḿnh.

4/Luân hồi nhằm mục đích tiến hóa.

Người hiểu biết sẽ lái cuộc đời ḿnh theo chiều hướng tiến hóa thuận theo cơ trời. y sẽ không vơ vét thâu thập tiền của phi nghĩa, không xu nịnh quyền thế để bám víu lợi lộc trần gian. Tiền tài danh vọng đến với y, y không từ chối, nhưng y sẽ biết sử dụng tiền bạc, quyền thế, địa vị v́ mục đích phục vụ Thiên cơ, giúp đở nhân loại, chớ không v́ mục đích ích kỷ, thụ hưởng cá nhân.

Nhờ đó, y khỏi phí mất nhiều th́ giờ chạy theo cuộc đời phù phiếm sa hoa, chạy theo bă lợi danh, dùng th́ giờ quí báu đó để tu thân, tích đức, học đạo Thánh tâm linh, phù hợp với luật tiến hóa, để trong tương lai có thể trở thành một động lực vận chuyển bộ máy của Thiên -cơ, một khí cụ của Thiên Đ́nh để d́u dắt sự tiến hóa của nhân loại.

                                    VẤN ĐỀ GIÁO DỤC

Hiểu biết luật luân hồi giúp cho các giáo chức hành nghề một cách sáng suốt, b́nh tĩnh hơn trong việc dạy dỗ học sinh. Có những đứa trẻ thông minh, đĩnh ngộ, là nhờ chúng đă học giỏi từ nhiều kiếp trước. Nhà giáo có thể hướng dẫn chúng tùy theo khả năng, sở trường của mỗi học sinh để giúp cho chúng phát triển, tiến bộ mau chóng, đỡ mất thời giờ và khỏ bị những trở ngại vô ích.

Trái lại, những đứa học tṛ dốt nát, chậm hiểu, đó là v́ kiếp trước chúng chưa học. Người giáo viên hiểu đạo sẽ nhân từ khoan dung đối với chúng, và kiên nhẫn d́u dắt chúng đi từng bước với tấm ḷng vị tha, bác ái chớ không dùng h́nh phạt nghiêm khắc, đánh đập tàn nhẫn như đánh đập kẻ thù, như ta thường thấy.

Trong lớp dạy nhạc, vị nhạc sư hiểu đạo sẽ không c̣n mắng mỏ những đứa học tṛ dốt là có tai trâu, và không c̣n ư định biến đổi mỗi sinh viên học nhạc trở thành một nhạc sĩ tài ba ngay trong kiếp này!

                        VẤN ĐỀ GIAO TẾ NHÂN SỰ

Sự hiểu biết luân hồi nhân quả giúp cho con người có một nhân sinh quan rộng răi, quảng đại và nhờ đó có một thái độ b́nh tĩnh, khoan dung đối với mọi người, mọi vật, Sự b́nh tĩnh, ôn ḥa, hồn nhiên thư thái, lúc nào cũng ung dung tự tại là dấu hiệu của người Minh- triết.

Thuyết luân hồi giải thích vài vấn đề khó khăn bí hiểm trong đời người.

Trường hợp đứa trẻ sơ sinh chết yểu.

1/Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến sự luân hồi là luật nhân quả, như đă nói ở trên. Đứa trẻ chết yểu có thể do quả báo gây ra, v́ trong kiếp trước nó có thể đă vô t́nh gây tai nạn chết chóc cho người khác. Thí dụ như quăng cây diêm quẹt hay tàn thuốc trên đám cỏ khô, làm cháy nhà và chết người trong nhà. Linh hồn đó phải trả quả báo do sự bất cẩn cẩu thả của y(chớ không phải do tội cố sát) bằng cách đầu thai lấy một thể xác mới, rồi chết sớm. Sự chết yểu làm chậm trể sự tiến hóa của y trong ít lâu, đó là một h́nh thức trả quả bất cẩn, sơ xuất; nhưng sau khi chết yểu, y liền đầu thai trở lại ngay, thường là trong ṿng vài tháng.

2/Nhưng trong trường hợp đó, những làm cha mẹ y mới đau khổ nhiều. Quả báo của cha mẹ đứa nhỏ có thể là trong kiếp trước, họ là những người đỡ đầu cho một đứa trẻ mồ côi do bà con gởi gấm nuôi dùm, và họ đă tỏ ra tàn nhẫn độc ác với đứa trẻ, đến nỗi làm cho nó chết đi. Do luật nhân quả, họ phải trả quả báo độc ác tàn nhẫn đó bằng cách họ sanh ra một đứa con chết yểu, đứa con mà họ rất yêu thương quí mến, làm cho họ đau khổ và do đó họ mới học bài học phát triển t́nh thương, không những đối với con ḿnh, mà c̣n đối với tất cả đứa trẻ khác. Đứa trẻ chết yểu ngay sau khi sanh ra không bị mất ǵ, nó chỉ bị chậm trễ sự tiến hóa của nó trong ít lâu thôi; nhưng cha mẹ của nó bị đau khổ để trả quả báo độc ác. Quả báo này sẽ do các Đấng cầm cân nghiệp quả sắp đặt cho ăn khớp với quả báo của người vô t́nh giết người v́ sự bất cẩn sơ xuất kể trên, và như vậy, cả những người làm bậc cha mẹ và người bất cẩn đều có cơ hội trả quả của ḿnh bằng sự chết yểu của đứa trẻ.

 

 

 

HIỂU BIẾT LUÂN HỒI ĐỂ AN ỦI NHỮNG NGƯỜI ĐAU KHỔ

Một người tội phạm vừa được trả tự do sau một thời gian 20 năm bị tù oan ức. Y bị án giết người do những bằng chứng ngụy tạo; và mặc dầu y kêu oan trước ṭa, y vẫn bị ṭa kêu án tù chung thân. Hai mươi năm sau, người thủ phạm mới thú tội sát nhân trong cơn hấp hối trên giường bệnh, và người bị tù oan được thả tự do. Khi y được thả tự do, y là một người hoàn toàn phá sản về thể chất, trí năo và tinh thần.

Một vị mục - sư của một tôn - giáo nọ, vốn là một người giàu ḷng từ thiện, thường hoạt động trong giới các tù phạm được phóng thích, đến gặp người này để t́m cách giúp đỡ, an ũi, và để có dịp đem y trở về với tôn - giáo. Vị mục - sư cảm thấy sự bất lực của lời nói, người bèn đặt một bàn tay ưu ái lên vai của người tù nhân, khuyên y hăy cố gắng kiên nhẫn, hăy tin tưởng nơi Thiên -ư và ḷng nhân từ của Chúa. Ảnh hưởng của lời khuyên này đối với người tù nhân thật là đột ngột.

Y ngẩng mặt lên, Đôi mắt y phóng ra những tia lửa căm hờn, uất hận v́ bị đau khổ suốt 20 năm trong ngục tù, và với một giọng cay đắng, y hỏi vị Mục - sư:

Có phải chăng ông muốn nói rằng do Thiên -ư mà tôi bị đưa vào chốn lao tù? Nếu Chúa - Trời là Đấng công bằng, bác ái, tại sao Ngài không cứu tôi khỏi cái định mệnh bất công đó? Tôi đă làm ǵ để phải chịu sự đau khổ đó? Tôi là một người lương thiện, lo làm việc để đùm bọc gia đ́nh, vợ con. Vậy mà họ đẩy tôi vào chốn ngục tù v́ một tội ác mà tôi không có làm! Phải chăng đó là do ư muốn của Chúa-Trời chăng? Nó làm cho vợ con tôi phải sống vất vưởng, đói khát trong 20 năm tôi bị cầm tù? Vợ con tôi bây giờ ở đâu? Tôi không được tin tức ǵ của họ đă bao nhiêu năm rồi. Có thể rằng họ đang đói khổ, hoặc là đă chết, hoặc là... c̣n tệ hơn nữa. C̣n tôi, ông thấy chưa, một kẻ sa đọa bị mọi người ghê tởm và sống ngoài lề xă hội. và ông lại nói rằng đó là do ư muốn của Chúa-Trời! Ông hăy bước ra khỏi nơi đây! Tôi không cần biết đến Chúa-Trời của ông.!

Đến đây, vị Mục -sư cuối đầu lũi thũi đi ra mà ḷng buồn vô hạn. Mặc dầu ông ta có đầy thiện chí, muốn an ủi và giúp đỡ ngươi kia tận t́nh nhưng không làm sao được và đành phải thúc thủ vô sách, v́ ông ta không t́m ra được lư lẽ ǵ để thuyết phục người tù vô phước kia rằng có Chuá-Trời, Và Ngài vốn là từ bi, bác ái và rất mực công bằng.

Tiếc thay, ông ta đă bỏ lở mất một cơ hội hiếm có để giúp đở, phụng sự, để đem nguồn an ủi và gieo sự b́nh an vào tâm hồn một người đau khổ, chỉ v́ ông ta không biết định luật luân hồi.

Như thế chúng ta thấy sự hiểu biết về luật luân hồi có một tầm mức quan trọng đến bực nào.

Trong trường hợp của người tù bị hàm oan, nếu chúng ta ở vào vai tṛ của vị Mục-sư nọ, ta có thể nói với y như sau:

Hỡi người bạn đau khổ, anh đă chịu tù tội trong kiếp này, bởi v́ một tội ác mà anh gây ra để cho một người khác phải chịu tội thế cho anh ở một kiếp trước, Trong kiếp đó, anh đă cố ư để cho người vô tội kia chịu cảnh ngục tù để cho anh chạy trốn thoát, và bây giờ anh đă học bài học rằng điều mà anh đă làm là quấy và rất là bất công, bởi đó chính anh phải chịu số phận tương tự trong kiếp này.

Nếu không như vậy, làm sao anh có thể nh́n thấy điều lầm lạc của ḿnh, v́ trong kiếp đó anh nghĩ rằng anh khôn ngoan, khéo léo và lấy làm khoái trá mà đánh lừa được luật pháp và được thoát khỏi tội tù. Trong kiếp này, anh đă chịu nhiều đau khổ nhưng bây giờ th́ anh biết rằng trong vũ trụ của Đức Chúa Trời rất mực công bằng, không có một điều ác nào mà không trả quả báo. Từ nay, anh sẻ không gây nghiệp ác đối với một người nào như anh đă làm trong quá khứ, v́ chính anh đă là nạn nhân của sự độc ác tương tự và anh hăy nhận thức rằng đó là v́ anh đă vi phạm luật bác ái của Chúa trời. Tôi biết bài học này là quá đau đớn cho anh, và tôi biết anh đă chịu khổ là dường nào, nhưng thôi, anh hăy ngẩng mặt lên nh́n cuộc đời với một cách can đảm, v́ nay anh đă trả xong món nợ cũ của quá khứ, và bây giờ anh được tự do để tiến bước và làm lại cuộc đời, Tôi sẽ giúp đỡ anh mọi mặt, và với t́nh thương của Chúa, cuộc đời anh sẽ có hữu ích và anh sẽ t́m lại hạnh phúc. Tuy rằng kiếp hiện tại của anh bị chướng ngại nặng nề do sự lỗi lầm trong quá khứ, nhưng từ nay, những năm sắp đến và những kiếp tương lai sẽ nằm gọn trong bàn tay của anh để cho anh quyết định tùy ư muốn. thôi, hăy để cho cái dĩ văng trôi qua, anh hăy nh́n về tương lai, và anh sẽ thấy chớm nở một ngày sáng sủa, tươi đẹp hơn.

 

BẮT ĐẦU SỐNG MỘT CÁCH Ư THỨC VÀ TRỌN VẸN

Hiểu rỏ định luật luân hồi, chúng ta sẽ có được đức tính kiên nhẫn và sự bền bỉ trong mọi công tŕnh hoạt động của chúng ta ở đời. chúng ta phải hiểu rằng mọi sự cố gắng để thu thập một tài năng hay một đức tính mới, rốt cuộc sẽ đem lại kết quả trong một tương lai xa hay gần. Sự chết chỉ là một biến cố thoáng qua, nó không thể làm gián đoạn những công tŕnh của ta đă thực hiện, mà sẽ được nối tiếp trong một kiếp sau, đúng theo đường mà chúng ta đă vạch sẳn. Có người ôm ấp cái mộng theo đuổi một lư tưởng tốt đẹp, hoặc thực hiện một công tŕnh văn hóa, nghệ thuật, hay khoa học hữu ích, nhưng lại e ngại về việc làm quá sức của ḿnh. Họ nói: Thôi, có lẽ ta không nên bắt tay vào một công tŕnh dài hạn như thế. Ta không thể nào hoàn thành công việc ấy trong kiếp này!

Nhưng sự thật, th́ con người chỉ có một kiếp sống thật sự, ấy là kiếp sống của linh hồn, nó vốn trường niên bất tận, và không bị ảnh hưởng bởi biến cố nhất thời trong đời người, mà ta gọi là sự chết. Chúng ta hăy bắt đầu mọi công việc mà ta cảm thấy ưa thích trong kiếp này dẫu rằng vào lúc tuổi già, v́ mọi kết quả tốt lành, dẫu rằng ít oi nhỏ bé đến đâu, cũng sẽ được chuyển qua kiếp sau, khi khoác lấy một thể xác mới. Chừng đó, ta sẽ cảm thấy hứng thú để tiếp tục công việc ấy trong khi thể xác ta hăy c̣n trẻ tuổi, và ta sẽ có nhiều thời giờ để tiến xa trên con đường mà ta định theo đuổi từ kiếp trước.

Thí dụ: Bắt đầu tập vẽ, tập đờn, tập viết văn, hay tập diễn thuyết chẳng hạn khi tuổi đă về chiều.

Nếu ta để tŕ hoăn công việc ấy trong kiếp này th́ thời giờ thắm thoắt, tuổi già sẽ đến mau trước khi chúng ta có thời giờ bắt tay vào việc để đặt cái nền tảng chắc chắn ,ngơ hầu có thể tiếp tục công việc ấy trong tương lai. Một thí dụ: trong kiếp này đến 90 tuổi ta mới tiếp xúc với đạo lư( hay giáo lư Huyền môn), và chúng ta ngậm ngùi luyến tiếc rằng chúng ta gặp được đạo lư quá trễ, chớ nếu biết đạo sớm hơn, th́ chúng ta đở khỏi mất nhiều thời giờ lăn lóc trong cuộc đời vật chất thấp hèn, xa hoa phù phiếm. Nhưng chưa phải là quá trễ, và dầu sao th́ trễ c̣n hơn không, nhưng nếu chúng ta muốn gặp đạo sớm trong kiếp sau, trong khi ta c̣n trẻ tuổi, th́ mặc dầu cuộc đời ta sắp tàn, ta cũng cứ lao ḿnh vào công việc phụng sự đạo lư ngay từ bây giờ với tất cả nghị lực c̣n sót lại của ḿnh. Ngoài ra, c̣n có sự ích lợi lớn lao mà ta sẽ gặt hái được trên cơi Hạ Thiên sau khi ta chết, v́ trong trạng thái sinh hoạt ở cơi Hạ Thiên, linh hồn ta sẽ nghiền ngẫm lại mọi công tŕnh hữu ích mà ta đă làm trong kiếp này, để cho những kết quả tốt lành đó sẽ biến thành những khả năng rất thuận lợi cho ta trong kiếp sau.

Như vậy, không có một cố gắng nào là vô ích, và không có ǵ mất đi đâu, v́ tất cả mọi công tŕnh mà ta bắt đầu trong lúc hiện tại sẻ nối tiếp trong những kiếp sau để cứu cánh sẽ hoàn thành một cách vẻ vang và đưa ta lên nấc thang danh vọng tột đỉnh hoặc quả vị tối cao.

                        Vấn đề phụng sự

Những cơ hội phụng sự nếu biết khai thác và tận dụng trong một kiếp, sẽ đem kết quả là trở thành những cơ hội phụng sự lớn lao hơn trong một kiếp sau. Nếu ta làm tṛn bổn phận, Thiên trách của ta trong kiếp này, luật tiến hóa và luật nhân quả sẽ đưa đến cho ta những hoàn cảnh tốt đẹp và những chức vụ cao cả hơn trong kiếp sau. Nếu ta không làm đúng Thiên Trách, hoặc bỏ lỡ những cơ hội phụng sự, ta sẽ bỏ mất những cơ hội tốt mà ta có thể không bao giờ gặp lại được. V́ đó, bước đường tiến hóa của ta sẽ bị ngăn trở rất nhiều. theo quan niệm đạo lư, cái nghiệp tốt của một kiếp sống ở cơi trần không phải là thâu thập tiền tài danh vọng, được giàu sang quyền quí, thậm chí không phải là có khả năng trí thức siêu việt, thông minh tài trí hơn người, mà là có cơ hội phụng sự mỗi lúc càng dồi dào, rộng lớn hơn. Nhờ đó con người trở thành một khí cụ hữu hiệu hơn của các Đấng Chơn Sư cao cả trong công việc phụng sự nhân loại, cứu độ trần gian. Người nào biết tận dụng tất cả mọi khả năng của ḿnh để giúp đỡ kẽ khác với tấm ḷng vị tha, vô kỷ, chắc chắn sẽ có nhiều khả năng rộng lớn hơn, và sẽ được giao phó một công việc to tát hơn, một sứ mạng cao cả hơn trong kiếp sau.

Trong kinh thánh, Đức Jesus có nói với một vài môn đồ: con đă trung -kiên phụng -sự trong một vài việc nhỏ, ta sẽ đem đến cho con những trọng trách cao cả rộng lớn hơn, để con có thể bước vào cơi phúc lạc của Chúa Trời.

Cơi phúc lạc của Chúa Trời, tức là niềm vui của Thượng Đế, vốn là ở nơi công việc sáng tạo của Ngài. Đó là bởi v́ Thượng Đế có một kế hoạch vĩ đại, gọi là cơ Trời, và cơ đó chính là cơ Tiến hóa vậy.

Ngài đă lao ḿnh tuyệt đối vào cái cơ Tiến hóa vĩ đại của muôn loài và đó là cái niềm vui bất tận của Thượng Đế, cái niềm phúc lạc khi Ngài thực hiện cơ Tiến hóa và ban răi t́nh bác ái vô biên của Ngài trong vũ trụ càn khôn.

Vậy người nào có ḷng mong ước muốn bước vào cơi phúc lạc vô biên của Thượng Đế, nghĩa là muốn tham dự vào công việc xây dựng và bồi đắp cho cái cơ Tiến hóa và chia sẻ cái niềm phúc lạc của công việc ấy, hăy nên tận dụng tất cả mọi khả năng của ḿnh đang có để góp phần xây dựng vào cái công việc phụng sự Thiên cơ.

Đó là bởi v́: Hiểu biết Thiên cơ và hợp tác với Thiên cơ, tức là bí quyết của Hạnh Phúc.

 

 

 

Chương hai

LUẬT NHÂN QUẢ

Quan sát về đời người ta thấy có:

-Sự chênh lệch, bất công, bất b́nh đẳng giữa loài người trên thế gian;

-Kẻ giàu, người nghèo, kẽ sang người hèn, kẻ thân h́nh khơe mạnh tốt đẹp, người tàn tật yếu đuối.

-Kẻ giàu sang mà độc ác bất nhân, trái lại người hiền lương lại chịu bần cùng, khốn khó, tai nạn, khổ đau.

-Có người sống cuộc đời thong thả sung sướng, mọi sự đều dễ dàng tốt đẹp, trái lại có kẻ lại gian truân vất vả, ch́m nổi ba đào.

-Người sống lâu trăm tuổi kẻ chết yểu chết non.

Những sự chênh lệch trên đây là những điều bí hiểm của đời người, mà xưa nay các Triết gia, Đạo gia đông tây vẫn từng cố gắng t́m cách giải đáp.

Có hai giả thuyết được đưa ra cho rằng sự chênh lệch ấy là do:

1-Ư muốn của Thượng Đế;

2-Sự ngẫu nhiên t́nh cờ.

Nhưng rốt cuộc vẫn không làm thơa măn được lư trí, v́ theo hai thuyết ấy th́ đời người bị chi phối bởi những sức mạnh bên ngoài mà con người không làm sao kiểm soát được.

Các Tôn – giáo có dạy về luật Nhân quả.

1/Cổ ngữ Trung hoa nói:

Thiện ác đáo đầu chung hữu báo

Cao phi viễn tẩu dă nan toàn!.

2/Phật – giáo nói:

Nghiệp báo bám chặt lấy con người, như vết bánh xe bám sát chiếc xe ḅ trên đường lộ!.

3/Thánh kinh Gia – tô giáo nói:

Ngươi chớ lầm lạc: không ai có thể qua mặt được Chúa Trời, v́ ai gieo giống nào sẽ gặt giống nấy!.

4/Kinh sám hối Cao – Đài giáo dạy:

Người làm phước có khi mắc nạn,

Kẻ lăng loàn đặng mạng giàu sang,

Ấy là nợ trước c̣n mang

Duyên kia chưa dứt c̣n đang thưởng đền!.

Quan niệm khoa học:

1-Định lư của Newton:

Mỗi hành động đều gây nên một sức phản ứng với một sức mạnh tương đương và ngược chiều.

Khoa học cho rằng toàn thể vũ trụ vật chất này là sự kết tinh của sức mạnh hay tinh lực, cái tinh lực hay sức mạnh đó luôn luôn vận chuyển, biến hóa trong cơi Thiên nhiên, nhưng vẫn luôn luôn tồn tại ở một dung lượng nhất định bất tăng bất giảm,(không suy giảm, không mất mát đi đâu).

Luật Nhân quả(phạn ngữ: KARMA) có nghĩa là hành động.

Khi ta hành-động tức là ta làm vận chuyển cái sức mạnh thiên nhiên nó làm đảo lộn cái trật – tự, thăng bằng của vũ- trụ. Vũ-trụ phải lập lại cái thăng bằng đó bằng cách phản ứng vào cái nguyên nhân đă gây nên sự đảo lộn nói trên, tức là phản ứng vào con người của ta.

Tùy theo cái hành động của ta tốt hay xấu, mà luật Nhân Qủa báo ứng vào thân ta dưới h́nh thức sướng hay khổ. Đó là nói về sự phản ứng của Luât Nhân Qủa trên địa hạt vật chất, hồng trần, có thể cảm xúc được bằng giác quan của thể xác, chẳng hạn như để tay vào lửa th́ nóng, rờ cục nước đá th́ lạnh. Điều này, khoa học đă thực nghiệm và biết rơ.

QUAN NIỆM CỦA HUYỀN – MÔN

Khoa Huyền- Môn c̣n nhận xét sự hành động và phản ứng của luật Nhân Qủa trên một phạm vi rộng lớn bao la hơn. Cái trật tự, thăng- bằng của vũ- trụ luôn luôn bị đảo lộn do nhiều động lực trong Ba cơi (Phật – Giáo gọi là Tam Giới: Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới), mà Khoa Huyền-Môn gọi là cơi Trần, cơi Trung giới và cơi Thượng giới.

Những động lực ấy là:

a/ Những hoạt - động thể chất thuộc về cơi Hạ- giới Hồng- trần;

b/ Những cảm - xúc, thuộc về cơi Trung-giới;

c/ Những tư - tưởng, thuộc về cơi Thượng-giới.

Đó là những sức mạnh tác động thường xuyên trong ba cơi, với một cường độ nặng nhẹ khác nhau tùy nơi tính chất thanh trọc, cao thấp của mỗi cơi. Chúng có thể được thẩm định giá trị bằng những con số, tiêu biểu cho cái mức độ mạnh yếu, nặng nhẹ của mỗi thứ quả báo tương đương. Đó là những tỷ số 1, 5, 25, và 125 ghi trong bản sơ đồ dưới đây.

Trong đời sống hằng ngày, ta luôn luôn làm chuyển động cái sức mạnh của Trời-Đất trong ba cơi trên:

Những hành động bằng xác thân của ta vận chuyển sức mạnh vật- chất ở cơi trần, với tỷ lệ 1 cho quả báo xác thân.;

Những cảm xúc, dục vọng bằng thể vía làm vận chuyển sức mạnh ở cơi Trung- giới, với tỷ lệ 5 cho quả báo trên địa hạt t́nh cảm.;

Những tư tưởng bằng thể trí làm vận chuyển sức mạnh ở cơi Thượng -giới với tỷ lệ 25 cho quả báo trên địa hạt tư duy, và tỷ lệ 125 cho quả báo tốt lành trên điạ hạt tâm linh.

Nói chung, những hành động, cảm xúc, tư tưởng, hoài bảo, nguyện vọng của ta làm rung chuyển những sức mạnh thiên nhiên trong Tam- giới, và tùy theo cách mà ta dùng những sức mạnh đó để giúp đỡ hay làm ngăn trở sự tiến hóa của kẻ khác, mà chúng ta gây nên nghiệp tốt hay nghiệp xấu. Và tạo hóa phải lập lại cái thế quân b́nh của Trời Đất tùy theo sự hành động của ta trong ba cơi, bằng cách đem đến cho ta những báo ứng tương đương.

CƠI-GIỚI

NHÂN

QUẢ

BIỂU TƯỢNG

Tỷ SỐ

THƯỢNG-THIÊN

Hoài bảo,

Nguyện-vọng

Lư-tưởng

Ngôi-sao

125

HẠ-THIÊN

Tư-Tưởng

Vị-Tha : Thông cảm hiểu biết

Tư-Tưởng

Ích-kỷ : Chỉ-trích,

Chê-bai

Cảm-hứng

 

 

     

 

Ưu-phiền

Ṿng tṛn trắng

 

 

Ṿng tṛn đen

25

 

 

25

TRUNG-GIỚI

Thiện-cảm

Ác-cảm

Vui-vẻ

Buồn-rầu

Tam-giác trắng

Tam-giác đen

5

5

CƠI TRẦN

Việc-lành

Việc-dữ

Sung-sướng

Đau-khổ

H́nh chữ nhật trắng

H́nh chữ nhât đen

1

1

 

LUẬT NHÂN QUẢ TÁC ĐỘNG TRONG TAM GIỚI.

Mỗi sức mạnh vận chuyển đều mang lại kết quả tương đương ở mỗi cơi. Thí dụ:

1-Hai người cùng bố thí tiền gạo cho kẻ nghèo. Nhưng với những tâm trạng khác nhau:

-Một người cho với tấm ḷng thương xót, người kia cho để đuổi ăn xin đi nơi khác đừng làm bận rộn. Do tác động của luật nhân quả, cả hai người đều gặp được quả lành về vật chất(với tỷ số 1), nhưng người thứ nhất sẽ được sự vui về t́nh cảm với cường độ gấp 5 lần nhiều hơn, do tiêu biểu của tỷ số 5; c̣n người thứ hai không có ǵ.

2-Đứng trước một người đau khổ, ta có thể cho y một lời an ủi với tấm ḷng thương, chớ không có tiền bạc để cho y. Kết quả là ta sẽ có được một sự vui về t́nh cảm(tỷ số 5), nhưng không có sự sung sướng vật chất.

3-Hành động tốt với những hậu ư phức tạp: tốt, xấu hay lẫn lộn có xấu có tốt. Thí dụ: Ba người bỏ tiền ra làm việc từ thiện(cất trường học, nhà thương, hoặc công viên v́ tiện ích công cộng); với tâm trạng khác nhau:

a/ Thiện chí giúp đời;

b/ Ư định khoe khoang, để mong được ban thưởng tước vị, mề đai;

c/ Phức tạp cả tốt lẫn xấu, vừa giúp đời vừa ích kỷ, mong hưởng thụ kết quả, ham danh v.v...

Kết quả là ba người đều được hưởng một quả báo tốt lành về vật chất(với tỷ số 1), hoặc ở kiếp này hoặc ở kiếp sau, v́ cả ba người đều gieo cái nhân lành về vật chất như nhau là đem lại sự công ích cho công chúng, bất luận tâm trạng hay ư định của họ tốt hay xấu. Nhưng cái động lực bên trong của mỗi người sẽ ảnh hưởng đến tánh t́nh của họ một cách khác nhau, và đem cho họ sự vui vẻ thoải mái hay sự lo âu, bất măn về tinh thần.

Người A) –Được thêm một nguồn cảm hứng dồi dào, một sự vui về tinh thần, và hưởng hạnh phúc do cái hoàn cảnh sung túc về vật chất của y đưa đến với cường độ 25 lân nhiều hơn.

Người B) –Tự tạo cho y một tánh t́nh xấu xa, ích kỷ,hèn kém ở kiếp sau, và tuy được giàu có sung măn về vật chất, nhưng y vẫn bất măn ưu phiền và thiếu hạnh phúc( cường độ bất măn mạnh gấp 25 lần, tuy lên xe xuống ngựa, nhưng trong ḷng vẫn xốn xang phiền muộn).

Người C) –Gặt hái kết quả tương đương, lẫn lộn có tốt có xấu(quả báo với tỷ số 25 tùy mỗi trường hợp).

4-Trường hợp người có hoài bảo tâm linh: người có nguyện vọng giúp đời, phụng sự nhân loại, và thể hiện cái nguyện vọng của ḿnh bằng những hành động vị tha, bác ái, làm những công quả từ thiện để đem lại ấm no, hạnh phúc cho nhân sinh, sẽ tạo nên một quả báo lư tưởng trên địa hạt tâm linh, với một cường độ mạnh mẽ gấp 125 lần mỗi hành động trên địa hạt vật chất hồng trần. đó là trường hợp của những bậc chân tu, thánh thiện, làm mọi việc lành, dứt mọi việc ác, luôn luôn phóng tư tưởng lành, ban răi khắp chúng sinh với một lời đại nguyện cứu độ trần gian trong kiếp này và mọi kiếp lai sinh. Những vị ấy có thể là những tu sĩ hành khất, không nhà cửa, gia đ́nh, đi ta bà thế gian(như các tu sĩ bên Ấn- Độ) nhưng gương mặt luôn luôn toát ra một niềm an lạc tuyệt vời khôn tả. Đó là v́ họ gặt hái những quả báo tâm linh rất tốt lành với tỷ số 125 nói trên.

Có ba loại nghiệp quả:

Nếu ta quan sát cuộc đời chung quanh ta, th́ thấy đời người phần nhiều những quả xấu nhiều hơn quả tốt, nghĩa là ta thấy sự cực- khổ vất vả, buồn rầu nhiều hơn là sự dễ chịu, thoải mái và vui vẻ.

Trong giai đoạn tiến hóa của nhân loại hiện thời, mỗi người trong chúng ta tích lũy những nghiệp xấu nhiều hơn nghiệp tốt, chúng ta tạo những nguyên nhân gây sự đau khổ nhiều hơn những nguyên nhân gây sự sung sướng; bởi v́ trong những kiếp trước chúng ta đă sống cuộc đời ích kỷ hại nhân hơn là sống cuộc đời tốt lành, nhân đức.

Nếu trong kiếp này tất cả nghiệp xấu của quá khứ đều đổ dồn vào thân ta để cho ta phải trả cho hết, th́ cuộc đời hiện tại sẽ gồm bao nhiêu sự buồn thảm đau đớn mà ta sẽ không có đủ sức để chịu đựng nổi, và sẽ bị đè bẹp bởi những quả báo quá nặng nề.

Để cho con người có thể tiếp tục tranh đấu trên trường đời và có triển vọng cải tiến cuộc đời của họ, Tạo hóa có cách điều chỉnh Luật nhân quả cho mỗi linh hồn khi họ đầu thai xuống cơi trần.

Nghiệp quả có ba thứ:

1 Cộng nghiệp(Phạn ngữ: Sanchita): gồm những nghiệp quá tích tụ từ nhiều kiếp. Trong nhiều kiếp quá khứ kể từ khi mới chuyển từ kiếp thú sang làm người, con người hăy c̣n nhiều thú tánh nên tự nhiên là tạo nghiệp xấu nhiều hơn tốt. Bởi đó, cái cộng nghiệp của mỗi người đều rất nặng nề do những hậu quả xấu dồn dập từ nhiều kiếp kể từ khi vô thủy đến nay. Để điều chỉnh cái khối cộng nghiệp này, Tạo Hóa định cho con người chỉ phải trả có một phần nghiệp quả trong mỗi kiếp đầu thai, kỳ dư c̣n giữ lại trong khối cộng nghiệp của họ để trả lần lần trong những kiếp sau. V́ nếu không như vậy, con người phải trả những nghiệp quả nặng nề quá sức ḿnh, ắt là không thể chịu nổi, có khi phải chết toi mạng.

2 Định nghiệp(Phạn ngữ: Prarabda) Tức là phần nghiệp quả mà Tạo Hóa đă định cho mỗi người phải trả trong một kiếp. Đó tức là “quả mùi”, sẵn sàng báo ứng và không thể tránh khỏi, mà ta phải trả cho hết trong kiếp này.

3 Tân nghiệp(Phạn ngữ: Agami) Tức là nghiệp quả mới mà ta đang tạo nên mỗi ngày trong cuộc đời hiện tại. Trong khi ta đang lo trả định nghiệp chưa xong, th́ hằng ngày ta lại gây nhân tạo quả thêm nữa. Những nghiệp mới này (gọi là Tân nghiệp) sẽ cộng chung lại với khối cộng nghiệp để cho ta phải trả trong những kiếp tương lai.

Vấn đề sửa đổi nghiệp qủa. Quyền Tự Do Hành Động. (Libre Arbitre)

Tạo hóa phú cho con người quyền Tự Do Hành Động để tự ḿnh cải tiến, sửa đổi số mạng tương lai của ḿnh cho dở hóa ra hay, xấu trở nên được tốt. Chính sự tự do hành động sẽ định đoạt cái Tân Nghiệp của ta về sau này.

Định nghiệp cũng có 3 thứ:

Nghiệp nặng: (bất đắc ḱ tử, tử v́ đao kiếm...) Nhất định phải trả, không thể thay đổi hay tránh được.

Nghiệp nhẹ: (thị phi khẩu thiệt, khắc khẩu, xung khắc trong gia đ́nh, bị ngờ vực, vu khống, dèn xiểm, vv...) Có thể tránh được bằng một sự nhường nhịn, nhẫn nhục với một tinh thần thông cảm, và sự ban bố t́nh thương.

Nghiệp lưng chừng: (không nặng không nhẹ) Chẳng hạn như sinh ly tử biệt, gia đ́nh ly tán, tổn thất tiền tài, tán gia bại sản, sụp đổ cơ nghiệp, tai nạn thương tật, yếu vong...

Nếu biết tu thân tích đức, lấy ân báo oán, làm việc từ - thiện, hy sinh tiền tài công khó để cố gắng giúp đời, có thể tránh được nếu như không hoàn toàn th́ cũng một phần lớn, và làm cho quả báo được nhẹ bớt đi.

            Ba thứ quả báo này ví như sức mạnh của trái phá, hay trái túc cầu, hay của quả bong bóng của con nít chơi.

Đạn trái phá (quả nặng) không thể đỡ được.

Qủa túc cầu (quả vừa hơi nặng) có thể dùng sức đỡ cho nó vẹt đi nơi khác.

Trái bong bóng (quả nhẹ) có thể đỡ được dễ dàng.

ĐIỀU CHỈNH NGHIỆP QUẢ

Cộng nghiệp

Định nghiệp

Tân nghiệp

Cộng nghiệp:

Nghiệp quả con người tạo ra từ nhiều kiếp không phải là một điều giản dị, mà là vô cùng phức tạp.

Có những thứ nghiệp quả nặng nề và phức tạp đến nỗi ta không thể trả dứt trong một kiếp, với một thân xác nhất định, mà cần phải trả trong nhiều kiếp mới dứt.

Ta có những duyên nghiệp nợ nần đối với những linh hồn khác nhau và tất cả những linh hồn này sẽ không đầu thai cùng một lúc ở một địa phương hay một quốc gia. Có thứ nghiệp quả phải trả trong một quốc gia nhất định, hay ở một vị trí xă hội đặc biệt, trong khi đó th́ ta lại c̣n có những nghiệp quả khác cần phải trả ở vào một quốc gia khác, hay ở vào một hoàn cảnh khác.

Thí dụ:Có người đầu thai qua bên Tàu, bên Ấn Độ, hay bên Âu, c̣n ḿnh đầu thai ở Việt Nam.

II. ĐỊNH NGHIỆP:

            V́ lẽ đó, chỉ có một phần của khối Cộng -Nghiệp được phân định cho ta phải trả trong một kiếp. Mà v́ lẽ nghiệp quả báo ứng thật vô cùng phức tạp, nên cần có sự giám sát, điều khiển của những Đấng cao cả có một sự Minh triết vô biên, một khối ốc thông minh sáng suốt tuyệt vời. Đó là những Đấng cầm cân nghiệp quả, hay cầm cân tội phước, sách Tàu gọi là những Đấng Nam Tàu Bắc Đẩu, có quả vị rất cao đến bậc Bồ - Tát.

           1.Dưới sự d́u dắt, điều khiển của các Đấng Cầm Cân Nghiệp Qủa (Lipika), một linh hồn được dẫn dắt cho đầu thai vào một chủng tộc hay giống dân nhất định, một quốc gia, một gia đ́nh nào đó, với một xác thân như thế nào để thuận tiện cho y trả dứt một số nghiệp quả nhất định trong một kiếp lai sinh.

            Những nghiệp quả đó sẽ quy định thời gian của kiếp sống mới là bao nhiêu năm, đem đến cho y một cái thể xác mới với những đặc tính, những quyền năng và khuyết điểm như thế nào. (Thể xác là một khí cụ trả quả trực tiếp và hiệu quả nhất).

            Thí dụ: Thể xác mạnh khỏe, tốt lành, hay bệnh tật yếu đuối, hoặc mang phế tật như đui què, câm điếc, liệt bại, hoặc mắc bệnh nan y vv... với những đặc tính như thông minh hay ngu đần vv...

2.Các ĐẤNG CẦM CÂN NGHIỆP QUẢ cũng xếp đặt cho ta gặp gỡ những linh hồn mà ta đă có kết nạp nhân duyên cùng nợ nần ở kiếp trước như thân bằng, quyến thuộc, vợ chồng, bè bạn và kẻ thù, đặt để ta vào những hoàn cảnh xă hội tương xứng, với những ưu điểm và khuyết điểm của nó, và đem đến cho ta những điều vui sướng hay đau khổ, thành công hay thất bại, may mắn hay rủi ro trong đời sống hằng ngày.

Tất cả những thứ đó gồm lại thành cái định nghiệp, tức cái phần nghiệp quả mà ta phải trả dứt trong kiếp hiện tại. mặc dầu ta bị định nghiệp chi phối, nhưng tạo hóa cũng phú cho ta cái ư chí tự do, hay cái quyền tự do hành động để tự ḿnh cải tiến lấy bản thân ḿnh và thay đổi được phần nào cái số phận an bài, cho dở hóa ra hay xấu trở nên tốt được.

 

III- CÔNG VIỆC CỦA NHỮNG ĐẤNG CẦM CÂN NGHIỆP QUẢ

Đó là những Đấng Cao Cả giữ ǵn những kư ức về nghiệp quả của nhân loại, có nhiệm vụ d́u dắt, và điều chỉnh sự hành động phức tạp của Luật Nhân Quả.

Những Đấng Cầm Cân Nghiệp Quả biết rơ nghiệp quả của mỗi người, và với sự sáng suốt vô biên, các Ngài chọn lựa và phối hợp những nghiệp quả cần thiết để gồm thành cái định nghiệp của mỗi kiếp sống của linh hồn ở cơi trần.

Ư Niệm :

Các Ngài đă quan niệm sẵn trong trí rằng linh hồn sắp đầu thai phải có một thể xác như thế nào để có thể biểu lộ những khă năng cùng những sở trường, sở đoản của nó.

Sự hợp tác của các Thiên Thần(Chư Thiên)

Ư niệm đó mới được đưa ra cho các Đấng Đại Thiên Thần, những vị này mới phát họa ra một cái kiểu mẫu của cái xác thân đó với đầy đủ mọi chi tiết, như khỏe mạnh hay ốm yếu, đẹp đẽ, khôi ngô hay thô kệch xấu xí, thanh sắc mỹ lệ, h́nh thù cân đối hoặc mang lấy những thương tàn phế tật...

3- Kế đó mới giao cho một vị tiểu Thiên Thần dưới hệ thống chỉ huy của các Ngài, để làm một cái khuôn giống y như cái kiểu mẫu nói trên. Cái khuôn ấy tức là cái phách, dùng làm khuôn mẫu cho sự tượng h́nh của bào thai. Xác thân của đứa hài nhi sẽ do khí huyết của người mẹ nung -đúc nên và chịu ảnh hưởng của sự di truyền về phần thể xác.

Cái phách làm bằng chất dĩ thái hồng trần( do 4 lớp dĩ thái của cơi trần hạ giới) mà vị tiểu Thiên Thần chọn lọc để làm cái khuôn rồi mới đem gắn vào bụng người mẹ, trước khi bào thai tượng h́nh. Lần lần bào thai mới lớn lên theo cái khuôn đă đúc sẵn để tạo nên xác thân của đứa trẻ( điều này là phần huyền bí vô h́nh của sự sinh sản, mà khoa học không hề biết chi cả. Nó cũng cho ta thấy có sự hợp tác của các vị Thiên Thần trong vấn đề sinh sản).

4- Đồng thời các vị Thiên Thần cũng chọn lựa một giống dân, một quốc gia và một gia đ́nh nào với những điều kiện thích nghi để tạo nên một hoàn cảnh tương xứng cho linh hồn sắp đầu thai trong giai đoạn đầu của kiếp sống ở dưới trần.

 

ĐỊNH HƯỚNG của sự DI -TRUYỀN

Huyết thống di truyền của cha mẹ sẽ tạo nên những yếu – tố đặc biệt cho xác thân, như một khối óc thông minh hay ngu đần, cơ cấu tổ- chức thần kinh lành mạnh hay suy yếu, những bệnh tật hay những khả năng bẩm chất di truyền. Một linh hồn đă phát triển được ở những tiền kiếp những đặc tính về trí huệ hay tâm linh cần được biểu lộ qua một thể xác đặc biệt, sẽ được dẫn dắt cho đầu thai vào một gia đ́nh với một gịng huyết thống di truyền, thích nghi với những đức tính đó.

1-Thiên Tài về Âm nhạc

 Một linh hồn với những khả năng đặc biệt về âm nhạc sẽ đầu thai vào một gia đ́nh có truyền thống về âm nhạc. Gịng máu di truyền của gia đ́nh này sẽ tạo cho y một cái thể phách và một thể xác đặc biệt thích nghi cho sự nhu cầu về âm nhạc.

Một nhạc sĩ sẽ cần dùng một thần kinh hệ rất tinh vi, một sự năy nở đặc biệt của những tế bào trong lỗ tai để có một thính giác vô cùng bén nhạy,với những đầu ngón tay đặc biệt vô cùng nhạy cảm để tác động lên các phím đàn v.v...

2-Thiên Tài về Toán Học.

Nếu linh hồn sắp đầu thai trước kia đă từng là nhà toán học lỗi lạc, và sẽ trở nên một kỳ tài về môn toán pháp trong kiếp này, th́ những yếu tố tạo nên bộ óc thông minh về toán học sẽ xuất hiện trong khi cái bào thai tượng h́nh trong bụng mẹ.

3-Linh Hồn Sa Đọa.

Những người có tâm hồn sa đọa, với nhiều dục vọng thấp hèn trong dĩ văng chẳng hạn như say sưa rượu chè, sẽ được dắt dẫn cho đầu thai vào một gia đ́nh trụy lạc, bê tha, với những cha mẹ say sưa, có cái xác thân nặng nề ô trọc. Sự di truyền huyết thống của gia đ́nh này sẽ tạo cho linh hồn mới đầu thai một thể xác bệnh tật, với bộ thần kinh hệ suy yếu, do sự say sưa chè chén của cha mẹ truyền lại cho y.

4-Thương Tàn Phế Tật.

Nếu một linh hồn sắp đầu thai cần phải trải qua cái kinh nghiệm về sự tật nguyền khốn khó, để làm thức động cái sức mạnh tinh thần bên trong, hoặc chịu đau khổ để tinh luyện cái bản chất của ḿnh, th́ những yếu tố thích nghi sẽ xuất hiện, để đem đến cho y một thể xác yếu đuối, bệnh hoạn, hoặc đui què, câm điếc, hay mang những phế tật nọ kia (do các vị Thiên Thần tạo nên cái phách xiêu vẹo, méo mó, lệch lạc, làm cái khuôn đúc sẳn).

Thí dụ: trường hợp bà Henlen Keller, một phụ nữ Mỹ, vừa mù, vừa câm lại vừa điếc, nhưng đă đậu bằng Tiến Sĩ và làm chủ tịch hội người mù trên thế giới.

5-Kết luận.

Tùy theo công việc mà linh hồn phải làm trên thế gian, mà các Đấng Cầm Cân Nghiệp Quả chọn lựa những yếu tố thích nghi để tạo nên cái thể xác:

a/Sự can đảm, dũng cảm, mạo hiểm cho những nhà thám hiểm khai phá những vùng đất mới;

b/Năng khiếu linh cảm, trực giác thông linh cho những nhà bói toán, đồng cốt, tiên tri, hoặc những người có thể giúp đỡ nhân loại bằng sự cảm thông với cơi giới siêu h́nh;

c/Một yếu tố chướng ngại cho những người sẽ tiến hóa bằng sự đau khổ, bệnh tật.

Với một sự Minh triết và ḷng Bác Ái vô biên, nhưng không hề suy chuyển một đường tơ kẽ tóc đối với luật công bằng, Các Ngài tạo cho một linh hồn một cái xác thân tốt đẹp mạnh khỏe, và cho một linh hồn khác một cái thể xác yếu đuối kém hèn, tùy theo nghiệp duyên của họ.

Các Đấng Cầm Cân Nghiệp Quả không thưởng cũng không phạt, các Ngài chỉ điều chỉnh những nghiệp quả quá khứ của mỗi người, và sắp đặt phân phối lại khối định mệnh cho mỗi kiếp để giúp cho mỗi người tiến thêm một bước trên con đường tiến hóa.

Những ǵ các Ngài ban cho mỗi người, vui buồn, may rủi, sướng khổ, lành dữ, Các Ngài không có dụng ư thưởng phạt ai cả, mà chỉ d́u dắt chúng ta tiến gần thêm một bước đến cái mục đích Toàn -Thiện.

IV-Vấn đề Định mệnh và tự do hành động.

Sự hiểu biết sai lầm và nông cạn về luật nhân quả có ảnh hưởng tai hại, làm cho người ta chịu bó tay trước số mạng và nói: ‘đó là nghiệp quả của tôi, tôi phải chịu chớ không làm sao hơn!.

Như thế chẳng khác nào như một người kia, vừa mới biết qua về luật hấp dẫn (GRAVITATION), muốn đi lên lầu nhưng lại ngồi bệt xuống đất và nói :’v́ cái sức nặng của thân ḿnh tôi rút tôi vào trung tâm địa cầu, nên tôi không thể vượt cầu thang này để lên tầng lầu trên !’

Y quên rằng thân ḿnh y có trọng lực kéo y xuống thấp, nhưng y lại cũng có cái ư chí Tự Do và sức bắp thịt của hai chân để cho y sử dụng nếu y muốn lên tầng lầu trên.

Luật nhân quả cũng hành động y như vậy ; Một đàng th́ có luật nhân quả, nhưng ngược lại, Tạo Hóa c̣n phú cho con người cái ư chí Tự Do để cho y sử dụng mà sửa đổi hoàn cảnh, tức là sửa đổi nghiệp quả.

Số tử vi là số mạng con người.

Sự đoán số tử vi không hẳn là đúng luôn luôn hết 100%, v́ người ta không biết được hết tất cả những yếu tố có ảnh hưởng đến vận mạng con người.

Một lá số tử vi chỉ những hậu quả của quá khứ hiện ra nơi tánh t́nh, khuynh hướng hoàn cảnh v.v... của một người. Nhà chiêm – tinh có thể đoán khá đúng một vài trường hợp hay hoàn cảnh xảy ra trong đời người, nhưng y không thể biết đương số sẽ có phản ứng như thế nào đối với hoàn cảnh đó.

Nếu đương số là người có ư chí kém cỏi, yếu ớt, th́ sự phản ứng rất ít, và hoàn cảnh của y sẽ không thay đổi nhiều. Trái lại, nếu y là người có ư chí mạnh mẽ, đem hết sức mạnh tinh thần để chống lại nghịch cảnh, th́ sự phản ứng đó rất lớn và có thể làm đảo lộn tất cả mọi sự tiên đoán về số mạng. Vậy mới có câu :”Nhân định thắng Thiên” “Đức năng thắng số”, “Có trời mà cũng có ta”, “Tận Nhân Lực Tri Thiên mạng”.

Khoa Chiêm – Tinh cũng có câu ngạn ngữ :

“Người khôn làm chủ tinh tú của ḿnh, kẻ dại chịu lệ thuộc ngôi sao của họ”, v́ “Tinh Tú chỉ cho thấy cái khuynh hướng của cuộc đời chớ không buộc ta chấp nhận!.(Astra inclinatum non necessitatum).

V-NGHIỆP QUẢ CÔNG CỘNG.(Karma collectif)

Những tai nạn lớn như băo lụt, động đất, hỏa tai, lật xe, ch́m tàu, chiến tranh loạn lạc v.v... có thể là một cơ hội cho ta trả trước một phần nghiệp quả xấu trong khối cộng nghiệp, không có định trong kiếp này.

Trong một cơn thiên tai biến động có nhiều người chết, th́ có ba trường hợp xảy ra :

1/-Trong định nghiệp của nạn nhân, có cái quả báo “Bất đắc kỳ tử”. Người ấy đến kỳ phải trả, nên chết trong tai nạn.

2/-Số Bất Đắc Kỳ Tử không có trong định nghiệp, tức là không có trong kiếp này, nhưng lại có trong khối cộng nghiệp, tức là phải trả trong một kiếp tương lai. Trong trường hợp này, đương sự thường là một linh hồn tiến hóa, có nhiều triển vọng giúp đời trong tương lai, nên Các Đấng Cầm Cân Nghiệp Quả giải tỏa cái quả này cho y chết trong tai nạn để cho y trả dứt một nghiệp cũ, nó có thể làm ngăn trở sự tiến hóa của y trong tương lai. Như vậy là có sự điều chỉnh cấp thời và ngay tại chỗ.

3/-Trong cộng nghiệp và Định nghiệp đều không có cái số Bất Đắc Kỳ Tử. Đương sự đi trễ tàu, trễ xe, hoặc hủy bỏ chuyến đi vào giờ phút chót, và thoát nạn một cách mầu nhiệm.

 

ÁP DỤNG LUẬT NHÂN QUẢ

Con người có thể làm chủ lấy vận mạng của ḿnh.

Luật nhân quả nói chung có 3 nguyên tắc :

1/- Tư tưởng tạo nên Tánh T́nh.

2/- Ḷng Ham muốn tạo nên Cơ Hội,

3/- Hành Động tạo nên Hoàn Cảnh.

 

I-Tư tưởng tạo nên Tánh T́nh :

a/Ảnh hưởng đối với cá nhân : Trong con người, tánh t́nh gồm cả những đức tánh và khả năng về trí tuệ. Thánh kinh Ấn Độ và Kinh Phật đều có dạy : “tư tưởng tạo nên con người”, và “tư tưởng con người thế nào th́ con người thế ấy”, Thánh Kinh Gia Tô Giáo cũng dạy rằng : “kẻ nào thù ghét người đồng loại tức là một kẻ sát nhân”.

Khi tư tưởng của ta trụ vào vấn đề ǵ, tức là ta phát ra một sự rung động với một tốc độ đặc biệt, và nếu tư tưởng ấy càng tiếp diễn th́ cái trí của ta càng rung động theo một nhịp đó, cho đến khi thành thói quen. Các Tôn Giáo đều dạy ta cần phải tập lấy một đức hạnh tốt bằng cách bắt tư tưởng ta hằng ngày phải trụ vào đó, cho đến khi trở nên thói quen, và đức tính kia trở thành sự thật. (Phật Giáo gọi là quán tính, hay tŕ quán.)

Muốn được như thế, ta cần phải chăm chú tư tưởng đến đức tánh ấy trong vài phút mỗi buổi sớm mai, và tập như thế cho đều đặn, cho đến khi thành thói quen và ta nhiễm được đức tính ấy.

Dần dần ta sẽ tập đến những đức tính khác. Như thế, ta có thể dùng tư tưởng tạo nên tánh t́nh, với một kết quả chắc chắn, cũng như người thợ hồ dùng từng viên gạch xây nên bức tường vậy. Tánh t́nh của ta kiếp này như thế nào là do nơi tư tưởng của ta đă tạo nên từ kiếp trước, và với những tư tưởng của ta hiện nay, ta đang chuẫn bị một đời sống trên cơi thượng giới sau khi ta chết. Ở cơi thượng giới, những tư tưởng, hoài băo của ta sẽ được chuyển biến thành những khả năng và đức tính cho kiếp sau.

Những nguyện vọng, hoài băo trong kiếp này sẽ trở nên những khả năng trong kiếp sau, c̣n ư chí phụng sự, giúp đời sẽ trở nên căn bản đạo đức tâm linh.

b/Ảnh hưởng đối với người khác :Những tư tưởng của ta phát ra sự rung động và có h́nh thể gọi là “h́nh tư tưởng” (forme-pensee). Những h́nh tư tưởng đó, thường có lẫn lộn với dục tính, nên nó có pha trộn với một ít chất khí của cơi trung giới, thành những h́nh tư tưởng hỗn hợp cả hai tính chất hạ-trí và dục vọng (Kama-Manas).

Những h́nh tư tưởng này nếu được tăng cường sinh khí bằng cách lặp đi lặp lại nhiều lần và cứ tiếp diễn hằng ngày, sẽ trở nên những thực thể tâm linh có một đời sống riêng biệt, nhưng vẫn c̣n dính liền với ta bằng một sợi dây từ khí. Những tư tưởng thương yêu hay thù nghịch, nếu được phóng ra thường xuyên liên tục với một cường độ mănh liệt, sẽ ảnh hưởng đến người khác, như thế, chúng tạo nên những dây nghiệp duyên giữa ta với những người kia, và ảnh hưởng không ít đến tương lai của ta.

Do đó, mà nhiều người bị kết hợp lại với nhau bởi những sợi dây duyên nghiệp nó ràng buộc họ trong những kiếp sau, nó làm cho ta có những sợi dây thân quyến, bạn bè hay kẻ thù, nó đến cho ta những người phụ trợ giúp đỡ, hay những người phá hoại, ngăn trở cuộc đời của ta, những người thương mến ta hay ghét bỏ ta trong kiếp này một cách vô duyên cớ, mặc dầu ta không có làm ǵ để xứng đáng với t́nh thương hay sự thù nghịch đó.

Như thế, ta thấy có một nguyên tắc chung : trong khi những tư tưởng tạo nên tánh t́nh của ta, chúng cũng có ảnh hưởng đến người khác và tạo nên những người thân hay người thù của ta trong tương lai.

Bởi vậy, trong tất cả mọi pháp môn tu luyện, sự kiểm soát tư tưởng là một điều rất quan trọng, cần được thực hành trước khi bắt đầu công phu tọa thiền.

II- Ḷng ham muốn tạo nên cơ hội:

Ḷng ham muốn là một động lực rất mạnh đưa đến kết quả là sự hành động. Ḷng dục vọng biểu lộ dưới hai h́nh thức : Yêu hay ghét . Ḷng ham muốn tạo nên giữa ta và cái vật mà ta ưa thích một sợi dây liên lạc bằng từ khí, và hấp dẫn ta đến gần vật ưa thích cũng như đá nam châm hút sắt vậy.  Mặc dầu ta có thể gặp trở ngại, khó khăn, nhưng sự ham muốn đó rốt cuộc sẽ được thỏa măn có khi ngay tại kiếp này, có khi trong những kiếp sau.

1/- Ảnh hưởng đến kiếp sau :

Ḷng ham muốn và dục vọng quyết định đời sống của ta ở cơi trung giới và tạo cái vía tương lai của ta trong kiếp sau. Những dục vọng thấp hèn xấu xa sẽ ghi dấu vết lại xác thân của ta trong kiếp sau và là nguyên nhân của những chứng bệnh đau óc, bệnh thần kinh, hay tật nguyền hoặc quái thai.

2/- Ảnh hưởng đến kẻ khác :

Những dục vọng như yêu hay ghét, là những sợi dây duyên nghiệp ràng buộc ta với kẻ khác một cách chặt chẽ. Những h́nh tư tưởng đầy dục vọng của ta ảnh hưởng đến kẻ khác và quyết định những người thân và thù chung quanh ta ở kiếp sau.

Tạo hóa không thiên vị hay ruồng bỏ một ai. Ai gieo giống nào sẽ gặt giống nấy. Hiểu luật nhân quả, ta sẽ không c̣n ganh tị, oán hờn hoặc nguyền rủa số mạng, hay than trách tạo hóa bất công.

 

Luật Nhân Quả

Nhân                                                               Quả

(Kiếp-trước)                                      (kiếp-hiện-tại)

Việc lành                    tạo nên            hoàn cảnh tốt

Việc dữ                       tạo nên            hoàn cảnh xấu

Hoài băo, mong muốn           tạo nên            khả năng

Tư tưởng tốt lành                   tạo nên            Đức tánh

Thành công                 đem lại           Hứng khởi

Kinh nghiệm              đem lại           Minh triết

Đau khổ                      đem lại           Lương tri

Chí nguyện giúp đời              vun bồi            ư chí tâm linh

Nghiệp quả gia đ́nh

Những dây duyên nghiệp đó, nếu kết chặt bằng t́nh thương, th́ không bao giờ đứt mà sẽ tồn tại măi măi. C̣n trái ngược lại, nếu có sự đố kỵ ganh ghét giữa hai linh hồn, th́ qua kiếp sau, dây duyên nghiệp đó sẽ đứt chớ không nối lại được nữa.

Sự thay vị đổi ngôi trong liên hệ gia đ́nh trăi qua nhiều kiếp có mục đích chuyển biến, thanh lọc t́nh thương từ vị kỷ đến vị tha. Thí dụ : T́nh vợ chồng khắn khít dù sau vẩn c̣n có khía cạnh t́nh dục, chiếm hữu, vị kỷ. Khi nó chuyển qua t́nh cha con hay anh em trong kiếp sau, t́nh thương ấy đă loại bỏ t́nh dục, chiếm hữu mà trở thành vô kỷ, vị tha hơn, để lần lần sẽ tinh luyện đến mức thanh cao như t́nh quốc gia dân tộc, của những nhà ái quốc, lănh đạo quần chúng. Sau cùng, nó sẽ được thăng hoa thành mối t́nh bác ái, bao la, đại đồng của một vị cứu thế đối với nhân loại.

Bà Annie Besant nói rằng mỗi người mà ta gặp gỡ, tiếp xúc và liên lạc trong kiếp này đều là những người quen cũ trong những kiếp trước. Ít có khi ta gặp một người mà ta không hề có gặp gỡ từ kiếp trước bao giờ. Những dây nhân duyên chắc chắn và bền bỉ nhất thường được tạo nên bởi t́nh thương, vong kỷ vị tha, và không thể nào bị cắt đứt.

Nghiệp của quốc gia

Nghiệp quốc gia áp dụng cho mỗi quốc gia nói chung, và cho những dân tộc gồm thành phần của quốc gia đó.

a/- Quốc Gia :

Mỗi quốc gia có vai tṛ đặc biệt phải đóng góp cho sự tiến hóa và hạnh phúc chung của nhân loại. Tùy theo hành động ích kỷ hay vị tha của chính phủ liên hệ mà mỗi quốc gia tự tạo cho ḿnh cái vận mạng suy vong hay thái b́nh thạnh trị. Không một quốc gia nào có thể tồn tại nếu họ xâm phạm t́nh huynh đệ đại đồng của nhân loại.

b/- Các Dân Tộc :

Nghiệp quả của các quốc gia được liên hệ qua sự trung gian của những người công dân của mỗi nước. Họ là những khí cụ cho sự tiến bộ hay suy vong của quốc gia họ.

Theo lệ thường, một người đầu thai vào một chủng tộc nào đó để khai mở những đức tính đặc biệt của chủng tộc ấy, Đồng thời, mỗi người tùy nghiệp quả của ḿnh, mà chuyển kiếp vào những quốc gia với những hiện t́nh tốt hay xấu để trả quả cho họ. V́ lẽ đó, một quốc gia đang hồi suy sụp sẽ hấp dẫn những linh hồn chưa tiến hóa và những người lănh đạo bất tài, làm cho quốc gia ấy càng sụp đổ mau chóng. Trái lại, một quốc gia đang hồi hưng thịnh sẽ hấp dẫn cho những linh hồn tiến hóa để có những nhà lănh đạo tài ba siêu việt và nhờ đó sẽ được thái b́nh thạnh trị.

Trong trường hợp các quốc gia, người ta có thể t́m thấy sự hành động của luật nhân quả trong lịch sử của những quốc gia đó.

Vấn đề này rất quan trọng, v́ nếu ta khám phá được những nguyên nhân của mọi sự đau khổ, thất bại, hoặc sự thắng trận thành công của một vài quốc gia trong thời chiến tranh, và sự an toàn bất khả xâm phạmcủa một vài nước khác cũng trong cuộc chiến tranh đó, th́ ta sẽ biết được cái ch́a khóa, cái bí quyết của sự an toàn và con đường ḥa b́nh  thế giới.

Theo luật nhân quả, các quốc gia và những nhà lănh đạo những quốc gia đó tạo nên vận mạng của họ và chính những hành động của họ trong quá khứ đă quyết định sự thắng bại, tồn vong của họ trong thời buổi hiện nay.

Nói tóm lại, một quốc gia, cũng như một cá nhân, đă gieo giống nào th́ phải gặt quả nấy, Không một quốc gia nào có thể sống c̣n nếu họ có những hành động tàn bạo xâm lăng đối với những quốc gia khác, v́ như thế tức là họ vi phạm luật công bằng và bác ái của Đấng Hóa Công. Thuận với Thiên Cơ th́ sống c̣n, mà nghịch với Thiên Cơ ắt là bại vong vậy.

                                                ...oOo...

                        Những khía cạnh Đặc biệt của luật nhân quả

Vụ bom nguyên tử ở Nhật Bản.

            Có người tự hỏi rằng trong những tai nạn lớn, như trong vụ nổ bom nguyên tử ở hai thành phố Hiroshima, và Nagasaki bên Nhật Bản năm 1945, có đến hàng trăm ngàn người chết, vậy trong số đó có những kẻ chết oan hay không?

Thật ra trong vụ thả bom nguyên tử đó không phải tất cả đều chết hết, Có một số người chết liền tại chổ, một số người bị thương nặng, ít lâu sau mới chết, Cũng có một số bị thương nặng mà không chết nhưng trở nên những người tàn phế, hoặc chỉ bị thương nhẹ, cấp cứu kịp thời nên được sống sót. Ngoài ra, có những người ở cách xa nơi thả bom, không bị thiệt hại ǵ, và cũng có nhiều người lại được hưởng lợi nhờ sự thả bom đó nữa v́ về sau người ta kiến thiết lại những đô thị bị tàn phá, họ được ở nhà tốt, và có công ăn việc làm, v.v...

Vậy th́ trong những kẻ nạn nhân của vụ thả bom nguyên tử ở Nhật không phải đều bị thiệt hại như nhau. Những sự thiệt hại đó nặng hay nhẹ, hoặc lưng chừng, và trái lại cũng có kẻ hưởng lợi. Đương nhiên cũng có những người bị chết oan, nhưng trong những trường hợp đó, th́ nghiệp quả của họ sẽ được điều chỉnh ngay tức khắc cho họ đi đầu thai ngay cấp thời, để cho họ khỏi bị thiệt tḥi và khỏi mất thời giờ. Như thế, luật nhân quả báo ứng tùy nghiệp duyên của mỗi người mà thưởng phạt một cách rất công bằng, không có một mảy may sơ sót.

Yếu tố cấu tạo nghiệp quả

Như trên đă nói, cái nghiệp quả gây ra nặng hay nhẹ là tùy nơi cái động lực bên trong nó thúc đẩy mỗi hành động của ta. Chính cái động lực đó mới là phần chủ động v́ nó thuộc về phần t́nh cảm và lư trí (với tỷ số 5 và 25) c̣n quan trọng hơn sự hành động, thuộc về phần thể xác (tỷ số 1).

Cũng một việc giết người, nhưng nếu kẻ sát nhân có mưu toan, có tính trước (Premeditation) cố ư phạm đến tánh mạng của kẻ khác, th́ y gây ra một cái nghiệp rất nặng nề, C̣n nếu y giết người trong cơn giận dữ, lỡ tay đánh quá trớn, đến lúc hối hận th́ việc đă rồi, th́ y gây nên một cái nghiệp nhẹ hơn cái nghiệp nói trên. (Nguyên tắc này cũng được luật pháp thế gian công nhận).

Một người cầm dao phân thây kẻ địch làm trăm mănh, với một vị lương y cầm dao mổ xẻ bệnh nhân, cả hai đều làm một việc giống nhau. Nhưng người trên gây một cái nghiệp rất xấu v́ hành động của y do sự thúc đẩy của ḷng thù oán, uất hận, cố làm sát hại để thơa ḷng thù ghét, c̣n vị lương y th́ gây nên nghiệp tốt do nơi sự tận tụy v́ chức nghiệp hoặc ḷng thương ra công cứu chữa cho người bệnh. Đó là do cái động lực bên trong làm chủ động, nó gây ra cái nghiệp tốt hay xấu khác nhau, mặc dầu cái hành động của hai người không khác nhau mấy.

Việc cứu người cũng thế. Cứu mạng người v́ ḷng hy sinh trắc ẩn, hoặc v́ ḷng bác ái th́ sẽ gây nên cái nghiệp quả rất tốt, nhưng nếu cứu người để mong được thưởng, hoặc để càu danh th́ cái nghiệp gây nên sẽ không được tốt lắm. Chính cái tâm tư bên trong làm chủ động cho việc cứu người mới là phần quan trọng, và là yếu tố cấu tạo nghiệp quả.

 

 

VẤN ĐỀ CỠI MỞ NHỮNG NGHIỆP QUẢ XẤU

Nghiệp quả của ai gây ra người ấy phải trả. Nhưng ta có thể làm giảm bớt nghiệp quả của ta cho nó được nhẹ đi, bằng cách gây những nghiệp tốt, tương phản lại với nghiệp xấu đă gây ra trước khi những nghiệp xấu này đem đến những kết quả báo ứng. chẳng khác nào như cái cân, một bên nặng trĩu những nghiệp xấu làm thiên lệch đ̣n cân. Ta phải làm thế nào để cho nghiệp tốt được đặt lên đĩa cân bên kia, để kéo đ̣n cân lại cho được thăng bằng.

Luật nhân quả chẳng qua là một bài toán thuộc về số học mà ta có thể thay đổi bằng sự cân lường, thêm bớt tùy theo ư muốn của ḿnh. Nghĩa là những nghiệp quả do người ta tạo ra không phải là vật chết cứng ở một chỗ do một định luật khắc khe bắt buộc ta phải chịu, mà nó là một cái ǵ có thể sửa đổi, thêm bớt, do nơi ư chí của ta. Cái thân thế, cái số mạng của ta trong lúc bấy giờ như thế nào là do nơi căn quả từ kiếp trước, c̣n cái vận mạng của ta trong kiếp tương lai hoàn toàn là do bàn tay của ta tự tạo ra trong kiếp này.

Trừ khi ta mở được thần nhăn để nh́n về những kiếp quá khứ, th́ ta mới thấy rơ ràng sự tác động của luật nhân quả và những dây liên lạc từ nhân tới quả ra sao, c̣n bây giờ ta chỉ hiểu được luật nhân quả về mặt lư thuyết mà thôi. Sở dĩ ta nh́n nhận luật nhân quả là v́ nó hợp lư và làm thơa măn được những đầu óc khoa học, nhưng đến khi những giác quan siêu năng của ta thức tỉnh để cho ta nh́n thấy sự tác động của luật ấy th́ ta mới thật là biết rơ một cách chắc chắn.

Nhà Huyền Học Geoffrey Hodson, một vị có tên tuổi trong giới Thông Thiên Học quốc tế và là người đă mở được Thần Nhăn, có thuật chuyện một người đàn bà đă cỡi mở được nghiệp quả như sau :

“Vào khoảng năm 1.925, khi tôi(ông G.Hodson) bắt đầu công việc chữa bệnh bằng tinh thần và khám bệnh bằng cách dùng thần nhăn, có một người đàn bà độ 50 tuổi đến yết kiến tôi. Bà ấy bề ngoài trông có vẻ khỏe mạnh nhưng tâm thần bối rối và đau khổ. Bà cho biết rằng cuộc đời bà toàn những điều tai ương và thất bại. Bất cứ chỗ nào có bàn tay bà nhúng vào đều hư hỏng thất bại hết cả. H́nh như có một cái định mệnh xui xẻo nó chực sẳn trên đầu bà và chỉ chờ dịp là rơi xuống.

Lúc thiếu thời học ở trường, mặc dầu bà rất siêng năng chăm chỉ nhưng hễ đến mỗi kỳ thi bà đều thi rớt. Lúc trưởng thành, bà yêu một người và cũng được người đó yêu lại. Chẳng bao lâu th́ người yêu ấy chết. Như thế tất cả là ba lần. Sau cùng bà lập gia thất với một người kia và trong vài năm bà sinh được mấy đứa con. Bà hưởng được hạnh phúc gia đ́nh có vài năm, bỗng nhiên chồng bà thọ bệnh mà chết. Rồi mấy đứa con cũng thay phiên lần lượt mà chết theo nhau. Những tai họa tang tóc dồn dập xảy đến đem cho bà sự đau khổ thật vô bờ bến.

Bà c̣n có một ḿnh. V́ sinh kế, bà phải mở tiệm buôn bán làm ăn. Được ít lâu, việc làm ăn của bà bị thất bại, bà phải đóng cửa tiệm, mặc dầu không phải do nơi lỗi của bà. Bà hỏi tôi tại sao đời bà lại gồm toàn những sự thất bại đau khổ như thế ? Hay có một cái định mệnh khắt khe nó chực sẵn một bên để chờ dịp mà rơi xuống đầu bà ? Tôi mới nhắm mắt định thần và thử nh́n xem cái nguyên nhân v́ đâu. Th́ một cơn Linh Ảnh diễn ra trong tâm giới của tôi cho thấy hiển hiện rơ ràng một kiếp quá khứ của bà.

Hiện tượng đó xảy ra trong một kiếp của bà cách đây vài ngàn năm. Khi đó bà có mặt ở trong một nhóm người theo phụ tá một Đấng Giáo Chủ. V́ một sự bất b́nh riêng tư, bà rời bỏ nhóm đó và sau cùng bà trở nên thù nghịch với Đấng ấy. Về sau Đấng Giáo Chủ ấy bị một bọn cuồng tính khủng bố và sát hại trong một cuộc ném đá, th́ bà cũng có tham dự cuộc tàn sát đó.

Tôi đă thấy rơ sự liên lạc từ nhân tới quả trong đời bà. V́ kiếp trước bà đă tham dự cuộc tàn sát hung tợn ấy, nên kiếp này nhân quả báo ứng, bà phải chịu bao nhiêu điều đắng cay đau khổ.

Tôi không muốn nói sự thật cho bà nghe về kiếp trước của bà, v́ nếu bà biết được những điều đó, th́ nó chỉ làm tăng thêm sự đau khổ cho bà mà thôi. Tôi chỉ khuyên bà từ nay nên hết ḷng thờ kính Phật. Ngoài ra tôi cũng khuyên bà đừng bỏ một dịp nào để thi ơn bố đức cho những người chung quanh, và giúp đỡ mọi người trong cơn đau khổ của họ.

Bà nghe theo và làm đúng theo lời dặn. Chẳng bao lâu, những nghiệp quả xấu của bà cũng lần lần giảm bớt và những tai nạn, đau thương không c̣n xảy đến cho bà nữa”.

 

            Nên giúp đỡ người hay không

Theo luật nhân quả, mỗi người phải chịu khổ do những điều ác mà ḿnh đă làm. Vậy ta có nên giúp đỡ những kẻ khốn cùng, tàn tật hay đói rét không ?

Làm như thế có ngăn trở luật nhân quả hay không ?

Đă đành rằng những sự thống khổ ở đời là do nghiệp ác gây nên, nhưng đó không phải là một lư do để cho ta ngồi khoanh tay nh́n mà không cố gắng làm cho đời bớt khổ. Ta không thể biết được một người kia sẽ dứt được nghiệp quả của y vào lúc nào, và bao giờ th́ y được giải thoát khỏi cảnh khổ hiện tại, do sự giúp đỡ của người khác. Vậy tại sao ta không thể làm cái người cứu tinh cho họ ?

Vả lại, nếu ta thấy cảnh khổ trước mắt mà không ra tay cứu giúp, th́ đó cũng là cái nghiệp xấu khiến cho ta sẽ bị ruồng bỏ khi ta lâm tai nạn cần có sự cứu giúp của kẻ khác. Về phương diện luân lư đạo đức, ta nên thông cảm và cứu giúp người đau khổ để tập mở ḷng nhân, v́ nếu ta dững dưng trước sự đau khổ của kẻ khác, th́ chẳng qua ta như kẻ chai ḷng, ích kỷ, không có ḷng nhân đạo, chẳng khác nào như kẻ dă man mọi rợ, chưa tiến hóa cao.

Lại nữa, thật vô lư mà tưởng rằng những Đấng Cầm Cân nghiệp quả có thể bị ngăn trở trong công việc của các Ngài bởi những kẻ yếu hèn như chúng ta !

Nếu một người kia chưa xứng đáng được giúp đỡ, hoặc thời giờ giải khổ của y chưa tới, th́ dẫu ta có cứu giúp y, y cũng không thụ hưởng được. thí dụ như ta giúp đỡ y về tiền bạc, y có thể làm rơi rớt mất hay bị người khác lấy trộm mất đi, nhưng dầu sao ta cũng đă gây được nghiệp tốt do sự hành động vô tư, không vị kỷ của ta.

Biết đâu, sự gặp gỡ của ta với người ấy chẳng do nơi nghiệp tốt của y, hoặc thời giờ hết khổ của y đă đến. Vậy ta phải hết sức giúp đỡ những kẻ đau khổ quanh ḿnh và đừng tưởng rằng ta có thể can thiệp đến quả báo của người khác bằng cách cứu giúp họ.

                        Khí cụ thi hành luật nhân quả

Các Đấng Cầm Cân Nghiệp Quả có khi dùng những người chung quanh ta làm cái khí cụ nghiệp quả, để cho ta trả quả xấu hoặc hưởng quả tốt tùy theo trường hợp.

Vậy khi ta bị một người nào phỉ báng, ta không biết rằng người ấy chỉ vô t́nh là cái khí cụ, cái phương tiện để cho ta trả quả, (cũng như người đi đ̣i nợ) mà lại nổi giận với y và toan trả đũa lại, làm như thế, trong khi cái nghiệp cũ kia vẫn chưa trả xong, th́ ta lại tạo thêm nghiệp mới.

Người học đạo hiểu rơ điều này, nên vui ḷng chịu đựng mọi nỗi bất công và đau khổ mà không than thở buồn phiền, nhờ đó họ trả dứt quả nghiệp cũ. Như thế, do sự vô minh mà con người cứ tạo nên nghiệp mới thêm hoài trước khi trả xong nghiệp cũ, và không biết bao giờ mới được giải thoát khỏi ṿng luân hồi sinh tử. Hoặc có người hỏi : Nếu tôi biết chắc chắn rằng người phỉ báng tôi là cái khí cụ của nghiệp quả để cho tôi trả món nợ cũ, th́ tôi cũng vui ḷng trả, không giận. Nhưng làm sao biết được y có phải là cái khí cụ của luật nhân quả thật không, và tôi có bị món nợ kia không ? Nếu là không phải mà y vô cớ đến phỉ báng tôi th́ sao ?

Để giải đáp vấn đề này, chúng ta nên biết rằng trong một vũ trụ được cai quản bằng một định luật công bằng hoàn toàn, th́ không có điều ǵ xảy đến cho ta do sự ngẫu nhiên t́nh cờ, để cho ta chịu thiệt tḥi, hoặc đau khổ một cách vô cớ mà không có nguyên nhân. Một người tự nhiên đến phỉ báng ta, nếu ta cảm thấy bị thương tổn ,th́ điều ấy chỉ rằng ta xứng đáng thọ lănh điều phiền năo đó do nghiệp quả của ta đưa đến, mặc dầu người kia không hay biết ǵ cả về cái giai tṛ trung gian của y, mà vẩn tưởng là y tự ư hành động như vậy. Nếu đó không phải là cái nghiệp của ta phải trả, th́ dầu cho người kia có nói ǵ, ta cũng thản nhiên không giận và cũng không động ḷng.

Ta có thể nói rằng một phần lớn sự đau khổ của con người là do tự họ gây ra trong kiếp này, chớ không phải là kết quả những hành động từ kiếp trước. Có đến 9/10 sự đau khổ của ta là do những hành động sai lầm v́ vô minh trong kiếp hiện tại. Người hiểu đạo luôn luôn b́nh tĩnh và an vui giữa những điều mà người khác cho là nghịch cảnh éo le, khó khăn, trắc trở. Người không hiểu biết thường bị những cảnh ngộ khó khăn đè bẹp v́ cái thái độ của họ đối với nghịch cảnh. Những sự đau khổ của con người hiện nay phần lớn là do sự tưởng tượng gây nên.

Sự đau khổ thật sự do nghiệp quả đưa đến thường là nhỏ, những ǵ người ta không chịu trả quả một cách vui vẻ, mà lại phản ứng một cách khó chịu, nên họ làm tăng sự đau khổ lên gấp đôi hoặc gấp mười lần nhiều hơn. Bởi thế, ta không thể cho rằng sự đau khổ đó là do nghiệp quả cũ từ kiếp trước, mà nó chính là do hành động sai lầm của ta trong lúc hiện tại.

Nói về vấn đề khí cụ của nghiệp quả, ông Leadbeater có nói rằng người học đạo chỉ nên làm cái khí cụ cho những nghiệp quả tốt (Agent du bon karma), đem đến những quả tốt lành cho người thụ hưởng, chớ không nên làm cái khí cụ cho nghiệp quả xấu, v́ đó là một vai tṛ không được tốt đẹp lắm, vai tṛ này chẳng khác ǵ vai tṛ của một hung thần, gieo sự tang tóc đau khổ cho kẻ khác. Người học đạo hăy thận trọng từ cái cử chỉ hành vi của ḿnh, để tránh khỏi đóng cái vai tṛ không được tốt đẹp đó.

                        Thế nào gọi là “nghiệp tốt” ?

Đời sốngcủa một người phải như thế nào mới gọi là y có một vận mạng tốt, hay nghiệp quả tốt ?

Giáo lư huyền môn dạy rằng : Nghiệp quả của một đời sống tốt lành không phải là giàu sang, có nhiều của cải, hay có nhiều thiên tư về trí tuệ, mà là có nhiều cơ hội tiến hóa về tinh thần và có nhiều cơ hội để phụng sự giúp đời. Những cơ hội phụng sự đó có thể thuộc về một ngành hoạt động đă từng theo đuổi trong kiếp trước, hoặc là những ngành hoạt động mới trong kiếp này, để làm cho linh hồn trở nên một khí cụ đắc lực hơn trong việc phụng sự thế gian, dưới sự d́u dắt của những Đấng Cao Cả thiêng liêng.

Những cơ hội phụng sự trong một kiếp, nếu được thi hành một cách mỹ măn, sẽ đem lại nhiều cơ hội phụng sự rộng răi hơn trong một kiếp sau, người nào biết dùng những khả năng của ḿnh để phụng sự kẻ khác mà không nghĩ đến quyền lợi ích kỷ riêng, chắc sẽ được ban thêm nhiều khả năng mới, và sẽ được giao phó những công việc phụng sự lớn lao hơn.

Sự giàu sang tuy là nghiệp tốt về vật chất, nhưng đồng thời cũng có thể là cái mầm của sự bê bối trụy lạc về tinh thần. Nếu người được giàu sang không có những đức tính cao thượng như vị tha, bác ái, không biết đem tiền của vật chất cùa ḿnh để phụng sự và giúp đở thế gian, mà chí biết sống một cuộc đời xa hoa ích kỷ, không ngoài mục đích t́m sự khoái lạc cho bản thân, th́ rốt cuộc y chỉ sống một cuộc đời b́nh thường, trống rỗng và vô ích. Ngoài ra, sự giàu sang sung sướng c̣n là cái nguyên nhân tạo nên sự lười biếng, bê tha cùng những dục vọng xấu xa, thấp hèn. Do đó, con người sẳn sàng gây những nghiệp xấu, sẽ ảnh hưởng đến kiếp sau. Nó c̣n là cái nguồn gốc của bao nhiêu sự cám dỗ vật chất và sẳn sàng xô đẩy con người xuống hố sâu vực thẩm.

Thế nên, muốn biết thế nào là nghiệp tốt hay xấu, ta không nên nh́n vào cái khía cạnh bề ngoài, cái h́nh thức nhất thời trong hiện tại, mà phải nh́n xem cái mầm móng sâu xa có thể phát sinh trong tương lai.

Điều này cũng áp dụng cho những thiên tư và trí năo, như sự thông minh tài trí, học rộng biết nhiều. Nếu nhà học giả, nhà thông thái hay nhà huyền học mà không có tâm hồn đạo đức, và tư tưởng bác ái, vị tha, không biết đem tài năng của ḿnh để phụng sự giúp đời mà chỉ sống cuộc đời ích kỷ, th́ họ rất dễ sa vào con đường tà đạo bàn môn, làm hại cho đời không ít và tự tạo cho ḿnh sự diệt vong, sa đọa đời đời kiếp kiếp. bởi thế cho nên, thông minh tài trí tuyệt vời, tài năng quán chúng cũng chưa chắc là một nghiệp tốt. Hiểu biết đạo lư, dốc ḷng phụng sự và có nhiều cơ hội để phụng sự, đó mới thật là nghiệp tốt vậy.

                                    Chấm dứt nghiệp quả

Mỗi linh hồn phải trở lại cơi trần nhiều kiếp cho đến khi trả xong hết tất cả những nghiệp duyên, nợ nần, và thanh toán xong khối cộng nghiệp tích lũy từ nhiều đời. Trong khi đó, những tư tưởng, dục vọng và hành động của y ở mỗi kiếp lại tạo thêm nghiệp mới, và như thế, người ta mới đặt ra câu hỏi : “làm sao chấm dứt được nghiệp quả ? làm sao một linh hồn có thể thanh toán hết nợ nần, duyên nghiệp để được giải thoát khỏi ṿng luân hồi, sinh tử ?”.

Trước hết ta cần phải hiểu rơ cái yếu tố trói buộc của nghiệp quả. Ḷng ham muốn là một sợi dây trói buộc con người với chốn nào mà y có thể thực hiện được điều mong ước.

Bà Annie Besant viết trong quyển ‘Sagesse Antique’ : Nghiệp quả tốt trói buộc con người cũng như nghiệp quả xấu, v́ bất cứ một sự ham muốn nào, dầu là sự vật ở cơi trần hay trên cơi thượng giới, cũng hấp dẫn con người đến tận nơi mà y có thể hưởng thụ vật ấy.

Trong giai đoạn tiến hóa hiện thời của nhân loại, con người luôn luôn nhờ dục vọng làm cái động cơ thúc đẩy họ làm việc. ḷng ham muốn giúp họ chiến thắng sự lười biếng, giăi đăi, và thúc giục họ hoạt động để thu thập kinh nghiệm. Ta hăy xem người dă man, lúc thường th́ y nằm chơi trên băi cỏ không làm ǵ hết. Sự đói khát mới thúc đẩy y hành động, đi t́m vật thực, y biết vót cây làm cung ná để đi săn thú vật mà ăn, và y có dịp sử dụng sự khéo léo, kiên nhẫn, và bền chí để thơa măn điều ham muốn của ḿnh. Nhờ đó, y phát triển những đức tánh và tập mở trí khôn, nhưng khi y đă ăn no rồi, th́ y lại nằm ́ một chổ như một con vật lười biếng. Chúng ta thấy rằng bao nhiêu những đức tánh về trí khôn của con người được phát triển nhờ sự thúc đẩy của ḷng ham muốn và sự nhu cầu vật chất, ḷng ham mê danh vọng cũng rất hữu ích để thúc đẩy con người cố gắng làm việc, và nhờ đó y mới khai mở được những đức tánh của ḿnh.

Ḷng ham muốn là cái động cơ thúc đẩy mọi hành động. Người ta làm một việc ǵ, không phải v́ công việc, mà v́ sự thụ hưởng kết quả của việc làm đó. Người ta làm việc, không phải v́ họ muốn đào đất, xây tường, hay dệt cửi, mà v́ họ muốn hưởng cái kết quả của sự đào đất, xây tường và dệt cửi, dưới h́nh thức một số tiền thù lao hay đồ vật dụng. Một luật gia biện hộ trong một vụ kiện, không phải v́ ông ta say mê, thích thú ǵ với những chi tiết khô khan của vụ tranh chấp đó, mà v́ ông ta muốn hưởng sự giàu sang, danh vọng, và chức tước. Ḷng ham muốn hưởng kết quả của việc làm thúc đẩy họ hăng hái hoạt động.

V́ lẽ đó, ḷng ham muốn là cái yếu tố trói buộc của nghiệp quả, và khi linh hồn không c̣n ham muốn bất cứ một vật ǵ dầu là ở thế gian hay trên cơi thiên đường, th́ sợi dây trói buộc y với ṿng luân hồi trong ba cơi sẽ dứt hẳn.

Trước khi con người đến gần cửa đạo, th́ y vẫn c̣n cần dùng sự thúc đẩy của ḷng ham muốn, và những dục vọng của y sẽ trở nên thanh bai hơn và bớt ích kỷ hơn khi y càng tiến hóa thêm.

Thế nhân ham mê về vật chất không biết rằng một định mệnh tốt chính là một sự trói buộc với thế gian, c̣n người thức giả biết rơ như thế nên không màng sự sung sướng đầy đủ ở đời này mà lo t́m phương giải thoát khỏi sự trói buộc của định mệnh, tốt cũng như xấu.

Ta làm một việc ǵ mà mong hưởng kết quả, th́ sự tha thiết, sự mong muốn đó sẽ trói buộc ta với cơi trần. Nhân với quả dính liền với nhau do sợi dây dục vọng kết chặt, nếu dục vọng tiêu tan th́ quả kia cũng dứt. Như thế nếu con người muốn được giải thoát th́ phải dứt bỏ sự ham muốn hưởng kết quả của việc làm, và lần lần sự thiết tha mong muốn chiếm đoạt những vật sở hữu cũng dứt tuyệt, con người sẽ không gieo để trông đến mùa gặt hái nữa, mà là gieo những giống tốt cho cả nhân loại được nhờ. Con người sẽ không ruồng bỏ bổn phận của ḿnh, nhưng ráng làm bổn phận đến nơi đến chốn mà vẫn giữ thái độ hồn nhiên, không mong hưởng kết quả của việc làm. Tất cả những hành động của ta lúc bấy giờ đều là những sự hy sinh, gieo giống cho nhân loại cùng hưởng. Như thế, khi ta thản nhiên trước kết quả của việc làm, không mong muốn cũng không ruồng bỏ một vật ǵ, th́ ta sẽ không gây thêm nghiệp mới. Nói như thế không phải là ta giữ một thái độ vô vi bất động, chán nản hết cả mọi sự, v́ không phải do sự tránh mọi hành động mà ta khỏi gây nghiệp quả.

Sốt sắng làm việc bổn phận, hăng hái hoạt động như người ham việc thế sự, mà trong ḷng thản nhiên trước kết quả, không tha thiết, không bám díu lợi lộc của trần gian, tuy hữu vi mà vô vi, đó mới là tư cách của người cao sĩ đă nếm mùi giải thoát vậy.

Bà A.Besant viết tiếp : Nhưng muốn chấm dứt nghiệp quả, không tạo thêm nghiệp mới cũng chưa đủ, mà c̣n phải diệt trừ những sợi dây oan nghiệt cũ, hoặc bằng cách để cho nó tự tiêu hao lần lần, hoặc cắt đứt càng sớm càng hay. Muốn cắt đứt những sợi dây oan nghiệt đó, cần phải có sự hiểu biết về kiếp trước, để t́m xem những nguyên nhân nào ở kiếp trước đang đem lại kết quả trong kiếp hiện tại. Thí dụ như một bậc chân tu đă phát huệ có thể nh́n thấy những kiếp trước của y và nhận thấy trong quá khứ, y có những tư tưởng thù ghét oán hận, nó sẽ mang lại hậu quả đau khổ cho y trong ṿng một năm sắp tới ở kiếp này. Người ấy có thể tạo ra một cái nhân mới, tốt lành, ngay bây giờ để hóa giải những cái nhân cũ, trước khi nó đem lại kết quả, Y có thể phá những cái tư tưởng thù hận đă qua bằng những tư tưởng bác ái và thiện chí để ngăn ngừa những quả xấu xảy ra về sau. Bằng cách đó y cũng có thể phá tan các nghiệp quả trong những kiếp tương lai.

Ngoài ra, y có thể đă tạo ra oan nghiệt nợ nần với những linh hồn khác trong quá khứ, hoặc đă gây sự đau khổ cho họ, hay đă thiếu sót một bổn phận ǵ đó. Nay y có thể dùng sự hiểu biết của ḿnh mà t́m thấy những linh hồn đó và t́m cơ hội phụng sự giúp đỡ họ, để trả những món nợ cũ, nó có thể là những chướng ngại làm ngăn trở sự tiến hóa của y về sau.

Những người không nh́n thấy được kiếp trước cũng có thể phá tan những nguyên nhân xấu mà họ đă gây ra trong kiếp này. Họ có thể hồi tưởng lại những điều dữ mà họ đă làm cho người khác và phóng tư tưởng bác ái tốt lành cho những người này để trừ những quả dữ xảy đến về sau.

Những người áp dụng lời dạy “Dĩ Đức báo oán” của các bậc Giáo Chủ cũng chấm dứt được nghiệp quả gây ra trong kiếp này mà đáng lẽ sẽ có báo ứng trong những kiếp về sau.

Không ai có thể tạo nên một sợi dây oan nghiệt đối với họ nếu họ từ chối không đóng góp một khoen nào vô sợi dây đó, và luôn luôn phá tan mọi sức mạnh oán thù bằng sức mạnh của t́nh thương. V́ thế, Đức Phật có nói : “Oan nghiệt chỉ có thể chấm dứt bằng t́nh thương mà thôi”.

 

KẾT LUẬN

            Luật nhân quả hành động một cách rất vô tư, không thiên vị một ai. Ai gieo giống nào th́ gặt giống nấy. Tuy nhiên, ta có thể dùng ư chí mà cải tạo được số mệnh. Nhờ sự hiểu biết, ta có thể áp dụng luật nhân quả mà sửa đổi cho vận mạng xấu trở nên tốt, dở hóa ra hay. Ta có thể gây những nghiệp tốt ngay từ bây giờ để sửa đổi những quả xấu trước khi nó xảy đến. Tạo hóa đă phú cho ta cái quyền tự do ư chí, là để cho ta có thể tự lực điều khiển lấy vận mạng của ḿnh.

Về vấn đề làm thế nào để sửa đổi nghiệp quả của ḿnh một cách trực tiếp và mau chóng, giáo lư huyền môn dạy rằng : Trước hết hăy sửa cái tâm của ta cho được bác ái, tràn ngập t́nh thương đối với kẻ đồng loại và đối với vạn vật, không để cho một mảy may tư thù, oán ghét nào xen vào ḷng ta. Mỗi một cử chỉ, hành động của ta trong đời sống hằng ngày đều phải do cái động lực bác ái, do t́nh yêu thương d́u dắt thúc đẩy, để đem đến sự điều ḥa cho những người xung quanh. Làm sao cho những kẻ nào đến với ta đều được vui vẻ, điều ḥa, và chịu ảnh hưởng cái t́nh bác ái, ḥa nhă của ta ban răi ra.

Hăy quên ḿnh để làm những việc có ích lợi cho nhân loại. Hăy hoàn toàn hiến dâng thân ḿnh để phụng sự, ch́m đắm ḿnh vào một cái lư tưởng cao cả. Cái lư tưởng cao cả nhất là truyền bá đạo lư cho người đời. Những nghiệp xấu của ta, dầu là nặng nề đến đâu cũng sẽ nhờ đó mà tiêu tan.

Nói một cách khác, khi ta đă diệt được cái bản ngă của ta, hoàn- toàn hiến dâng cho một lư tưởng cao đẹp, không nghĩ đến việc lợi ích cho bản thân ḿnh, làm cho thân ta hoàn toàn trống không, không có chỗ nào vướng vít với danh lợi trần gian nữa, th́ đâu c̣n cái ǵ để cho nghiệp quả nó bám vào ḿnh nữa ?.

Các Đấng Chơn Sư là những người đă thoát khỏi sự trói buộc của luật nhân quả, v́ các ngài đă hoàn toàn diệt ngă, không c̣n vướng vít một việc ǵ ở cơi trần. Các Ngài làm việc để giúp đỡ nhân loại, mỗi hành vi của các Ngài đều là xả kỷ vị tha, nên không c̣n chỗ nào để cho nhân quả báo ứng nữa, cả nghiệp xấu cũng không mà nghiệp tốt nữa cũng không, v́ cái tâm của các Ngài đă đạt đến cơi hư không vậy.

 .......oOo.......