ĐỜI SỐNG NỘI TÂM

(THE INNER LIFE)

C. W. LEADBEATER

 

QUYỂN III

Dịch Giả

TÂM THANH

CHI BỘ PHỤNG SỰ CHÂN LƯ

HỘI THÔNG THIÊN HỌC HOA KỲ

2023

 

MỤC LỤC

 

CHƯƠNG I

THẾ GIỚI VÀ CÁC GIỐNG DÂN

Sự H́nh Thành Của Một Thái Dương Hệ 7

Các Dăy Hành Tinh 19

Các Làn Sóng Sinh Hoạt Liên Tục 28

Các Chân Thần Từ Dăy Mặt Trăng 54

Dăy Địa Cầu 70

Các Phương Pháp Cá Nhân Hóa 104

Bảy Cung 120

NHỮNG GHI CHÚ RẢI RÁC

VỀ CÁC GIỐNG DÂN

Giống Dân Ái-Nhĩ-Lan 124

Giống Dân Tây Ban Nha 131

Giống Dân Do Thái 132

Giống Dân Atlantis 136

Hỏa Tinh Và Cư Dân Của Nó 139

CHƯƠNG II

LUÂN HỒI

Ba Định Luật Của Đời Người 152

Đầu Thai 154

Đặc Điểm Cá Nhân 173

Cầu Nối Với Kiến Thức Xưa 174

Khoảng Cách Giữa Các Kiếp Sống 177

 

CHƯƠNG III

LUẬT NHÂN QUẢ

Luật Cân Bằng 193

Phương Pháp Của Luật Nhân Quả 209

Nhân Quả Của Cái Chết 215

Nhân Quả Như Một Vị Thầy 221

Các Loại Nghiệp Quả 224

Nhân Quả Của Loài Thú 231

CHƯƠNG IV

HỘI THÔNG THIÊN HỌC

VÀ NGƯỜI SÁNG LẬP RA HỘI

Hội Thông Thiên Học Là Ǵ? 237

Thông Thiên Học Và Các Nhà Lănh Đạo Trên Thế Giới 250

Hồi Tưởng 261

Trung Thành Cho Đến Chết 274

Khóa Học Thông Thiên Học 283

 

CHƯƠNG I

THẾ GIỚI VÀ CÁC GIỐNG DÂN

 

SỰ H̀NH THÀNH

CỦA MỘT THÁI DƯƠNG HỆ

Toàn bộ bảy cơi trong Thái dương hệ của chúng ta tạo nên cơi thấp nhất trong các cơi vĩ đại của vũ trụ. Có một thời điểm mà cơi thấp nhất này chỉ có đúng một chất liệu nguyên tử, hay nói một cách khác, các bọt tiên thiên khí. Có thể nói đây là t́nh trạng khởi đầu của nơi h́nh thành một Thái dương hệ. Khi Đức Thái Dương Thượng Đế chọn biểu lộ - khi Ngài đi từ cơi vĩnh hằng vào thời gian v́ muốn tạo ra hệ thống này, Ngài khởi đầu bằng cách vạch ra một khu vực rơ ràng mà ranh giới của nó có lẽ là ṿng hào quang của Ngài.

Trong khu vực đó, Ngài bắt đầu công việc của ḿnh bằng cách sử dụng các bọt tiên thiên khí - có lẽ được tạo ra bởi một vị Thượng Đế thậm chí c̣n cao vời hơn Ngài - như vị Thượng Đế đó đă tạo ra các hạt nguyên tử thuộc về cơi cao nhất của chúng ta và tạo ra Thái dương hệ này trong bảy hơi thở. Ví dụ, Ngài không phải làm ra chất liệu của cơi trần trực tiếp từ chất liệu của cơi trung giới mà hít vào trong chính Ngài một số chất liệu trung giới rồi thở chúng ra theo một công thức phối hợp hoàn toàn mới. Do đó, chúng ta có những ǵ đôi khi được gọi là một tanmatra mới, cũng như là một tattwa mới cho mỗi cơi.

Tôi đã nghe được định nghĩa ngắn gọn và rơ ràng nhất về những danh từ này từ Ông T. Subba Rao quá cố. Ông đă từng nói rằng:

Tanmatra là sự thay đổi trong tâm thức của Thượng Đế và tattwa là kết quả của sự thay đổi đó trong vật chất. Bạn có từng thấy một làn sóng nhỏ lặng lẽ vỗ lên băi cát rồi rút xuống dưới nhưng để lại đằng sau một lằn trên băi biển để đánh dấu mức giới hạn của nó hay không? Khi ngọn thuỷ triều dâng lên, ngọn sóng kế tiếp sẽ vỗ xa hơn nữa trên băi cát, tạo ra một dấu tích rồi lại chuồi xuống dưới. Bạn có thể nghĩ về tanmatra như làn sóng đó, một sự thay đổi tạm thời của đại dương, và lằn mới được vạch ra trên băi cát như là biểu tượng của tattwa. Ư nghĩa của danh từ tattwa có lẽ là “đặc tính đó” hoặc “bản chất sẵn có đó.”

Khi chúng ta đi xuống các cơi thấp hơn, mặc dù hạt nguyên tử của các cơi đó không phải được tạo ra trực tiếp từ nhau, nhưng nó cũng đúng là hạt nguyên tử của các cơi thấp hơn không thể nào được h́nh thành nếu các bọt tiên thiên khí tạo ra nó đă không có sẵn kinh nghiệm từ lúc chúng tạo ra các hạt nguyên tử của các cơi bên trên. Hạt nguyên tử của cơi thứ nh́ (Đại Niết Bàn) đă sẵn có 49 bọt tiên thiên khí, và hạt nguyên tử của cơi thứ ba (cơi Niết Bàn) có đến 2,401 bọt tiên thiên khí (hoặc 492). Tỷ lệ này sẽ được giữ y như vậy cho đến cơi cuối cùng, cho nên cùng một năng lượng tạo ra 49 hạt nguyên tử của cơi trung giới chỉ tạo ra một hạt nguyên tử hồng trần, với các bọt tiên thiên khí được sắp xếp khác nhau.

Nếu chúng ta có thể lấy hạt nguyên tử hồng trần và đặt nó trở lại từng cơi cao hơn cho đến cơi cao nhất, chúng ta sẽ thấy nó chứa đựng khoảng 14 tỷ (496) bọt tiên thiên khí. Tuy nhiên, khi Thượng Đế tạo ra các cơi, chất liệu của một cơi được rút vào bên trong Ngài và phân tán thành các bọt tiên thiên khí như lúc ban đầu, rồi sau đó mới được tái phối hợp để tạo ra chất liệu của cơi kế tiếp thấp hơn. Có lẽ thần lực của vị Thượng Đế cao vời hơn nữa được dùng để tạo ra các bọt bong bóng bên trong koilon là cái mà Bà gọi là fohat, v́ bạn nên nhớ rằng điều này đă được nhắc đến như là khoan các lỗ trong không gian, và các lỗ đó có thể là các bọt cực nhỏ này, thay v́ là các thái dương hệ, như chúng ta đă giả định lúc ban đầu.

Tôi không biết là mỗi bọt tiên thiên khí có xoay quanh trục của nó hay không. Hăy nhớ, nó không phải như bọt xà-bông, vốn chỉ là một lớp phim mỏng của nước có bề mặt ở bên trong và bên ngoài để bao bọc không khí bên trong nó. Thật ra, nó giống như bọt sô-đa th́ đúng hơn, chỉ có một bề mặt, nơi mà không khí gặp nước. Khi chúng ta sử dụng thị lực cao nhất để nghiên cứu nó, nó h́nh như hoàn toàn trống rỗng nên chúng ta không thể biết được liệu có bất kỳ một hoạt động nào xảy ra bên trong hay không. Nó dường như không có bất cứ một hoạt động ǵ của riêng nó, nhưng một bọt hoặc một khối của nó có thể được di chuyển từ bên ngoài bằng nỗ lực của ư chí. Hai bọt tiên thiên khí không thể nào chạm vào nhau trong bất cứ trường hợp nào.

H́nh vẽ của hạt nguyên tử hồng trần nằm đối diện với trang tiêu đề của quyển Minh Triết Cổ Truyền không phải là hoàn toàn chính xác, nó nh́n quá bằng phẳng như một miếng mề đay nhỏ (locket). H́nh vẽ trong cuốn Hoá Học Huyền Bí c̣n chính xác hơn nhiều. Trên thực tế, hạt nguyên tử nh́n gần tṛn như một quả cầu, với các điểm nhô ra của nó nằm gần trên bề mặt của quả cầu. Nó nh́n hơi giống như một cái lồng sắt được cấu tạo bằng mười sợi dây dài vô tận nằm cách nhau và không bao giờ sẽ chạm vào nhau - có nghĩa là, nếu bất cứ một sợi dây nào được tháo ra rồi đặt nằm xuống mặt phẳng, nó sẽ là một ṿng tṛn. Sự sắp xếp của nó khá phức tạp và cần có một h́nh vẽ để làm cho nó rơ ràng hơn. Nếu ai có thể nặn ra được một h́nh mẫu th́ tốt hơn, nhưng không ai có đủ kiên nhẫn hoặc thời gian để làm ra nó.

Khi nh́n lại h́nh vẽ trong quyển Hoá Học Huyền Bí, người ta sẽ thấy rằng có ba dây trong mười sợi dây này dày hơn số c̣n lại, v́ trong ba sợi dây này có bảy bộ ṿng xoắn không thật sự ăn khớp với nhau như là trong các sợi dây khác, bởi v́ cứ 700 ṿng xoắn th́ lại có thêm bốn hạt nguyên tử. Điều này có nghĩa là có thêm một bọt cứ cách mỗi 175 bọt tiên thiên khí, và đó là nguyên nhân tại sao ba sợi dây này có vẻ to hơn số c̣n lại. Một nhà khoa học, khi phê b́nh bài viết Koilon, nói rằng một người thật không thể nào đưa ra một con số chính xác khi làm việc với các phân tử nhỏ như vậy, nhưng đó là v́ ông ta không hiểu nó chỉ là vấn đề đếm và so sánh các con số với nhau mà thôi.

Hạt nguyên tử có ba cách chuyển động riêng của nó: (1) xoay quanh trục của nó, (2) chạy ṿng theo quỹ đạo v́ nó luôn chạy quanh một ṿng tṛn nhỏ, và (3) đập như một trái tim, một sự co giăn liên tục. Ba loại chuyển động này lúc nào cũng diễn ra và không bị ảnh hưởng bởi bất kỳ lực nào từ bên ngoài. Một lực từ bên ngoài, chẳng hạn như một tia ánh sáng, sẽ làm cho nguyên cả hạt nguyên tử di động lên xuống một cách dữ dội, giai đoạn chuyển động lâu hay mau này tuỳ vào cường độ của ánh sáng, và làn sóng (wave-length) của nó được quyết định bởi màu sắc của ánh sáng. Một điều kỳ lạ là khi chuyện này xảy ra, một trong bảy sợi dây nhỏ của hạt nguyên tử bắt đầu phát sáng, sợi nào tương ứng với màu sắc của ánh sáng sẽ là sợi dây làm cho toàn bộ hạt nguyên tử di động.

Nhờ vào thần lực của Thượng Đế tuôn tràn qua nó mà hạt nguyên tử tồn tại, cũng như ở một góc đường, một cơn gió lốc cuốn các chiếc lá và bụi với nhau thành một cột xoắn nhỏ nên nó hiện hữu. Cũng như thế, sự tồn tại của vật chất hoàn toàn lệ thuộc vào ư nghĩ liên tục trong tâm trí của Thượng Đế; nếu Ngài chọn rút thần lực của Ngài ra khỏi cơi trần - không c̣n suy nghĩ về nó nữa - tất cả các hạt nguyên tử hồng trần sẽ lập tức tan ră,và toàn bộ cơi trần sẽ lập tức biến mất, như ánh sáng của một ngọn nến khi bị thổi tắt.

Ngoài thần lực giữ cho hạt nguyên tử tồn tại trong h́nh dạng xoắn ốc của nó, Thượng Đế cũng có những lực khác tác động chung quanh các cuộn dây của nó - hay có lẽ nói đúng hơn, một trong các thần lực của Ngài đang tác động lên một số cấp bậc khác nhau. Bảy cấp bậc của thần lực này cuối cùng sẽ tác động lên bảy bộ ṿng xoắn ở cuối ṿng tuần hoàn thứ bảy, nhưng tạm thời một số lực vẫn chưa hoạt động v́ hiện giờ chỉ mới là ṿng tuần hoàn thứ tư.

Có một số lư do để tin rằng cái mà các nhà khoa học gọi là hạt âm điện tử (electrons) có thể là thứ mà chúng ta gọi là hạt nguyên tử cơi trung giới, v́ họ đă nói rằng hạt nguyên tử hoá học của hydrogen có lẽ chứa được khoảng 700 đến 1,000 hạt âm điện tử. Bây giờ, t́nh cờ ta thấy rằng trong hạt nguyên tử hoá học của hydrogen chứa được 882 hạt nguyên tử trung giới. Có lẽ đây là một sự trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng dường như điều này thật khó xảy ra. Nếu giả thuyết này là đúng, nó có nghĩa là trong một vài thí nghiệm của họ, các nhà khoa học của chúng ta đă thật sự phân tán được chất liệu hồng trần và thẩy nó lại cơi trung giới. Trong trường hợp đó, có lẽ họ sẽ phải sớm chấp nhận sự tồn tại của chất liệu trung giới, mặc dù tự nhiên họ sẽ không nghĩ rằng nó là ǵ cả ngoại trừ nó là một phần nhỏ hơn nữa của chất liệu hồng trần.

Tôi không biết trong các trường hợp như vậy, các hạt nguyên tử hồng trần bị phân tán liệu có tự kết hợp lại với nhau hay không. Tuy nhiên, trong các thí nghiệm của chúng tôi, khi một hạt nguyên tử hồng trần bị phân tán thành các hạt nguyên tử thuộc về cơi trung giới hoặc cơi trí bằng nỗ lực của ư chí, nó chỉ có nghĩa là trong khoảnh khắc đó, ư chí của con người đang kháng cự lại ư chí thiêng liêng tạo ra hạt nguyên tử đó. Nó đ̣i hỏi một nỗ lực đặc biệt để giữ hạt nguyên tử tạm thời trong một h́nh thù khác, và một khi ư chí của con người rút lui th́ ư chí thiêng liêng sẽ lập tức tự khẳng định lại và hạt nguyên tử hồng trần sẽ được h́nh thành một lần nữa. Tuy nhiên, sự kiện này dường như chỉ áp dụng cho sự phân tán của hạt nguyên tử cơ bản của mỗi cơi, v́ khi chúng tôi phân tán hạt nguyên tử hoá học thành hạt nguyên tử cơ bản hồng trần, nó vẫn cứ ở trong t́nh trạng đó chứ không trở lại trạng thái ban đầu của nó.

Chúng tôi được cho biết rằng, trong không gian giữa các v́ sao (hay giữa các thái dương hệ), các hạt nguyên tử đều nằm cách nhau đồng đều, và tôi tin rằng đây là trạng thái thông thường của chúng khi không bị quấy nhiễu. Đây là ư nghĩa của các hạt nguyên tử được “tự do.” Tuy nhiên, trong bầu khí quyển của một hành tinh, chúng không bao giờ được t́m thấy trong trạng thái này v́ thậm chí khi chúng không bị tụ hợp lại thành một nhóm với nhau theo nhiều h́nh thức, chúng cũng bị ép sát vào nhau do ái lực.

Con người có một nhân thể ở cảnh nguyên tử của cơi trí, nhưng các hạt nguyên tử cơi trí tạo ra nhân thể sẽ bị ép lại với nhau bởi ái lực để tạo ra một h́nh dáng nhất định và dày đặc, mặc dù bản thân chúng không hề bị thay đổi hoặc tụ lại để trở thành các phân tử (molecules). Một cơ thể như vậy có thể tồn tại thoải mái ở chính cảnh nguyên tử của nó gần một hành tinh, nơi mà chất liệu nguyên tử tồn tại trong trạng thái bị ép lại. Tuy nhiên, nó không thể nào di chuyển hoặc hoạt động được trong một vùng không gian xa xôi hơn, nơi mà các hạt nguyên tử được hoàn toàn tự do và không bị ép lại với nhau.

Điều kiện trong không gian giữa các hành tinh có lẽ không giống như giữa các v́ sao (hay các Thái Dương Hệ) v́ nó có quá nhiều sự va chạm từ chất liệu của sao chổi và thiên thạch (comets and meteors), cùng với sức hút mănh liệt của mặt trời cũng tạo ra một sức ép khá lớn trong phạm vi hệ thống của nó. Thật vậy, ṿng xoáy mà Thượng Đế tạo ban đầu dĩ nhiên vẫn c̣n hoạt động, và một phần tác động của nó là thu hút các chất liệu từ không gian chung quanh để ép chúng lại với nhau. Tôi không có thông tin ǵ cho câu hỏi liệu các hạt nguyên tử trôi nổi trong ranh giới của một thái dương hệ có nhất thiết phải được làm sinh động bởi loài tinh hoa chất hay không, nhưng theo tôi, dường như khả năng này chỉ có thể xảy ra với các hạt nguyên tử tạo nên thể trí, thể vía và thể xác của mặt trời (thể cuối cùng dĩ nhiên bao gồm bầu khí quyển và các dạng thấp hơn của chất liệu dĩ thái), và một số hành tinh và các sao chổi khác cũng được làm sinh động như thế.

Dù sao đi nữa, như chúng tôi đă nói lúc ban đầu, Thượng Đế chọn một vùng hoạt động của Ngài, một khu vực với diện tích vượt quá tầm hiểu biết của chúng ta. Khoa thiên văn cho chúng ta biết rằng khoảng cách giữa các thái dương hệ xa đến nỗi tỷ lệ của nó so với kích thước của chính các thái dương hệ là khổng lồ. Tuy nhiên, có thể là các vị Thượng Đế của các hệ thống đó vẫn giữ liên lạc với nhau, và mỗi thái dương hệ hiện hữu ở trung tâm của mỗi bầu cực lớn đó đại diện cho phần cô động lại của vật liệu ban đầu nằm rải rác khắp toàn bộ khu vực của diện tích bao la đó, trong t́nh trạng phân tích nhỏ nhất có thể của nó - có lẽ là t́nh trạng của các bọt tiên thiên khí, hạt nguyên tử ở cơi cao nhất của chúng ta.

Ở một giai đoạn nhất định nào đó trong quá tŕnh đông đặc lại hoặc ép lại của vật chất, một thời điểm khi đường bán kính của quả cầu của Ngài vẫn c̣n vươn xa khỏi ṿng quỹ đạo của hành tinh bên ngoài cùng của hệ thống chúng ta ngày nay, Ngài thiết lập bên trong nó một ṿng chuyển động xoay tít kèm theo tác động của một ḍng điện cực mạnh, do đó tạo ra một thứ xoáy lốc khổng lồ theo nhiều chiều đo khác nhau. Sức ép của khối vật chất quay cuồng này sẽ diễn ra liên tiếp trong một thời gian dài vô tận đối với chúng ta, và trong quá tŕnh này Ngài sẽ thở ra bảy hơi thở mà chúng ta đă nhắc đến trước đây, do đó kết hợp các bọt tiên thiên khí trở thành chất liệu nguyên tử của các cơi khác nhau. Cuối cùng sẽ đến một thời điểm mà Ngài truyền cho nó một loại điện kích động để nó có thể lắng đọng xuống thành một trạng thái (cơi) vật chất thấp hơn, nên thay v́ chỉ là những tập hợp của các hạt nguyên tử, nó trở thành một sự phối hợp chặt chẽ giữa chúng, thường là một khối khí hydrogen phát sáng.

đây, chúng ta có giai đoạn của một khối tinh vân khổng lồ (nebula) mà trong đó có nhiều thái dương hệ khác nhau trong vũ trụ của chúng ta đang thành h́nh, một dữ kiện có thể được nh́n thấy qua bất kỳ ống kính viễn vọng lớn nào. Khi bầu tinh vân của chúng ta xoay quanh trục của nó dần dần nguội lại, co lại rồi dẹt xuống, nó cuối cùng trở thành một chiếc đĩa quay khổng lồ thay v́ một quả cầu. Các đường nứt sẽ nhanh chóng hiện ra trong cái đĩa này, và nó sẽ vỡ ra thành các ṿng đai với h́nh thù hơi giống sao Thổ (Saturn) và các vùng lân cận của nó, nhưng ở một quy mô khổng lồ hơn. Tại một điểm được chọn ở mỗi ṿng đai này, một ṿng xoáy phụ được thiết lập và dần dần nhiều chất liệu trong ṿng đai này sẽ được tụ tập vào trong đó. Sự chấn động gây ra các mảnh vỡ đă tạo ra một sức nóng để biến chúng thành trạng thái khí và do đó tạo ra một quả cầu khí phát sáng khổng lồ mà lúc nguội lại, nó đông đặc trở thành một hành tinh.

Tuy nhiên, hành tinh được h́nh thành ở vành đai của phần đặc biệt của hệ thống này không phải là trái đất mà là mặt trăng. Chúng ta thường nghĩ về mặt trăng như là một vệ tinh (satellite) của trái đất, trong tâm trí của chúng ta so sánh nó với vệ tinh của Hỏa Tinh (Mars), Mộc Tinh (Jupiter) hoặc Thổ Tinh, nhưng trên thực tế, sự so sánh này không công bằng, v́ mặt trăng là một hành tinh bạn hơn là một vệ tinh. Không có vệ tinh nào trong thái dương hệ này có tỷ lệ của nó tương đương với hành tinh chủ như mặt trăng đối với trái đất, mặc dù hiện giờ nó đă nhỏ hơn nhiều so với khi trước, như sẽ được giải thích sau đây. Nó là một hành tinh thuộc cơi trần của dăy mặt trăng, và nhân loại hiện nay của chúng ta đă từng cư ngụ ở đó trong quá khứ, mặc dù lúc đó chúng ta thuộc về một giai đoạn tiến hoá thấp hơn thuộc về loài cầm thú.

Trái đất ra đời khi sự sống trên mặt trăng đă kết thúc. Một ṿng xoáy mới được thiết lập cách mặt trăng không xa, và phần chất liệu c̣n lại của ṿng đai được dần dần tập hợp vào bên trong nó. Kết quả của các va chạm một lần nữa tạo ra một quả cầu khí phát sáng, bao bọc cơ thể của mặt trăng và rất nhanh giảm nó xuống t́nh trạng của chất khí tương tự. Khi khối lượng tổng hợp này từ từ nguội lại, sự đông đặc diễn ra chung quanh hai ṿng xoáy, nhưng hầu hết phần lớn vật chất được hút theo ṿng xoáy mới để trở thành trái đất, bỏ lại mặt trăng với một thể xác nhỏ hơn khi trước và hoàn toàn bị hút hết nước và không khí.

Do sức nóng dữ dội, mặt trăng vẫn c̣n ở trong trạng thái dẻo như bùn nóng, và trái đất lúc đầu cũng phải chịu nhiều vụ núi lửa nổ tung khủng khiếp. Trong quá tŕnh này, các khối đá khổng lồ với đường kính dài thường cả mấy trăm dặm bị bắn tung lên trong không gian rất xa theo mọi hướng. Phần lớn khối đá này rớt trở lại trên mặt đất, nhưng có một số bắn chạm đến mặt trăng trong khi nó c̣n trong trạng thái dẻo như nhựa và do đó tạo ra nhiều hố trũng khổng lồ mà hiện nay chúng ta gọi là miệng núi lửa của mặt trăng. Bất cứ ai chịu khó liệng một vài viên sỏi vào bùn đúng lúc ở giai đoạn dẻo của nó sẽ thấy rằng kết quả này sẽ hoàn toàn giống như kết quả mà chúng ta quan sát được trên bề mặt của mặt trăng. Mặt trăng có một số miệng núi lửa thật sự của nó, nhưng không nhiều.

Mặt trăng hiện nay giống như một khối than khổng lồ, cứng nhưng xốp, với độ đặc không khác ǵ đá bọt (pumice stone), nhưng cứng hơn. Hiện giờ, không có bất cứ một h́nh thức hoạt động nào đang diễn ra trên bề mặt của mặt trăng. Nó đang từ từ tan ră, và chúng tôi được biết rằng trong ṿng tuần hoàn thứ bảy của chúng ta, nó sẽ tan biến mất và vật liệu của nó (và có thể một số từ bầu của chúng ta) sẽ được sử dụng để thiết lập một thế giới mới mà sẽ là bầu hành tinh duy nhất thuộc về cơi trần trong lần đầu thai kế tiếp của dăy chúng ta. Đối với bầu mới đó, những ǵ c̣n lại trên trái đất này sẽ hoạt động như là một vệ tinh.

Mặt trăng thường được mô tả trong văn chương Thông Thiên Học là bầu thứ tám bởi v́ nó không phải là một trong bảy bầu hành tinh của dăy Địa Cầu, nơi mà sự tiến hoá đang diễn ra. Do đó, nó được gọi là “ngơ cụt,” nơi mà chỉ có rác rưới tụ tập, và nó giống như một đống bụi hoặc một thùng rác của Thái Dương Hệ chúng ta - một bể rác cảm dục của nhiều loại mảnh vụn đang thối rữa bị ném vào, chẳng hạn như một phàm ngă bị đánh mất v́ nó tự xé ḿnh ra khỏi linh hồn đă cho phép nó tuột khỏi tầm tay của y theo cách mà tôi đă giải thích trong quyển đầu tiên của bộ sách này, trong đoạn “Linh Hồn Bị Đánh Mất.”

 

CÁC DĂY HÀNH TINH

Thái dương hệ của chúng ta hiện có mười dăy, mỗi dăy có bảy bầu, và chúng đang tiến hoá bên cạnh nhau, tuy ở các giai đoạn khác nhau. Trong số này, bảy dăy có một bầu hoặc nhiều hơn đại diện cho chúng ở cơi trần, nhưng ba dăy kia chỉ tồn tại ở những cơi cao hơn. Một dăy có bao nhiêu bầu ở cơi trần và vào thời điểm nào là tùy vào giai đoạn tiến hoá của nó. Các bầu của mỗi dăy tŕnh bày cho chúng ta thấy một chu kỳ tiến hoá nhỏ của việc đi sâu vào vật chất rồi rút lên ra khỏi nó, và cũng theo cách như vậy, mỗi dăy cũng đầu thai liên tục, thâm nhập vào vật chất đặc hơn để rồi rút lên ra khỏi nó. Dăy của chúng ta hiện đang ở trong mức độ vật chất đậm đặc nhất, nên ba trong bảy bầu của nó đang ở cơi trần, hai bầu ở cơi trung giới, và hai bầu c̣n lại ở cơi hạ trí.

Chúng tôi thường dùng chữ trong bảng chữ cái để đánh dấu các bầu này theo thứ tự của chúng; v́ thế, chúng tôi nên giới thiệu t́nh trạng hiện thời bằng cách nói rằng bầu A và G là ở cơi hạ trí, bầu B và F là ở cơi trung giới, và bầu C, D, và E là ở cơi trần, với C và E nhỏ hơn D. Người ta sẽ thấy rằng khi sự sống đi ṿng qua một dăy, nó đang từ từ đi sâu xuống vào vật chất từ bầu A đến D, nhưng nó sẽ quay ngược trở lên và liên tiếp bỏ xuống những lớp màn che của vật chất khi nó đi lên từ bầu D đến G.

Đây là t́nh trạng đầu thai lần thứ tư và vật chất (đậm đặc) nhất của mỗi dăy. Nhưng trong lần đầu thai thứ ba và thứ năm của nó, mỗi dăy đều có bầu hành tinh thứ nhất và thứ bảy ở cơi thượng trí, bầu thứ nh́ và thứ sáu ở cơi hạ trí, bầu thứ ba và thứ năm ở cơi trung giới, và chỉ có một bầu hành tinh duy nhất là bầu thứ tư ở cơi trần. Trong lần đầu thai thứ hai và thứ sáu, mỗi dăy sẽ ở một tầng cao hơn: bầu hành t́nh thứ tư ở cơi trung giới, bầu thứ ba và thứ năm ở cơi hạ trí, bầu thứ nh́ và thứ sáu ở cơi thượng trí, và bầu thứ nhất và thứ bảy ở cơi Bồ Đề. Trong lần đầu thai thứ nhất và thứ bảy của một dăy, nó sẽ ở một cơi thậm chí cao hơn nữa, v́ lúc đó bầu hành tinh thấp nhất sẽ ở cơi hạ trí, và bầu thứ nhất và thứ bảy sẽ ở cơi mà chúng ta gọi là cơi Niết Bàn.

Chúng tôi thật khó có thể giải thích được ư nghĩa của một bầu hành tinh ở các cơi siêu việt như cơi Niết Bàn và Bồ Đề, và có lẽ chúng tôi cũng không nên dùng danh từ (hành tinh) như vậy để mô tả nó. Thật ra, những ǵ mà chúng tôi muốn nói chỉ là có một chỗ nhất định trong không gian cho một nhóm Chân Thần đặc biệt để tiến hoá, qua các cơ quan làm việc ở những cơi siêu việt như thế.

Mỗi bầu trong số bảy mươi hành tinh này có thể được coi như là giữ một vị trí đặc biệt trong không gian và nó xoay ṿng, hoặc bị bắt buộc theo một cách nào đó, quanh mặt trời của chúng ta. Trong số bảy mươi hành tinh này, chỉ có mười hai hành tinh thuộc về cơi trần, và ngay trong số mười hai hành tinh này, có một hành tinh c̣n chưa được công nhận bởi khoa học, và hai hành tinh khác chỉ mới vừa được khám phá ra gần đây.

Sự hiện hữu của Vulcan (Hoả Diệm Vương Tinh) đă được công nhận bởi các nhà thiên văn một thế kỷ trước đây, nhưng v́ nó không c̣n được nh́n thấy nữa hiện nay nên các nhà khoa học hiện giờ cho rằng các quan sát trước đó là sai. Không có một nhà thiên văn nào có thể tưởng tượng được có hai hành tinh nằm ngoài ṿng quỹ đạo của Hải Vương Tinh (Neptune) ở thời điểm chúng được đề cập đến lần đầu tiên trong các bài viết của Thông Thiên Học, nhưng hiện giờ sự hiện hữu của chúng đă được chấp nhận do hậu quả của sự phản hồi lệch hướng mà chúng tạo ra trong quỹ đạo của một số sao chổi nhất định.

Bà Blavatsky nói rằng Hải Vương Tinh không phải thuộc Thái dương hệ của chúng ta, nhưng chắc chắn nó xoay ṿng quanh mặt trời của chúng ta. Do đó, Bà Blavatsky chắc hẳn đang nói theo một cách thần bí hoặc tượng trưng nào đó khi bà dùng những lời như vậy. Cũng từ góc nh́n huyền bí học, dăy Hải Vương Tinh cũng rơ ràng là một phần của hệ thống chúng ta, một trong mười dăy tạo nên nó, nên chúng tôi tạm thời không thể giải thích được ư nghĩa của lời tuyên bố của Bà Blavatsky. Điều này ít nhất không hàm ư rằng nó thực sự vô nghĩa hoặc không chính xác.

Chúng tôi thường t́m thấy một vài đoạn trong bài viết của Bà mà từ lâu chúng tôi phải đặt chúng qua một bên là khó hiểu hoặc nghịch lại với các sự kiện được biết, nhưng chúng lại mang một ư nghĩa đặc biệt và theo một nghĩa nào đó lại là đúng, mặc dù các điều này chỉ được khám phá ra sau khi một khía cạnh mới về chủ đề đó được đưa ra (bằng cách nh́n thật sâu) về các cơi cao hơn. Chắc chắn ở một thời điểm thích hợp nào đó, lời tuyên bố bí ẩn về Hải Vương Tinh cũng sẽ được chứng minh là một trường hợp như trên.

Bên cạnh sự tiến hoá diễn ra trên bảy mươi hành tinh mà chúng ta đă nói, c̣n có những ḍng tiến hoá khác đang xảy ra, v́ mỗi tấc không gian đều được tận dụng. Thậm chí trong chính bọt tiên thiên khí cũng có thể đang có một sự tiến hoá đang diễn ra mà chúng ta không biết đến và cũng không thể tưởng tượng nỗi. Chúng ta c̣n biết rất ít về hệ thống kỳ diệu mà chúng ta thuộc về; tất cả những ǵ Thông Thiên Học đă dạy, tuy đă làm thay đổi khá nhiều cuộc sống của chúng ta, nhưng nó chỉ vén lên một góc nhỏ của bức màn che. Tất cả không gian đều tràn ngập sự sống, và thậm chí c̣n có những ḍng tiến hóa thấp hơn cơi trần. Đôi khi, con người có tiếp cận với ḍng tiến hóa thấp hơn đó, dù việc này không bao giờ là một điều tốt. Tuy nhiên, chúng ta sẽ phạm một sai lầm lớn nếu ta nói về cư dân của thế giới thấp hơn này là xấu xa. Chắc chắn rằng ḍng tiến hoá này sẽ gây hại cho chúng ta nếu ta vướng mắc vào nó, nhưng đó chỉ là v́ nó không phải dành cho chúng ta.

Trong bảy dăy có các bầu hành tinh ở cơi trần, theo thứ tự từ vị trí của dăy gần mặt trời nhất rồi ra ngoài, chúng ta có trước tiên là Vulcan (Hoả Diệm Vương) với một bầu duy nhất ở cơi trần, nó nhỏ và rất nóng. Dăy Hoả Diệm Vương hiện đang ở lần đầu thai thứ ba của nó, nhưng chúng tôi được cho biết rằng hệ thống tiến hoá của nó sẽ không mang các thực thể của nó đến tŕnh độ tiến hóa cao như các cư dân của bầu hành tinh chúng ta sẽ đạt được ở thời điểm kết thúc (quả vị Chân Tiên).

Thuỷ Tinh (Mercury) là hành tinh kế tiếp và thuộc về dăy địa cầu.(???)

Kim Tinh (Venus) là hành tinh duy nhất ở cơi trần thuộc dăy của nó. Nó hiện đang ở ṿng tuần hoàn thứ bảy của lần đầu thai thứ năm, và nó đại diện cho ḍng tiến hoá cao nhất của nhân loại trong Thái Dương Hệ này. Do sự tiến hoá siêu phàm của nó nên nó có thể giúp đỡ các dăy khác kém tiến hoá hơn. Từ dăy này, như chúng ta đă biết, các vị Hỏa Đức Tinh Quân (Lords of the Flame) đă giáng phàm để đẩy mạnh sự tiến hoá của nhân loại vào giữa chu kỳ của giống dân chính thứ ba của chúng ta.

Có một dữ kiện đáng chú ư là khoảng 150 năm trước đây, qua nhiều lần quan sát, các nhà thiên văn đă ghi lại sự hiện diện của một vệ tinh của Kim Tinh mà hiện nay chắc chắn đă không c̣n bầu nào như thế nữa. Suy luận thông thường là các nhà thiên văn trước đây đă lầm lẫn. Tuy nhiên, điều này thật là không thể nào đối với con số và nhân phẩm của các nhân chứng, cũng như các cuộc quan sát đă được lập đi, lập lại nhiều lần của họ. Nó đă được nh́n thấy bởi các nhà thiên văn nổi tiếng như Cassini và Short vào năm 1761, không phải chỉ một lần mà nhiều lần như thế, qua các ống kính viễn vọng khác nhau. Nó cũng được quan sát bởi Scheuten trong toàn bộ đường di chuyển của nó với sao Kim Tinh trong cùng năm đó, và nó được nh́n thấy bốn lần bởi Montaigne và một lần nữa vào năm 1764 bởi Rodkier, Horrebow và Montbaron. Đường kính của nó được ước lượng là khoảng hai ngàn dặm. Chắc hẳn sự quan sát của tất cả các nhà thiên văn này đều đúng v́ chúng tôi được cho biết rằng trong ṿng tuần hoàn thứ bảy của chúng ta, mặt trăng sẽ tan ră và chúng ta sẽ không c̣n có một vệ tinh nữa. Có thể đây là một trường hợp ngẫu nhiên v́ sao Kim Tinh hiện giờ đang ở trong ṿng tuần hoàn thứ bảy, nhưng đó thật là một điều kỳ lạ.

Các hành tinh kế tiếp là Địa cầu (Earth) và Hỏa Tinh (Mars), và hai bầu này cùng với Thuỷ Tinh là ba hành tinh ở cơi trần của một (3) dăy đang ở trong lần đầu thai thứ tư của nó. Trái đất của chúng ta (hành tinh D) là bầu thấp nhất và vật chất nhất trong dăy của nó, trong khi Hỏa Tinh là hành tinh C và Thuỷ Tinh là hành tinh E. Nhiều thành viên tiến hoá hơn của nhân loại chúng ta đă không có mặt ở Hỏa Tinh khi làn sóng của sự sống vĩ đại đi qua nó lần cuối, như sẽ được giải thích ở sau, nhưng phần lớn nhân loại chắc chắn đă từng đầu thai nhiều lần trên bầu hành tinh này, và chúng ta đă để lại nhiều thành tích về sự hiện hữu của ḿnh, đương nhiên đang được tận dụng bởi các cư dân hiện nay. Khi thời gian cư ngụ của chúng ta ở trái đất này đă viên măn, mọi người chúng ta sẽ đi đến một đời sống ít thiên về vật chất hơn ở sao Thuỷ Tinh, nơi mà tâm thức b́nh thường của con người sẽ vươn ra xa hơn so với hiện giờ, v́ con người trung b́nh lúc đó sẽ sở hữu một cái được gọi là thị lực dĩ thái. Theo như tôi biết, không có một căn cứ ǵ cho lời tuyên bố của một tác giả gần đây nói rằng tên thật của sao Thuỷ Tinh và Kim Tinh đă được hoán đổi với nhau. Quả thật, v́ chúng tôi biết rất nhiều về các hành tinh này nên ư tưởng đó thật không thể tin được. (????)

Kế tiếp là các tiểu hành tinh (asteroids) mà vật liệu của chúng đôi khi sẽ được dùng để tạo ra một thế giới khác, nhưng chúng ta không nên để tâm đến chúng hiện giờ.

Hành tinh khổng lồ của Thái Dương Hệ chúng ta là Mộc Tinh (Jupiter) có một dăy riêng của nó và đang ở giai đoạn đầu của sự tiến hóa. Như chúng tôi được biết hiện nay, khó có sự sống nào tồn tại được trên bề mặt quá nóng của nó, nhưng các vệ tinh của nó đều có cư dân. Trên bề mặt của nó có những biển kim loại nóng chảy, và t́nh trạng tương tự cũng tồn tại trên tất cả các hành tinh khổng lồ khác bên ngoài. Nó có mật độ tương đương với nước nếu bạn lấy toàn bộ khối lượng của nó; tuy nhiên, những ǵ chúng ta nh́n thấy được chỉ thực sự là bên ngoài của một đám mây dày cả hàng ngàn dặm, v́ vậy nên chúng ta có một ước lượng sai lầm về kích thước thật sự của nó. Hệ thống tiến hóa của Mộc Tinh hiện giờ đang nằm ở ṿng tuần hoàn thứ nh́ của lần đầu thai thứ ba của nó. Chúng ta được cho biết hệ thống này sẽ nâng nhân loại của nó đến cấp độ tiến hóa cực cao.

Kế tiếp chúng ta đến Thổ Tinh (Saturn) với hệ thống của các ṿng đai và vệ tinh tuyệt vời của nó. Nó là hành tinh duy nhất ở cơi trần trong dăy của nó. Nó cũng đang ở trong ṿng tuần hoàn khá sớm của lần đầu thai thứ ba của nó, và chúng tôi được cho biết nó phát triển chậm hơn nhiều so với các hành tinh khác, nhưng cuối cùng nó cũng sẽ đạt tới một cấp độ tiến hóa siêu phàm.

C̣n đối với các hệ thống của các hành tinh nằm bên ngoài là Thiên Vương Tinh (Uranus) và Hải Vương Tinh (Neptune), chúng tôi có rất ít thông tin, mặc dù chúng tôi biết rằng hệ thống sau (Neptune) đang ở trong lần đầu thai thứ tư, bởi v́ sự thật là nó có thêm hai hành tinh nữa ở cơi trần trong dăy của nó, nhưng quỹ đạo của chúng lại nằm bên ngoài quỹ đạo của chính nó (hành tinh Neptune). Điều kiện tồn tại trên các thành viên khổng lồ nằm ngoài cùng của Thái Dương Hệ chúng ta chắc chắn phải hoàn toàn khác hẳn so với điều kiện ở trên các hành tinh nhỏ hơn ở bên trong, nên chúng ta thật không thể nào h́nh dung được bất cứ một ư tưởng ǵ về đời sống của các cư dân trên đó, thậm chí khi các bầu hành tinh đă nguội xuống trong tương lai.

 

 

CÁC LÀN SÓNG

SINH HOẠT LIÊN TIẾP

Khái niệm về các làn sóng sinh hoạt liên tiếp tuôn ra từ Thượng Đế không phải là một điều khó hiểu, nhưng dường như có vài điều lầm lẫn thường hay nảy sinh trong tâm trí của người học sinh nghiên cứu về nó.

Có lẽ một phần của lỗi lầm này xuất phát từ việc là cụm từ “làn sóng sinh hoạt” (life-wave) được dùng trong văn chương Thông Thiên Học có ba nghĩa khác nhau. Trước nhất, nó được dùng để chỉ về ba làn sóng sinh hoạt (outpourings) của Sự Sống Thiêng Liêng mà nhờ đó Thái Dương Hệ của chúng ta được h́nh thành và sự tiến hóa của nó được cưu mang. Thứ nh́, nó được dùng để chỉ các thần lực liên tiếp tạo ra làn sóng sinh hoạt thứ hai, và tôi sẽ sử dụng cụm từ này đúng theo ư nghĩa thứ hai của nó hiện bây giờ. Thứ ba, cụm từ này cũng được coi như là sự di chuyển của sự sống từ bầu hành tinh này đến bầu khác trong dăy của chúng ta trong quá tŕnh tiến hóa của nó.

Làn sóng sinh hoạt theo nghĩa thứ ba không đồng nghĩa với làn sóng sinh hoạt theo nghĩa thứ hai, mà bao gồm bảy loại thần lực của làn sóng thứ hai hoạt động cùng một lúc, được coi như là một biểu hiện chung cho một thực thể đơn độc. Như chúng ta đă biết, hiện giờ chúng ta có tất cả bảy loài đang biểu lộ: loài người, loài thú, loài thảo mộc, loài kim thạch và ba loài tinh hoa chất đi trước loài kim thạch.

Chúng ta phải hiểu rằng tất cả các loài này đều là biểu hiện của cùng một sự sống - sự sống của Thượng Đế biểu lộ qua làn sóng sinh hoạt thứ hai đến từ phương diện thứ nh́ của Ngài sau khi vật chất thô thiển đă được chuẩn bị sẵn bởi tác động của làn sóng sinh hoạt thứ nhất từ phương diện thứ ba của Thượng Đế để tiếp nhận nó (xin xem Tín Điều Thiên Chúa Giáo, trang 40). Làn sóng sinh hoạt thứ hai đến trong dạng một loạt các làn sóng kế tiếp nhau, làn sóng này theo sau làn sóng kia như các cơn sóng nhỏ của đại dương tiếp theo nhau. Mỗi làn sóng nhỏ này đă đạt đến giai đoạn hiện tại của nó bằng cách đi qua tất cả các giai đoạn đầu tiên, và trong mỗi giai đoạn này nó đă bỏ ra một khoảng thời gian tương xứng với sự sống của bảy thế giới (một ṿng tuần hoàn), đôi khi được gọi là một chu kỳ khai nguyên (manvantara).

Nghĩa đen của chữ tiếng Phạn manvantara có nghĩa là một chu kỳ giữa hai vị Bàn Cổ, do đó nó có thể được áp dụng cho nhiều tầng cấp khác nhau. Chúng ta đă thấy từ quyển Giáo Lư Bí Truyền là mỗi giống dân đều có một vị Bàn Cổ, Ngài là một vị Chân Tiên cao cấp chịu trách nhiệm và giám sát sự cấu tạo và phát triển của nó. Tuy nhiên, cũng có một vị Bàn Cổ cho mỗi chu kỳ của một thế giới của bảy giống dân; lại nữa, cũng có một vị Bàn Cổ cao cấp hơn giám sát sự phát triển của làn sóng sinh hoạt (theo ư nghĩa thứ ba của nó) qua bảy bầu hành tinh của một dăy; và v́ toàn bộ quá tŕnh qua bảy bầu được gọi là một ṿng tuần hoàn, Ngài được gọi là Đức Bàn Cổ của một Ṿng (the Round-Manu).

Bảy Ṿng như vậy hoàn tất một chu kỳ sinh hoạt cho một dăy hành tinh - thật ra là một lần đầu thai của một dăy, và trong suốt chu kỳ dài đăng đẳng này cũng có một vị Cao Cả chủ tŕ và Ngài cũng được tôn là Đức Bàn Cổ. Tuy nhiên, c̣n có Một Vị cao hơn nữa chủ tŕ luôn cả bảy dăy liên tiếp, có thể được coi như là bảy lần đầu thai của một dăy, và nó hoàn tất nguyên cả một hệ thống tiến hóa, nhưng Ngài không được gọi là Đức Bàn Cổ mà là vị Thượng Đế của bảy dăy, hoặc đôi khi được tôn là Đức Hành Tinh Thượng Đế. Do đó, chúng ta có một hệ thống cấp bậc trật tự của các vị Chân Tiên oai hùng cho đến chính bản thân Thượng Đế.

V́ vậy, rơ ràng là danh từ manvantara có thể được sử dụng để chỉ về các chu kỳ khác nhau, tùy theo nó được dùng cho định nghĩa nào vào lúc đó, nhưng trong các tài liệu Thông Thiên Học, nó thường được dùng để chỉ về chu kỳ của một dăy tiến hóa, khoảng thời gian cho một làn sóng sinh hoạt hoàn tất bảy ṿng tuần hoàn. Đối với một chu kỳ lớn hơn của bảy lần đầu thai liên tiếp của một dăy, danh hiệu mahamanvantara (đại chu kỳ khai nguyên) có nghĩa là một manvantara thật lớn, đôi khi cũng được sử dụng.

Bản đồ dưới đây có thể hữu ích cho các môn đồ của chúng ta v́ nó tóm tắt một hệ thống tiến hóa:

7 Nhánh dân làm nên… Một Giống dân phụ.

7 Giống dân phụ làm nên… Một Giống dân chính.

7 Giống dân chính làm nên… Một Thế giới.

7 Thế giới làm nên… Một Ṿng tuần hoàn.

7 Ṿng tuần hoàn làm nên… Một Dăy.

7 Dăy làm nên… Một Hệ Hành tinh.

10 Hệ Hành tinh làm nên… Một Thái dương hệ.

Hiện tại, thật không thực tế nếu chúng tôi cố gắng t́m ra số năm chính xác của những chu kỳ khổng lồ này. Các cuốn sách công truyền (exoteric) của Ấn độ giáo có đưa ra một con số nhất định, nhưng Bà Blavatsky nói với chúng tôi rằng chúng ta không thể tin tưởng hoàn toàn vào các con số này, v́ có những yếu tố khác và những điều huyền bí liên quan đến chúng mà tác giả chưa cân nhắc. Chúng tôi không có thông tin trực tiếp ǵ về các điểm này, nhưng có một số nguyên do để nghi ngờ rằng thời gian của các ṿng tuần hoàn không phải là cố định, mà có một số chu kỳ ngắn hơn các chu kỳ khác. Có người đưa ra ư kiến rằng các chu kỳ trước mắt chúng ta có lẽ sẽ không dài như những chu kỳ mà chúng ta đă đi qua, nhưng một lần nữa, chúng tôi không có tin tức ǵ chắc chắn, và dường như thật vô ích để chúng ta suy đoán.

Trong tất cả các giai đoạn này, bảy làn sóng sinh hoạt đều cùng hoạt động. Mỗi một dăy đều có loài người và loài huynh đệ của họ: đó là loài thú, loài thảo mộc và loài kim thạch. Tuy nhiên, mỗi dăy này đều tiến hoá một cách từ tốn, nên làn sóng sinh hoạt hiện đang làm sinh động loài thú sẽ đi vào cấp bậc loài người ở dăy kế tiếp và cung cấp nhân thể (causal bodies) cho loài người ở dăy đó. Cũng vậy, làn sóng sinh hoạt hiện đang làm sinh động loài thảo mộc ở dăy chúng ta lúc đó sẽ làm sinh động loài thú ở dăy kế tiếp, và cứ như thế.

Từ việc này, nó đương nhiên có nghĩa là chúng ta đă từng là loài thú của dăy mặt trăng và loài thảo mộc của dăy trước đó. Đây không phải là một cách mô tả chính xác v́ lúc đó chúng ta chưa phải là những linh hồn cá biệt, nhưng tinh hoa của làn sóng đó từng làm sinh động loài kim thạch ở dăy thứ nhất, loài thảo mộc ở dăy thứ nh́, và loài thú ở dăy thứ ba, giờ được sử dụng để tạo ra các nhân thể mà chúng ta hiện đang cư ngụ.

Vậy làn sóng đó sẽ phát triển ra sao trong tương lai và nó sẽ biểu hiện như thế nào trong dăy kế tiếp? Nó sẽ không xuất hiện ở đó nữa, v́ chúng ta phải nhớ rằng khi sự tiến hóa của loài người đă kết thúc, bảy con đường tiến hóa kế tiếp sẽ trải ra trước mặt họ. Tôi đă cố giải thích các điều này đến mức rơ nhất có thể trong chương cuối cùng của Những Người Cứu Trợ Vô H́nh.

Tôi không cần phải nhắc lại ở đây những ǵ tôi đă viết, nhưng tôi có thể thêm vào một mảnh thông tin mà tôi đă nhận được sau đó. Một trong bảy con đường tiến hóa của siêu nhân loại mà khi đó chúng tôi phải bỏ trống là con đường dẫn đến công việc mà chúng tôi phải gọi là chức vụ phụ tá. Mỗi đại tướng đều có một số sĩ quan đặc biệt để tạo thành một ban phụ tá, ngoài các sĩ quan b́nh thường đang nắm các chức vụ dưới trướng của ông, và trách nhiệm của họ là kề cận bên ông để sẵn sàng nhận lấy các nhiệm vụ mà ông cần phải giao phó vào bất cứ lúc nào hoặc lấp vào những vị trí trống có thể xảy ra. Đức Thái Dương Thượng Đế cũng có một ban phụ tá, một số Chân Tiên không phục vụ cho bất cứ dăy tiến hóa nào, nhưng lúc nào cũng sẵn sàng giúp đỡ khi cần thiết. Để tham gia vào bộ phận này là một trong những khả năng được mở ra trước mặt người “đă cập bến bờ xa đó.”

Khi dãy tiến hoá của chúng ta đã đến thời điểm phải tan rã và chuyển sự sống của nó qua dãy thứ năm, chúng ta lúc đó cũng đã tiến đến tŕnh độ của bậc siêu nhân để theo đuổi một trong bảy con đường nào đó. V́ vậy, loài người bán khai mở đầu dăy thứ năm sẽ không phải là chúng ta mà là làn sóng tiếp theo chúng ta, hiện giờ đang làm sinh động loài thú của dăy chúng ta.

Cũng theo cách như vậy, Chân Thần của loài thảo mộc (vegetable monad) cũng sẽ tiến đến một cấp độ cao hơn và làm sinh động loài thú của dăy mới đó, trong khi làn sóng sinh hoạt hiện giờ đang làm sinh động loài kim thạch sẽ đi lên tŕnh độ của loài thảo mộc. Do đó, chúng ta thấy rằng trong bảy làn sóng sinh hoạt mà chúng ta biết đến hiện nay, sáu sẽ hiện diện ở dăy thứ năm, nhưng mỗi làn sóng sẽ tăng lên một bậc trong quá tŕnh tiến hoá của nó.

Sau khi đă hoàn tất mục tiêu của quá tŕnh học hỏi trong vật chất, làn sóng sinh hoạt của loài người chúng ta hiện nay sẽ rời khỏi cả lô dăy này, mặc dù một số người từng là thành viên của nó có thể chọn tiếp tục giữ liên hệ với nó với mục đích giúp cho nó tiến hóa. Nhưng sau khi mỗi làn sóng đă tăng lên một nấc, vị trí sau chót của nó sẽ được chuẩn bị như thế nào? Chúng ta có nên cho rằng như vậy loài tinh hoa chất thứ nhất sẽ không được đại diện trong dăy kế tiếp hay sao? Tất nhiên là không, v́ chúng ta sẽ thấy một làn sóng sinh hoạt mới từ Thượng Đế theo sát tiếp theo những làn sóng khác; v́ vậy, làn sóng mới vào này sẽ hoàn tất một bộ bảy các làn sóng sinh hoạt của Thượng Đế trong một dăy.

Quá tŕnh này sẽ diễn ra giống y như vậy ở mỗi dăy kế tiếp. Mỗi làn sóng sinh hoạt của mỗi dăy sẽ hoàn tất mục đích của nó và đi qua bảy con kênh (hay bảy loài) để tiến đến một h́nh thức biểu lộ cao hơn, và mỗi làn sóng phía sau sẽ tiến lên một bậc, chỗ sau chót của mỗi dăy sẽ được lấp vào bởi một luồng sinh khí mới đến từ Thượng Đế.

Mỗi làn sóng này sẽ đi vào loài thấp nhất trong chu kỳ của mỗi một dăy tiến hoá và đi ra khỏi loài đó ở điểm cao nhất của nó. Một luồng sinh khí tươi mát mới đến từ Thượng Đế sẽ gia nhập vào loài tinh hoa chất thứ nhất của mỗi dăy, và như vậy sẽ có sáu luồng sinh khí mới trong một hệ thống tiến hóa nên chúng ta có tổng cộng là 13 làn sóng sinh hoạt làm việc liên tiếp trong một hệ thống của 7 dăy, mặc dù chúng ta không thể có nhiều hơn bảy làn sóng hoạt động cùng một lúc. Tất cả các làn sóng đều tiến đều đặn về phía trước, nhưng chúng luôn giữ y khoảng cách giữa nhau, nên chúng ta có thể t́m thấy bất cứ làn sóng đặc biệt nào ở bất cứ thời điểm nào trong quá tŕnh tiến hoá của nó, và ḍ ngược về quá khứ hoặc tiến về tương lai của nó tùy theo ư muốn.

Hăy lấy làn sóng thứ bảy làm ví dụ: nó đă đi vào lần đầu thai đầu tiên của một dăy với tư cách là loài tinh hoa chất thứ nhất; đến dăy thứ nh́ nó đă đạt đến tŕnh độ của loài tinh hoa chất thứ hai; và ở dăy mặt trăng nó đă làm sinh động loài tinh hoa chất thứ ba. Ở dăy hiện tại của chúng ta, nó đang làm sinh động loài kim thạch, và đến dăy thứ năm và thứ sáu th́ nó sẽ làm sinh động theo thứ tự loài thảo mộcloài thú. Ở dăy thứ bảy, nó sẽ đạt đến tŕnh độ loài người và sẽ đi ra khỏi dăy này qua bảy con đường tiến hóa như các nhân loại khác đă làm. V́ vậy, chúng ta có nguyên một lịch sử của làn sóng sinh hoạt này ngay trước mắt, từ thời điểm nó bắt đầu biểu lộ trong loài tinh hoa chất thứ nhất cho đến lúc nó đạt được tŕnh độ siêu nhân loại vào cuối quá tŕnh tiến hoá đă được vạch sẵn cho nó.

Trước mặt chúng ta không có một kế hoạch tiến hoá nào hoàn chỉnh như làn sóng sinh hoạt này. Chẳng hạn, nếu chúng ta theo dơi chính làn sóng sinh hoạt của ḿnh, chúng ta thấy là nó đă làm sinh động loài thú ở dăy mặt trăng, loài thảo mộc ở dăy thứ nh́ và loài kim thạch ở dăy thứ nhất. Vậy nó đă đạt được sự tiến hoá của ba loài tinh hoa chất ở đâu? V́ rơ ràng nó phải phát triển qua các giai đoạn này trước khi nó biểu lộ trong loài kim thạch; nó đă trải qua chúng ở một hệ thống nào khác trước đó, tuy rằng chúng ta không biết được ở đâu và vào lúc nào. Rơ ràng là trong dăy thứ nhất của chúng ta, làn sóng sinh hoạt thứ bảy là làn sóng duy nhất hoàn toàn mới mẻ v́ tất cả những làn sóng khác (tạo thành một phần của dăy thứ nhất) đă đi qua vài giai đoạn tiến hoá khác ở các hệ thống thế giới khác trước đó. Làn sóng nhân loại của dăy thứ nhất đương nhiên đă trải qua sáu giai đoạn học hỏi trước đó ở một nơi bí mật nào đó, và nó chỉ đến đây để hoàn tất quá tŕnh tiến hóa để chuẩn bị bước lên bảy con đường sẽ trải ra trước mắt nó.

Tuy nhiên, làn sóng sinh hoạt của chúng ta cũng có kéo dài đến tương lai cũng như lùi lại về quá khứ. Làn sóng thứ tám, chẳng hạn, trước tiên đă đi vào dăy thứ hai như một luồng sinh khí mới đến từ Sự Sống Thiêng Liêng, tuy nó sẽ không có đủ thời gian để đạt đến tŕnh độ loài người trong hệ thống tiến hoá của chúng ta. Ở dăy hiện tại của chúng ta, nó đang làm sinh động loài tinh hoa chất thứ ba và gây ra nhiều khó khăn cho chúng ta trong h́nh dạng của loài tinh hoa chất cảm dục. Ở dăy thứ bảy, làn sóng đó sẽ làm sinh động loài thú và v́ vậy, nó sẽ đạt đến tŕnh độ loài người ở dăy thứ nhất của một hệ thống tiến hoá khác của các bầu hiện c̣n đang ẩn ḿnh trong bào thai của vị lai.

Dĩ nhiên, các làn sóng c̣n lại, từ thứ chín đến thứ mười ba, cũng chưa học hỏi xong, nên trong số các làn sóng sinh hoạt sử dụng hệ thống chúng ta như là một sân trường tiến hoá của chúng, chỉ có một làn sóng duy nhất có đủ thời gian để hoàn tất tất cả các giai đoạn học hỏi của nó, một thực tế mà nếu chúng ta có thể nhận thức được tất cả những ǵ nó đ̣i hỏi, sẽ cho chúng ta một ấn tượng rất sâu sắc về nguồn tài nguyên phong phú của thiên nhiên, một cái nh́n thoáng qua về sự sống vĩnh hằng, tuy không bao giờ hấp tấp nhưng cũng không bao giờ ngừng nghĩ, đang hé mở với một độ chính xác tuyệt vời.

Bây giờ, sau khi chúng ta đă có một khái niệm rơ ràng trong tâm trí của chúng ta về sự diễn tiến đều đặn của các làn sóng sinh hoạt, chúng ta phải lập tức điều chỉnh lại quan niệm của ḿnh bằng cách đưa vào đó một yếu tố quan trọng khác. Trong mỗi một trường hợp tiến hoá từ loài này đến loài khác, lúc nào cũng có một phần nào đó của các làn sóng sinh hoạt không vượt qua được và do đó bị bỏ lại phía sau. Có lẽ chúng ta sẽ hiểu vấn đề này một cách dễ dàng hơn nếu chúng ta bắt đầu bằng cách suy nghĩ về tương lai của nhân loại chúng ta.

Chúng ta biết rằng mục tiêu trước mắt là chúng ta phải đạt được tŕnh độ điểm đạo từng được gọi là quả vị Chân Sư, hay Chân Tiên (asekha), “người không c̣n ǵ để học hỏi” đối với dăy hành tinh này nữa. Nhưng chúng ta cũng biết rằng không phải toàn bộ nhân loại sẽ thành công trong việc đạt được mục tiêu cao cả này, mà chỉ có một phần nhất định. Chúng tôi được biết ở giữa ṿng tuần hoàn kế tiếp, một sự phân tách sẽ xảy ra giữa các linh hồn đủ sức để tiếp nhận các giai đoạn tiến hoá cao hơn và những linh hồn không đủ sức.

Sự phân tách này đă được h́nh dung trước đây trong các truyền thuyết về “ngày phán xét cuối cùng,” khi tương lai của các linh hồn thuộc về chu kỳ dài đăng đẳng này sẽ được quyết định. Trong trí tưởng tượng quái gở của các tu sĩ thời trung cổ Âu Châu, họ lúc nào cũng t́m cơ hội đưa vào các tín điều của họ những điều ghê sợ đă được phóng đại quá trớn để hù dọa tầng lớp nông dân ngu dốt khiến họ đóng góp nhiều hơn cho Nhà Thờ Công Giáo. Họ đă biến một ư tưởng đơn giản của một khoảng thời gian “bị đ́nh chỉ rất lâu” thành một “sự đày đọa vĩnh viễn.”

Những người bị bỏ lại đằng sau trong chu kỳ này đôi khi được mô tả là “những trường hợp thất bại của ṿng tuần hoàn thứ năm,” mặc dù thuật ngữ này có lẽ cũng hơi khắc khe. Thật ra, có một vài người trong số này có thể vượt qua được nếu họ chịu khó cần cù thêm một chút nữa, nên họ đáng được coi là những trường hợp thất bại, nhưng phần lớn sẽ bị bỏ lại phía sau chỉ v́ họ c̣n quá trẻ để đi tiếp tục và do đó chưa đủ sức để làm các công việc cực nhọc hơn.

Sự kiện của trường hợp này có thể được tŕnh bày rất đơn giản. Những Chân Thần thuộc tầng lớp thấp hơn chỉ vừa mới gia nhập từ loài thú vào loài người lần dần ở nửa ṿng đầu của dăy tiến hóa hiện nay của chúng ta. V́ vậy, một vài người trong số này vẫn c̣n ở giai đoạn người bán khai và do đó khó có khả năng theo kịp các lớp quá xa ở trước họ. Chúng tôi được cho biết rằng ngay cả người dă man thấp nhất cũng có cơ hội theo kịp trước giữa ṿng tuần hoàn thứ năm để đi tiếp tục, nhưng để làm được điều này, y không thể nào bỏ qua bất cứ một cơ hội nào được đưa đến cho y, và con số có thể làm được điều này sẽ là rất nhỏ. Tỷ lệ số người sẵn sàng tiếp tục tiến hóa được ước đoán là khoảng dân số của trái đất (không phải là tổng dân số ở cơi trần mà là tổng số linh hồn của làn sóng sinh hoạt loài người thuộc dăy này), trong khi c̣n lại sẽ bị bỏ rơi lại đằng sau!

Hoàn cảnh của thế giới lúc đó sẽ được đặc biệt điều chỉnh lại để giúp các linh hồn tiến hoá phát triển thật nhanh và do đó sẽ không phù hợp cho các thực thể thuộc giai đoạn tiến hoá thấp hơn, v́ các rung động thô kệch của những thú đam mê mănh liệt và cảm xúc thô bạo cần thiết để kích thích một thể cảm dục bất động và vừa mới nửa tỉnh của người dă man sẽ không c̣n tồn tại. Chúng ta có thể tưởng tượng được sự bất đồng này sẽ diễn ra như thế nào. Trong một thế giới tâm linh và trí tuệ cao cả, nơi mà chiến tranh và ḷ mổ súc sanh đă là chuyện trong quá khứ, sự tồn tại của các giống dân dă man đầy rẫy những thú đam mê không được kiềm chế và bản tính hiếu chiến của họ đương nhiên sẽ gây ra nhiều khó khăn và rắc rối đáng kể, và mặc dù chắc chắn có những biện pháp có thể được đưa ra để áp đảo họ, nhưng chính sự đè nén đó sẽ ngăn cản các hoạt động cần thiết cho giai đoạn tiến hóa ban đầu của họ.

Do đó, đương nhiên điều nhân từ và tốt nhất đối với những linh hồn quá chậm này là loại trừ họ ra khỏi ḍng tiến hoá này và chuẩn bị chỗ ở lớp sau cho họ trong dăy hành tinh kế tiếp. Những thực thể như vậy sẽ không phải chịu đau khổ về bất cứ h́nh thức ǵ; họ chỉ đơn giản có một thời gian nghỉ ngơi rất lâu ở cơi thiên đàng ở mức độ mà họ có thể tiếp nhận được, và mặc dù tâm thức của họ trong thời gian này có lẽ chỉ tỉnh thức một phần, nhưng chắc chắn bên trong một phần tiến bộ sẽ xảy ra.

Từ t́nh trạng đó họ sẽ đi vào các giai đoạn đầu tiên của ḍng tiến hoá trong dăy kế tiếp, và họ sẽ là các lănh tụ của đoàn người sơ khai nơi đó. Chúng ta không nên nghĩ về họ như là bị bỏ lại lớp trong bất cứ h́nh thức nào, mà chỉ là họ được sắp xếp vào vị trí thật sự thích hợp với họ, nơi mà sự tiến bộ của họ sẽ xảy ra một cách dễ dàng và chắc chắn. Đây là tầng lớp mà Bà Blavatsky đề cập đến khi bà nói về một số lớn “các linh hồn bị đánh mất,” mặc dù khi thuật ngữ này được sử dụng theo cách này đôi khi có làm cho các học sinh bị nhầm lẫn v́ họ chưa hoàn toàn nắm được toàn bộ sự huy hoàng và chắc chắn của kế hoạch tiến hoá.

Vậy chúng ta có thể nghĩ về quá tŕnh của mỗi một làn sóng sinh hoạt xuyên qua một dăy tiến hoá như là bị vỡ ra thành từng làn sóng nhỏ. Hăy xem thử làn sóng sinh hoạt của chúng ta sẽ thu hoạch được những tiến bộ ǵ? Nói chung, nó đại diện cho loài thú ở dăy mặt trăng, mặc dù những trường hợp của loài người bị thất bại ở dăy mặt trăng đương nhiên cũng gia nhập vào nó, và họ có thể nằm trong số những nhà lănh đạo của nó.

Toàn bộ làn sóng sinh hoạt làm sinh động loài thú ở dăy mặt trăng trên nguyên tắc phải nhập vào loài người ở phần đầu của dăy tiến hoá hiện nay và phải đạt được mục tiêu đă được vạch sẵn cho nó vào cuối ṿng tuần hoàn thứ bảy.

Trên nguyên tắc, tất cả loài người chúng ta thuộc dăy này phải đạt được quả vị Chân Tiên và rời khỏi hệ thống này qua một trong bảy con đường mở ra trước mặt một vị Chân Tiên, trong khi loài thú hiện nay của chúng ta lư ra phải cá nhân hóa ở phần kết thúc của dăy này và sẵn sàng làm loài người ở dăy kế tiếp, dăy thứ năm của hệ thống tiến hoá.

Tuy nhiên, chúng ta biết rằng nhân loại của chúng ta sẽ bị loại ra ở giữa ṿng tuần hoàn thứ năm, v́ chắc chắn họ sẽ bị thua kém quá xa so với phần c̣n lại để có thể đạt được mục tiêu vạch ra cho dăy này, thậm chí với nỗ lực lớn nhất. Hai phần năm nhân loại này sẽ gia nhập vào dăy kế tiếp cùng với các thành viên của loài thú hiện giờ và do đó sẽ h́nh thành một phần của nhân loại tương lai.

Một trong những nguyên do chính tại sao sự phân chia giữa các người tiến hoá hơn và kém hơn phải được thực hiện là v́ các giống dân sau này sẽ được gần gũi với các vị Chân Tiên và các vị Đại Thiên Thần nhiều hơn so với chúng ta trong hiện tại. Do đó, họ cần phải ǵn giữ bản thân luôn ở một t́nh trạng dễ có thể dễ được gây ấn tượng, sẵn sàng đón nhận và đáp ứng với mọi ảnh hưởng được ban ra. Điều này có nghĩa là họ phải sống một cuộc đời trầm tư và tĩnh lặng, một điều không thể đạt được nếu trên thế giới c̣n sót lại những giống dân man rợ thích tấn công và tàn sát một người khi họ đang ở trong trạng thái thiền định. Những rung động mạnh hơn ở thời điểm đó sẽ không đánh thức được bản chất cao thượng của con người dă man mà chỉ kích thích và tăng cường thêm những thú đam mê thấp hèn của y, nên lúc đó y sẽ chẳng đạt được ǵ khi hiện hữu trên trái đất này mà c̣n làm cản trở sự tiến bộ của những người tiến hoá hơn.

Tuy nhiên, c̣n lại của nhân loại chúng ta, tuy có thể được mô tả là thành công v́ họ không bị loại ra khỏi ṿng tuần hoàn thứ năm trong ngày phán xét, cũng không phải đều hoàn toàn thành công trong việc đạt được quả vị Chân Tiên. Người ta cho rằng chỉ khoảng của tổng số (có nghĩa là, ⅓ của số không bị đánh rớt) sẽ hoàn tất mọi điều kiện, nhưng điều này có nghĩa là ở cuối dăy thế giới chúng ta, ⅔ con số được cho là thành công vẫn c̣n có nhiều chuyện phải làm trước khi họ đạt đến tŕnh độ đă được vạch sẵn cho họ. Họ sẽ phải bước vào dăy kế tiếp, mặc dù họ không cần phải nhập vào các giai đoạn đầu của dăy đó; v́ vậy, họ sẽ có thể xuất hiện ở khoảng giữa, cũng như tầng lớp cao hơn của các Chân Thần (monads) từ dăy mặt trăng đă gia nhập vào ḍng tiến hoá của chúng ta ở khúc giữa. Tuy nhiên, việc này sẽ bị phức tạp thêm bởi một yếu tố khác là v́ tiêu chuẩn được đặt ra cho dăy hiện tại của chúng ta là cao hơn so với dăy mặt trăng, nên cũng thế, mức thành tựu của dăy thứ năm sẽ c̣n cao hơn so với dăy của chúng ta, nhưng chúng ta không cần phải lo nghĩ quá nhiều về điều đó trong lúc này.

Khi dăy hành tinh của chúng ta kết thúc, có lẽ chúng ta sẽ có nhiều nhóm được phân chia rơ rệt như sau, mặc dù dĩ nhiên họ có thể được chia ra thêm thành nhiều nhóm phụ:

Những người đă đạt được quả vị chân tiên ở các ṿng tuần hoàn trước đó v́ họ đă học tập một cách thông minh và quyết chí chọn con đường ngắn hơn và dốc hơn để đạt được mục tiêu.

Những người đạt được quả vị Chân Tiên ở ṿng tuần hoàn thứ bảy. Họ là những người giỏi nhất trong nhóm người bơi theo ḍng tiến hóa b́nh thường, đội ngũ dẫn đầu của những người theo con đường tiến hoá thông thường. Ở dăy địa cầu chúng ta, họ có thể được coi như là tương đương với nhóm người hạng nhất của dăy mặt trăng.

Những người tuy không đạt được tiêu chuẩn hoàn hảo nhưng đă đạt đến tŕnh độ La Hán ở ṿng tuần hoàn thứ bảy. Họ được coi như là tương xứng với nhóm người hạng nh́ của dăy mặt trăng và sẽ cần một vài kiếp đầu thai trong dăy kế tiếp trước khi họ đạt đến tŕnh độ được giải thoát.

Những người tuy đă vượt qua khỏi cuộc phán xét ở giữa ṿng tuần hoàn thứ năm nhưng chưa thành công vượt qua khỏi ba bậc thấp hơn (ba lần điểm đạo) của con đường Thánh Đạo. Có lẽ nhóm người này của dăy địa cầu được coi như là tương đương với nhóm người dă man của dăy mặt trăng, chỉ vừa mới tách ḿnh khỏi loài thú và do đó c̣n rất nhiều công việc phải chuẩn bị làm ở dăy mới.

Những người dù đă bước vào hàng ngũ nhân loại ở dăy địa cầu chúng ta nhưng đă thất bại ở giữa ṿng tuần hoàn thứ năm để được tiếp tục học hỏi. Chắc chắn nhóm này sẽ được phân chia thành nhiều nhóm phụ hoặc các tầng lớp khác nhau.

Những thực thể c̣n chưa bước vào hàng ngũ nhân loại. Họ là những tầng lớp thấp nhất trong các Chân Thần, vừa mới trở thành loài thú ở dăy mặt trăng và đang dần dần học hỏi ở dăy địa cầu nhưng vẫn chưa đạt được tŕnh độ cá nhân hoá.

Không phải chỉ trong hàng ngũ nhân loại mà chúng ta mới t́m thấy sự thất bại trong việc đạt đến mục tiêu đă được định sẵn. Điều tương tự như vậy cũng xảy ra trong mỗi loài trong suốt quá tŕnh tiến hoá của nó. Trong khi phần lớn của mỗi làn sóng Chân Thần đều hoàn thành sứ mệnh của chúng, mỗi làn sóng đều có một số nhỏ bị rớt lại đằng sau, và một số nhỏ hơn nữa có khả năng tiến xa hơn định mệnh đă an bài. Ví dụ, giống như có vài người hiện giờ đă vượt rất xa khỏi đồng loại và đạt được quả vị Chân Tiên, cũng có một số nhỏ loài thú hiện giờ đang rời khỏi hồn khóm của chúng và cá nhân hoá, mặc dù phần lớn làn sóng sinh hoạt của loài thú sẽ cá nhân hóa ở cuối ṿng tuần hoàn thứ bảy và trở thành loài người của dăy thứ năm. Những người đang tiến gần đến quả vị Chân Tiên luôn là những người được gần gũi các vị Chân Sư với tư cách là đệ tử của Họ, cũng như các con thú đang tiến gần đến tŕnh độ loài người cũng thường là các con thú được gần gũi loài người, như các con thú cưng hiện đang phát triển đặc biệt về t́nh cảm và trí khôn.

Vào buổi học hỏi ban đầu của Thông Thiên Học, chúng tôi thường cho rằng dù một con thú có phát triển nhanh đến mức nó có thể cá nhân hóa ngay vào lúc này và ở đây, nó vẫn phải đợi đến dăy kế tiếp trước khi nó lấy được một thân xác của con người. Tuy nhiên, các cuộc điều tra sau này cho chúng tôi thấy rằng vẫn có những ngoại lệ đối với quy tắc này ở giai đoạn hiện nay, và các con thú may mắn cá nhân hoá trong thời kỳ thế giới hiện tại vẫn có thể thích nghi với cơ thể của người dă man khi làn sóng sinh hoạt của chúng ta chuyển qua bầu hành tinh kế tiếp trong dăy chúng ta. Rơ ràng con số thú vật sẵn sàng tận dụng cơ hội này sẽ là rất nhỏ (trên thực tế, đây có lẽ là cơ hội cuối cùng của chúng để gia nhập vào đời sống của loài người ở dăy hiện tại), nhưng nó vẫn là một khả năng mà chúng ta phải cân nhắc nếu chúng ta muốn có cái nh́n hoàn chỉnh về cơ tiến hoá.

Tôi đă từng chứng kiến một trường hợp có nhiều điểm đặc biệt khiến việc đầu thai sớm hơn có thể xảy ra - một trường hợp của một con thú không chỉ biểu hiện một trí khôn vượt bực trong kiếp sống hồng trần của nó mà c̣n có một ḷng sùng tín mănh liệt đối với người chủ của nó, một t́nh thương tận tụy đương nhiên vẫn tiếp tục trong cuộc sống ở cơi trung giới và thậm chí còn mạnh mẽ ở đó hơn bao giờ hết. Lực tư tưởng của con thú đó mạnh đến nỗi khi ngủ, nó thường di chuyển thật xa trong thể vía của nó để đi thăm chủ nhân của nó trong những chuyến du hành ở cõi mộng. Trong trường hợp này, một sự tiến bộ rơ ràng đă được thực hiện trong đời sống của con thú ở cơi trung giới sau khi chết, và sự đáp ứng của nó đối với các nỗ lực của chúng tôi c̣n nhiều hơn những gì chúng tôi mơ ước, v́ đời sống trung giới cho chúng tôi một cơ hội tốt hơn cơi trần để thấy được sự giới hạn của các ḍng tư tưởng của con thú. Chúng rất ít ỏi, hạn hẹp và bị giới hạn một cách kỳ lạ, nhưng chúng có thể vươn ra xa hơn theo ḍng tư tưởng của chúng hơn chúng tôi giả sử.

Nhiều cách suy nghĩ mới lạ đă được mở ra trong đời sống trung giới và sự phát triển của chúng cũng rất là thú vị. Sự đầu thai lại lập tức ở cõi trần rõ ràng có thể xảy ra, nhưng có một vài sự phối hợp hơi kỳ quặc đă khiến sự kiện này khó được dàn xếp. Con thú có thể là một người hoang dã theo nhiều cách sắp đặt, nhưng nó chỉ có thể đầu thai trong sự liên hệ mật thiết với chủ nhân của nó vì sự ràng buộc quá chặt chẻ với người chủ khiến không có ǵ có thể cản trở được nó đến với người chủ. Điều này gây ra nhiều khó khăn trầm trọng, nhưng chúng vẫn có thể được dàn xếp, chỉ là khó thể bảo đảm được giới tính của người man rợ!

Dĩ nhiên, trong số các con thú thành công ở dăy tiến hóa này sẽ có nhiều tầng lớp tương xứng với các tầng lớp khác nhau ở dãy mặt trăng, và một số Chân Thần trong loài thú hiện nay đang làm sinh động những h́nh thể thấp nhất ở dăy này chắc chắn sẽ thất bại trong việc thăng cấp lên thành loài người, và do đó sẽ tương ứng với loài thú “bị đánh rớt trong cuộc tuần hoàn thứ năm.” Còn việc những hình thể này có biến mất luôn khỏi trái đất này vào lúc đó ở cuộc tuần hoàn thứ năm hay không thì chúng tôi không có thông tin gì trực tiếp, nhưng có lẽ nó phải là như vậy bằng cách suy luận tương tự. Cũng như vậy, việc phân chia tầng lớp tuỳ theo mức độ thành công cũng được t́m thấy trong các loài thấp hơn, nên thực tế mỗi làn sóng sinh hoạt là một biểu tượng của một làn sóng bị vỡ ra thành từng gợn sóng hoặc làn sóng nhỏ hơn, theo thời gian một số sẽ ḥa chung lại với làn sóng đi trước hoặc theo sau nó, mặc dù phần lớn vẫn di chuyển đều đặn theo lộ tŕnh đă được chỉ định.

Bảy làn sóng sinh hoạt hiện đang làm sinh động bảy loài của chúng ta luôn có một môi trường hoạt động chính của chúng, đó là hành tinh hiện đang được sự chú ư của Thượng Đế, mặc dù một phần nhỏ hoạt động của chúng cũng đang luôn luôn biểu lộ ở các thế giới khác thuộc dăy này. V́ thế, mặc dù sự chú ư của Thượng Đế hiện đang nhắm vào trái đất của chúng ta, những đại diện của các loài đều đang đồng thời hiện diện ở mỗi bầu trong dăy của chúng ta. Chúng thường được mô tả là các hạt mầm mà từ đó các h́nh thể sẽ phát triển khi làn sóng sinh hoạt đi đến hành tinh đó - có nghĩa là, khi sự chú ư của Thượng Đế đặc biệt chuyển đến nó một lần nữa.

Những h́nh thể này vẫn c̣n tồn tại trên các hành tinh tương xứng của chúng từ lúc chúng được bắt đầu sử dụng bởi người-thú của dăy mặt trăng trong ṿng tuần hoàn thứ nhất, và như thế chúng ta tránh được việc phiền toái phải làm thêm một công việc nữa là tạo ra các h́nh thể mới cho mỗi bầu của mỗi ṿng. Sự sống làm sinh động các h́nh thể trong thời gian tương đối u tối của các hành tinh này vẫn là một phần của làn sóng vĩ đại, và nó vẫn tiếp tục tiến về phía trước liên quan với làn sóng đó. Nó cũng hoạt động trong các chức năng khác ngoài việc cung cấp hạt mầm cho làn sóng kế tiếp, bởi v́ nó cũng được sử dụng như là một phương tiện cho sự tiến hóa nhanh hơn của một số lớp Chân Thần đặc biệt.

Nhờ có sự xử lư đặc biệt này mà những Chân Thần thuộc hạng thứ hai có thể đuổi kịp hạng thứ nhất và trở thành một trong những thành viên của nó. Dưới hoàn cảnh đặc biệt của sự khao khát mănh liệt muốn tiến bộ, một người có thể được tách ra khỏi số đông đồng loại trên hành tinh này nếu y được nhận xét là đang cố gắng hết sức để hoàn thiện bản thân và được chuyển vào một nơi được gọi là “Ṿng Bên Trong” do các vị có thẩm quyền, và y có thể được đầu thai kế tiếp trong số dân giới hạn của bầu Thuỷ Tinh. Trong trường hợp đó, y sẽ dành một khoảng thời gian ở đó bằng với thời gian y sẽ dành cho các kiếp luân hồi của một giống dân chính, rồi sau đó y sẽ được chuyển đến bầu F ở cơi trung giới. Sau một thời gian tương tự ở nơi đó, y sẽ được chuyển qua bầu G, A và B theo thứ tự, rồi đến Hỏa Tinh (bầu C) và đến Địa Cầu (bầu D).

V́ trong mỗi bầu này y sẽ dành một khoảng thời gian tương đương với giai đoạn của một giống dân chính, nên làn sóng sinh hoạt sẽ rời khỏi trái đất này trước khi y quay trở lại, nhưng y sẽ đuổi kịp nó ở bầu Thuỷ Tinh và sau đó sẽ gia nhập vào hàng ngũ của các Chân Thần hạng nhất và ḥa nhập vào phần c̣n lại của quá tŕnh tiến hoá của họ và có cơ hội để phát triển nhanh hơn. Các thực thể tham gia vào ḍng tiến hoá đặc biệt này tạo ra phần lớn của số dân ít ỏi của bầu Thuỷ Tinh và Hỏa Tinh hiện nay. Ở Hỏa Tinh cũng c̣n tàn dư của loại người sơ khai chưa sẵn sàng tiếp tục khi làn sóng sinh hoạt rời khỏi nó qua Địa Cầu, một giống dân đại diện cho một giai đoạn của loại người thấp hơn bất kỳ giai đoạn tiến hóa nào hiện tại trong sự hiểu biết của chúng ta. Nó sẽ bị tuyệt chủng rất lâu trước khi chúng ta quay lại Hỏa Tinh trong ṿng tuần hoàn thứ năm, bởi v́ dường như không có một linh hồn nào cần biểu lộ ở mức độ đó vào thời điểm ấy.

Cũng theo cách tương tự, chúng ta sẽ thấy là tất cả các loài đều được đại diện trên các bầu thuộc về cơi trung giới và thượng giới. Với tâm thức hồng trần, chúng ta khó có thể nắm bắt được hoàn cảnh của đời sống của các loài thấp hơn ở các cơi cao hơn; ư tưởng về sự tiến hoá của một khoáng chất (mineral) ở cơi trí, chẳng hạn, không gợi lên một ư tưởng ǵ mà một tâm trí b́nh thường có thể hiểu được. Có lẽ chúng ta có thể tự giúp bản thân ḿnh hiểu nó bằng cách nhớ rằng mỗi khoáng chất đều phải có đối phần của nó ở cơi trung giới và thượng giới, và những vật liệu đặc biệt tạo ra chúng ở các cơi tương xứng đó là biểu lộ của một Chân Thần khoáng chất, và chúng ta có thể giả định rằng qua sự biểu lộ như vậy mà một Chân Thần đang tiến hóa trong thời gian nó tồn tại ở các cơi cao hơn này.

Hồn khóm phải luôn có sẵn trong nó khả năng tiềm ẩn liên quan đến các cơi cao hơn mà nó đi xuống từ nơi đó, và có thể là trong các giai đoạn tiến hoá đó, những khả năng này đang được phát triển theo một cách nào đó khác với những ǵ mà chúng ta quen biết. Nếu chưa mở được các quyền năng tâm linh, chúng ta không thể nào hiểu được chi tiết về sự phát triển tiềm ẩn ở các bầu cao hơn được làm bằng chất liệu thanh nhẹ hơn; điều quan trọng mà chúng ta phải nhận ra được là mặc dù làn sóng sinh hoạt vĩ đại chỉ ngự trong một bầu của dăy chúng ta ở một thời điểm nào đó, các bầu hành tinh c̣n lại không phải là đang yên nghỉ mà sự tiến bộ hữu ích vẫn tiếp tục xảy ra ở mọi nơi trong dăy Địa Cầu này.

Tôi đă cố gắng mô tả ở trên càng rơ càng tốt về các làn sóng sinh hoạt liên tiếp, nhưng nếu chúng vẫn c̣n khó hiểu đối với tâm trí của độc giả chưa quen thuộc về sự thành h́nh của nguyên một hệ thống vũ trụ, tôi có đính kèm theo đây một sơ đồ nhỏ mà tôi nghĩ rằng có thể giúp ích. Các cột thẳng đứng chỉ về các kiếp luân hồi liên tiếp của một dăy, các cột ngang đại diện cho các loài trong thiên nhiên, và các mũi tên chéo là các làn sóng sinh hoạt liên tiếp phát ra từ Thượng Đế. Con số Á-rập dính vào mỗi mũi tên chỉ áp dụng cho các mũi tên đó, chứ không phải cho các ô vuông mà chúng nằm bên trong. Bạn sẽ thấy có tất cả là mười ba mũi tên. Chiều dài của chúng có vẻ như khác nhau, nhưng đó chỉ là v́ chúng ta chỉ nh́n chúng từ quan điểm của hệ thống tiến hoá của chính chúng ta.

Trong giới hạn của hệ thống đó, mũi tên #1 được vẻ chỉ đi qua một loài mà thôi - loài người. Điều này không có nghĩa là làn sóng đại diện mũi tên đó chưa có trải qua sáu giai đoạn tiến hóa trước đó, mà chỉ có nghĩa là sáu giai đoạn này đă được trải qua ở một hệ thống khác nào đó. Điều này cũng đúng cho góc đối diện của nó trong sơ đồ. Mũi tên #13 chỉ đi qua một loài - loài tinh hoa chất thứ nhất; nó đương nhiên sẽ đi qua hết các loài khác theo đúng quá tŕnh của nó, nhưng nó không thể nào làm được như vậy trong hệ thống tiến hoá này bởi v́ nó đă ở phần kết thúc. Do đó, đối với sơ đồ của chúng ta mà nói, nó chỉ hiện diện trong một loài mà thôi.

Sơ đồ của các làn sóng sinh hoạt

Nếu chúng ta lấy một cột dọc làm đại diện cho bất kỳ một dăy nào - hăy lấy cột thứ tư, đại diện cho giai đoạn tiến hoá hiện nay của chúng ta, chúng ta sẽ thấy là khi chúng ta đưa mắt nh́n xuống, có bảy mũi tên đi xuyên qua nó, chỉ về bảy loài đang tồn tại xung quanh chúng ta. Chúng ta có thể ḍ theo bất cứ mũi tên nào trong số các mũi tên đó, hoặc tiến hoặc lùi, và do đó có thể theo dơi quá khứ hoặc tương lai của bất cứ loài nào của dăy chúng ta. Chúng ta nên lưu ư là làn sóng từ #1 đến #6 đến dăy chúng ta từ một số hệ thống tiến hoá khác, trong khi làn sóng từ #7 đến #13 là luồng sinh khí mới phát ra từ Thượng Đế.

 

CÁC CHÂN THẦN

TỪ DĂY MẶT TRĂNG

Những người từng học về các hệ thống tiến hóa trong Thông Thiên Học đều biết rằng chúng ta phân tách nhân loại thành các tầng lớp khác nhau dựa trên số tuổi và mức độ phát triển của linh hồn. Tờ báo “Công Vụ” (Transaction) số 26 của Chi bộ London đă tŕnh bày sự sắp xếp này rất rơ ràng, và nó cũng được t́m thấy trong Chương 12 của Minh Triết Cổ Truyền, nhưng các học sinh của chúng ta sẽ thấy rằng tác giả của tác phẩm cuối này đă thay đổi cách sắp xếp của các tầng lớp để cho nó giống hơn với cách được sử dụng trong Giáo Lư Bí Truyền.

Bà A. Besant đă phân tách phần c̣n lại của các thực thể mà Chi bộ London đă mệnh danh là tầng lớp hạng nhất và hạng nh́ và gọi họ là những Chân Thần mặt trời (solar monads), nên bà bắt đầu danh sách của ḿnh về các Chân Thần mặt trăng bằng các thực thể mà tờ Công Vụ đă gọi là tầng lớp hạng ba, và bà xếp họ vào tầng lớp hạng nhất. Do đó, trong quyển Minh Triết Cổ Truyền, tầng lớp hạng tư trong tờ Công Vụ được gọi là tầng lớp hạng nh́, và tầng lớp hạng năm trở thành tầng lớp hạng ba. Tầng lớp hạng tư của Bà Blavatsky bao gồm tầng lớp hạng sáu và hạng bảy của Ông Sinnett, trong khi phần c̣n lại các tầng lớp của bà lại bao gồm những thực thể mà ông không tính đến. Cách phân loại của ông chỉ tính các thành viên loài thú của dăy mặt trăng nay đă trở thành loài người ở dăy địa cầu chúng ta, c̣n cách phân loại của Bà th́ tính hết tất cả các loài từ dăy mặt trăng chuyển qua dăy địa cầu. Tầng lớp hạng năm của Bà đại diện cho loài thảo mộc ở dăy mặt trăng, và tầng lớp hạng sáu cho loài kim thạch, trong khi tầng lớp hạng bảy bao gồm cả ba loài tinh hoa chất.

Từ khi viết tác phẩm Minh Triết Cổ Truyền Gia Phả Loài Người, Bà Besant nghĩ rằng tốt hơn hết là nên sử dụng các tên tiếng Anh có ư nghĩa rơ ràng để thay vào cho các tên gọi trước đó. Đối với những người đă thành công trên dăy mặt trăng và đạt đến tŕnh độ La Hán như đă được chỉ định, bà đặt cho họ danh hiệu các vị Chúa Tể của Mặt Trăng (Lords of the Moon). Những người mà bà từng gọi là Chân Thần Mặt Trời (Ông Sinnett đă từng diễn tả họ là pitris hạng nhất và hạng nh́) giờ được gọi là loại người hạng nhất và hạng nhì của dãy mặt trăng theo thứ tự của họ. Loại người hạng nhất của dãy mặt trăng cũng có rất nhiều lớp phụ, như chúng ta sẽ thấy ngay sau đây. Cái mà bà gọi là chân thần hạng nhất (loại người hạng ba theo Ông Sinnett) hiện được mô tả là người-thú của dãy mặt trăng. Loại người hạng nhì, hạng ba và hạng tư (tương xứng với loại người hạng tư, năm, sáu và bảy của Ông Sinnett) giờ được mô tả là loại người hạng nhất, hạng nhì và hạng ba của loài thú ở dãy mặt trăng. Đây là danh sách đầy đủ của các thực thể tạo ra loài người của chúng ta hiện nay, vì những tầng lớp thấp hơn (mà Ông Sinnett đă không tính đến) theo bà Blavatsky sẽ không đạt được tŕnh độ loài người trong dãy hiện tại.

Các tầng lớp này được sắp xếp theo thứ tự của sự tiến hoá của chúng, và chúng không chỉ khác nhau về h́nh dạng mà c̣n ở cách chúng đạt được sự tiến bộ đó. Trong các điểm khác nhau, có một sự khác biệt rất lớn về khoảng cách giữa các kiếp đầu thai kế tiếp và cách khoảng thời gian này được sử dụng như thế nào, nhưng chủ đề này sẽ được tŕnh bày ở chương luân hồi.

SƠ ĐỒ TIẾN HÓA CỦA NHỮNG CHÂN THẦN

TỪ DĂY MẶT TRĂNG

Để hiểu rơ được cách phân biệt giữa các tầng lớp này, chúng ta phải nhớ rằng một tiêu chuẩn nhất định đă được vạch sẵn cho mỗi dăy thế giới và đạt được nó là một sự thành công mỹ măn. Ở dăy thế giới của chúng ta, tŕnh độ được chỉ định hiện giờ là quả vị Chân Tiên, nhưng ở dăy mặt trăng nó là quả vị La Hán, bước thứ tư trên đường Đạo. Những người đă đạt được quả vị này trên dăy mặt trăng đă hoàn tất tiêu chuẩn tiên quyết của Thượng Đế và do đó có quyền tự do quyết định một trong bảy con đường tiến hóa mà lúc nào cũng được mở ra trước mắt loài siêu nhân của mỗi dăy.

Bên dưới họ là những người đứng ở các giai đoạn khác nhau trên đường Đạo mà chúng ta phải cố phân loại ở một mức độ nào đó. Nói chung, loài thú của một dăy tạo nên loài người ở dăy tiếp theo. Nhân loại hiện thời của chúng ta đă được tạo ra từ thành viên loài thú đă thành công ở dăy mặt trăng, cộng thêm các thành viên thất bại của loài người ở dăy mặt trăng đă không đạt được tŕnh độ yêu cầu.

Chúng tôi đă cố gắng tŕnh bày các tầng lớp nhân loại phải bị phân tách ở cuối dăy tiến hoá của chúng ta. Một sắp xếp tương tự như vậy cũng đă được thực hiện ở cuối dăy mặt trăng.

Những người đạt được quả vị La Hán đă thành công hoàn toàn và họ đă theo đuổi một trong bảy con đường tiến hóa của siêu nhân loại. Chúng tôi không biết rằng chúng có giống y như bảy con đường được mở ra trước mặt các vị Chân Tiên của chúng ta hay không, nhưng ít nhất một trong các con đường đó có một điểm rất giống như của chúng ta, v́ cũng có một vài vị Chân Tiên sẽ chọn có liên hệ mật thiết với dăy kế tiếp và đầu thai ở đó để giúp đỡ cư dân nơi đó tiến hoá; cũng như vậy, một trong bảy loại Chúa Tể Mặt Trăng đă chọn đến giúp đỡ chúng ta trong dăy này. Các thành viên của tầng lớp này là những vị được gọi là Đức Bàn Cổ (Barhishads) trong quyển Giáo Lư Bí Truyền.

Dưới tầng lớp này (tầng lớp Đức Bàn Cổ) là một nhóm lớn và đa dạng mà chúng ta gọi là những người hạng nhất của dăy mặt trăng, mặc dù để thuận tiện cho việc theo dơi số phận của các nhánh phụ của nó, có lẽ chúng ta cần nên đặt cho họ những cái tên khác nhau. Mặc dù họ chưa đạt được quả vị La Hán, nhóm này bao gồm:

Một số người đang ở trên các nấc thang thấp của Thánh Đạo.

Một số người khác tuy chưa đặt chân lên Thánh Đạo nhưng đang tiến gần đến nó.

Những trường hợp thất bại của nhân loại thuộc dăy mặt trăng (tương xứng với nhân loại chúng ta sẽ bị đánh rớt khỏi ṿng tuần hoàn thứ năm).

Những đại diện tiến hoá nhất của loài thú ở dăy mặt trăng, những thực thể đă thành công trong việc thành lập nhân thể. Chúng tôi sẽ đặt tên gọi đặc biệt riêng cho những nhánh phụ này sau đây, nhưng hiện giờ chúng tôi chỉ đánh con số cho chúng.

Những người hạng nhất của dăy mặt trăng:

Những người này, mặc dù họ chưa đạt đến quả vị La Hán, đã đặt chân lên một trong những nấc thang trên đường Đạo. Hiện giờ, họ cũng như các vị Chúa Tể của Mặt Trăng, đã đắc quả Chân Tiên từ lâu và đã rời khỏi lĩnh vực khảo cứu của chúng ta.

Những người thuộc loài thú của dăy mặt trăng đă cá nhân hoá trong ṿng tuần hoàn thứ tư của dăy mặt trăng. Hiện nay, tất cả những người này cũng đă đắc quả Chân Tiên. Những Chân Sư được chúng ta biết đến nhiều nhất có liên quan đến các công việc của Hội Thông Thiên Học cũng thuộc về tầng lớp này, và chúng ta có thể bao gồm luôn trong đó phần lớn các vị đă đắc quả La Hán dưới ảnh hưởng của sự giảng dạy của Đức Phật.

Những người đă cá nhân hoá trong ṿng tuần hoàn thứ năm của dăy mặt trăng. Những người này hiện giờ là những người nổi tiếng trên thế giới, đương nhiên không phải chỉ là những người mà thế giới cho là nổi bật, mà c̣n luôn cả những người, theo cách này hoặc cách kia, đă tiến hoá khá xa so với đồng loại của họ. Trong hàng ngũ Thông Thiên Học của chúng ta, điều này có nghĩa là họ là những người đă đặt chân lên đường Đạo hoặc đang tiến gần đến nó; đối với thế giới bên ngoài, họ có nghĩa là các thánh nhân hoặc những người có tŕnh độ phát triển trí tuệ hoặc nghệ thuật cao siêu.

Những người đă cá nhân hóa ở ṿng tuần hoàn thứ sáu của dăy mặt trăng. Ở đây chúng ta có tầng lớp một số người khá lớn, những người lịch sự, tao nhă với tinh thần danh dự khá cao và tốt bụng, thông minh và sùng đạo trên trung b́nh. Ví dụ tiêu biểu của tầng lớp này là các ông quư phái và những nhà chuyên gia, những giáo sĩ và sĩ quan trong quân đội hoặc thủy quân. Họ có quyền lực và vẫn có thể lạm dụng nó. Họ có thể không làm những ǵ những người chung quanh cho rằng họ nên làm và do đó họ thường ít được tôn kính, nhưng ít nhất họ sẽ không làm điều ǵ bần tiện hoặc thô bỉ.

Những linh hồn đă cá nhân hoá ở ṿng tuần hoàn thứ bảy của dăy mặt trăng. Các thành viên của tầng lớp này thật không có khác nhiều lắm so với nhóm vừa rồi, ngoại trừ ḷng tốt bụng, trí tuệ hoặc niềm tin tôn giáo của họ ở gần mức độ trung b́nh hơn. Trí khôn của họ được dùng nhiều hơn vào những mục tiêu vật chất, chẳng hạn như các nhà doanh nhân. Họ đại diện cho phần lớn những nhóm người mà chúng ta gọi là tầng lớp trung lưu cao đẳng (upper middle-class) - vẫn là những người lịch sự nhưng với một cuộc sống trí tuệ hoặc tinh thần thấp hơn một chút so với các chuyên gia.

Tất cả các tầng lớp được đề cập ở trên thực sự chỉ là những nhóm phụ của lớp hạng nhất của những người ở dăy mặt trăng, nhưng trong suốt quá tŕnh tiến hoá họ hoà lẫn với nhau thành những hạng người khó phân biệt được, cho nên linh hồn cao nhất ở bất kỳ tầng lớp nào chẳng khác bao nhiêu so với linh hồn thấp nhất của tầng lớp cao hơn kế tiếp. Không chỉ ranh giới giữa họ không được phân biệt rơ ràng mà thậm chí c̣n có nhiều sự ḥa trộn lẫn nhau. Các linh hồn lư ra thuộc tầng cấp thương mại đôi khi lại xen kẽ vào các nhà chuyên gia, trong khi những linh hồn của loại cao hơn lại thấy ḿnh bị đặt vào tầng cấp thương mại. Như họ thường nói ở Ấn độ: “Trong thời đại này, mọi giai cấp đều trộn lẫn với nhau.”

Tôi đă phân chia họ dựa theo ṿng tuần hoàn mà họ trở thành con người trên dăy mặt trăng. Khi việc này xảy ra ở bất cứ ṿng tuần hoàn nào sớm hơn th́ nó thường có nghĩa là linh hồn vừa mới được h́nh thành sẽ tiếp tục đầu thai làm người vào ṿng kế tiếp. Ví dụ, những linh hồn vừa cá nhân hoá ở ṿng tuần hoàn thứ tư của dăy mặt trăng sẽ đầu thai làm người ở giữa ṿng thứ năm và tiếp tục luân hồi trong thời gian c̣n lại của ṿng thứ năm, nguyên ṿng thứ sáu, và nửa phần đầu của ṿng thứ bảy. Cũng vậy, những linh hồn cá nhân hoá ở ṿng thứ năm sẽ đầu thai liên tiếp làm con người ở giữa ṿng tuần hoàn thứ sáu, và những linh hồn cá nhân hoá ở ṿng thứ sáu sẽ đầu thai vào ṿng thứ bảy. Những người cá nhân hoá ở ṿng thứ bảy sẽ trải nghiệm đời sống con người trên dăy địa cầu, và dĩ nhiên họ phải ứng vào h́nh thể những người man dă khi đến nơi đây.

Những người hạng nh́ của dăy mặt trăng.

Bên dưới tầng lớp khổng lồ này là những người hạng nhì của dăy mặt trăng, những thành viên tuy đă cá nhân hoá ở một giai đoạn sớm hơn trong kiếp thú nhưng vẫn chưa phát triển xong nhân thể, mặc dù họ đă có một nhân thể có thể được mô tả là một bộ xương cho một dẫn thể như vậy: họ có một nhân thể được h́nh thành từ một số ḍng lực đan kẽ vào nhau cho thấy đường nét của một h́nh bầu dục sẽ xuất hiện nay mai. Do đó, những linh hồn này có một h́nh dáng khá kỳ lạ, gần như thể họ được bao bọc trong một cái rổ được đan bằng chất liệu thượng trí.

Hiện nay, những người này được đại diện bởi phần đông giai cấp tư sản (bourgeoisie), thường được gọi là tầng lớp trung lưu hạ đẳng (lower middle class). Một ví dụ điển hình trong số họ là các chủ tiệm nhỏ hoặc phụ tá của họ. Nói chung, tầng lớp này có thể được mô tả là tốt bụng nhưng thường nông cạn, bảo thủ và chán ngắt. Họ thường tôn sùng cái mà họ gọi là danh tiếng. Một người quá quan tâm về tiếng tăm của mình sẽ không bao giờ làm được một điều gì đáng kể, dù tốt hay xấu. Y có thể̀ tiếp tục đi theo con đường chán ngắt như vậy qua bao nhiêu kiếp, chỉ nam của cuộc sống của y đều lệ thuộc vào những ǵ y cho rằng người khác sẽ nghĩ thế nào về y.

Đôi khi, chúng ta có thể thấy một linh hồn thuộc giai cấp tư sản thậm chí ở những địa vị cao hơn trong xă hội, và khi những linh hồn như thế đạt được quyền lực trong bất cứ quốc gia nào, nó có nghĩa là quốc gia đó đang tiêu trừ nghiệp ác của nó. Triều đại như của Vua George III ở nước Anh là một nghiệp chướng từ vụ sát hại vua Charles I và những thảm họa kinh hoàng khác của Thanh Giáo (Puritanism), và hậu quả của nó là sự chia rẽ giữa nước Anh và châu Mỹ mà đến bây giờ mới được hàn gắn lại. V́ những người thuộc tŕnh độ này không thể nào học được bài học của bất cứ giống dân phụ nào nhanh chóng bằng những người thuộc cấp độ cao hơn, họ thường phải đầu thai nhiều lần trong mỗi giống dân phụ trước khi chuyển qua giống dân phụ kế tiếp.

Người-thú (Animal-men) của dăy mt trăng. Chúng ta gọi nhóm kế tiếp là người-thú của dăy mặt trăng, những linh hồn đă cá nhân hoá từ giai đoạn sớm nhất của loài thú ở thời điểm mà sự kiện cá nhân hoá vẫn c̣n có thể xảy ra. Sau đó, họ bắt đầu đời sống con người bằng một cái mà không thể nào được gọi cho đúng là một nhân thể, mà là một Chân Thần lơ lửng trên một phàm ngă và được liên kết với nó qua vài sợi dây làm bằng chất liệu của cơi niết bàn. Trong ṿng tuần hoàn thứ nhất, họ chính là những linh hồn nhập vào các h́nh thể được thiết kế bởi các vị Chúa Tể của dăy Mặt Trăng và do đó đă làm hết tất cả các công việc tiên phong cho mọi loài.

Khi nghiên cứu về họ, chúng ta cuối cùng cũng đến tầng lớp được gọi là giai cấp lao động, họ tạo ra phần đông dân số trong mỗi nước. Tại sao chỉ ḿnh họ lại được tặng danh hiệu cao quư người lao động th́ thật là không rơ, v́ họ chắc chắn sẽ lập tức phản đối một cách mạnh mẽ nếu họ bị kêu gọi làm việc nhiều tiếng trong một ngày như bất cứ một người thành công nào thuộc tầng lớp cao hơn, nhưng danh hiệu này thường chỉ về những người làm việc bằng thể lực nhiều hơn là bộ năo. Loại người đặc biệt này mà chúng ta đang nhắc đến, những người từng là những kẻ man rợ của dăy mặt trăng, có thể được cho là làm cả hai công việc, bởi v́ họ là cũng là những người thợ khéo tay nhất trên thế giới - họ thuộc về giai cấp vô sản nhưng đại diện cho thành phần tốt nhất của nó, những người có sức chịu đựng và nhân phẩm tốt, biết tự trọng và đáng tin cậy.

Dưới tầng lớp này c̣n có ba tầng lớp của những thành viên c̣n chưa thành công rời khỏi hồn nhóm của chúng và do đó chưa cá nhân hoá, mặc dù chúng sẽ có khả năng này ở dăy địa cầu của chúng ta hiện nay. Chúng vẫn c̣n mang danh hiệu loài thú.

Loài thú hạng nhất của dăy Mặt Trăng.

Những con thú này đă đạt đến tŕnh độ loài người ở ṿng tuần hoàn thứ nh́ của dăy địa cầu và hiện đang được đại diện bởi một số rất lớn những người c̣n yếu tay nghề, nói chung họ cũng tốt bụng nhưng thường bất cẩn và tiêu xài hoang phí. Chúng ta cũng nên gom vào nhóm bọn họ những người man rợ cao cấp hơn, những người Zulus và một số thổ dân da đỏ và da đen giỏi hơn của nước Mỹ.

Loài thú hng nh́ của dăy Mt Trăng.

Đây là loài thú kém hơn, chúng chỉ mới cá nhân hoá ở ṿng tuần hoàn thứ ba của dăy địa cầu. Chúng ta thấy họ được đại diện trong những kẻ man rợ có tính t́nh tương đối ôn hoà trong một số bộ lạc đồi núi ở Ấn độ và trong số những người trụy lạc, bị thất nghiệp, say rượu đang sống giữa chúng ta và trong nhiều cư dân ổ chuột của đô thị.

Loài thú hng ba của dăy Mt Trăng.

Đây là hạng người thấp nhất của nhân loại, thậm chí chỉ hơn loài thú một chút v́ họ chỉ vừa mới rời khỏi nó vào thời điểm sơ khai của các bầu thế giới thuộc ṿng tuần hoàn thứ tư hiện nay, hoặc thậm chí vào thời điểm của các giống dân cũ hơn trên địa cầu chúng ta trong ṿng tuần hoàn này. Nó được đại diện bởi những kẻ man rợ thấp nhất và hung bạo nhất, những kẻ thường xuyên phạm tội, những kẻ quăng bom nổ và những người hay đánh đập vợ con đang sống chung quanh chúng ta. Trong nhóm này có thể thêm vào một vài người ở các giai đoạn khác đă cá nhân hoá bằng sự thù hận hoặc sợ hăi.

Dưới các hạng người này có ba tầng lớp hiện đang tạo nên các loài thấp hơn của chúng ta; loài thảo mộc của dăy mặt trăng hiện là loài thú của chúng ta; loài kim thạch của dăy mặt trăng hiện là loài thảo mộc của chúng ta; và loài tinh hoa chất của dăy mặt trăng mà loài tiến hoá nhất trong số chúng hiện giờ đă trở thành loài kim thạch của chúng ta.

Những người mà chúng ta gọi là kẻ man rợ của dăy mặt trăng đă được giao phó nhiệm vụ làm tiên phong cho dăy địa cầu. Mặc dù họ đă rời bỏ loài thú ở dăy mặt trăng và do đó phải được coi như thể là loài người, họ nhập vào ḍng tiến hóa ở bầu thứ nhất của ṿng tuần hoàn đầu tiên ở dăy địa cầu chúng ta không phải ở tŕnh độ loài người mà là ở tŕnh độ loài tinh hoa chất thứ nhất. Họ chuyển qua loài tinh hoa chất thứ hai và thứ ba rất nhanh, và sau đó đi liên tiếp qua loài kim thạch, thảo mộc và thú cầm cho đến khi họ đạt được h́nh thể loài người.

Trong mỗi loài này, họ tạo ra các h́nh thể của chúng, lấy ư tưởng về h́nh thể của chúng từ tâm trí của các vị Chúa Tể Mặt Trăng, người thay mặt cho Thượng Đế để hướng dẫn quá tŕnh tiến hoá của bầu đó. Có lẽ chúng ta nên nói rằng các thực thể man rợ này chảy vào những cái khuôn được h́nh thành bởi các Vị hướng dẫn và dùng những cái khuôn này để tạo ra những h́nh thể cho những thực thể theo sau chúng, v́ theo sát đằng sau chúng luôn là các lớp Chân Thần kế tiếp, những Chân Thần tiến hoá cao nhất của số chưa rời khỏi hồn khóm ở dăy mặt trăng, và tiếp theo chúng là tất cả những Chân Thần c̣n lại.

Khi lớp người man rợ của chúng ta đă hoàn thành công việc trên bầu thứ nhất của ṿng tuần hoàn thứ nhất, họ chuyển đến bầu thứ hai và lập lại y quá tŕnh này ở đó trong chất liệu đậm đặc hơn; khi việc này đă được hoàn tất th́ họ lại qua bầu thứ ba, thứ tư rồi cứ như vậy, trải qua ḍng tiến hoá tẻ nhạt từ loài tinh hoa chất thứ nhất cho đến loài người trong mỗi bầu, hầu các h́nh thể có thể được chuẩn bị cho những lớp theo sau. Ở cuối ṿng tuần hoàn thứ nhất, nhiệm vụ của họ đă được hoàn tất và họ đi vào bầu thứ nhất của ṿng thứ nh́ ở tŕnh độ của người bán khai, mặc dù họ man rợ đến mức thật khó nhận ra được một lợi ích ǵ đáng kể từ điều này.

Trong quá tŕnh của ṿng tuần hoàn thứ nh́ đó (ở dăy địa cầu của chúng ta), loài thú hạng nhất của dăy mặt trăng đă đạt được tŕnh độ loài người, và điều tương tự như vậy cũng xảy ra ở trong ṿng thứ ba đối với loài thú hạng nh́ của dăy mặt trăng. Tuy nhiên, sự gia nhập của những người hạng nh́ của dăy mặt trăng vào giữa ṿng thứ ba gây ra một rắc rối mới, v́ những người đă thành công thiết lập một cái khung cho nhân thể ở dăy mặt trăng. Nhập vào ở giai đoạn này, họ nhanh chóng tiến về phía trước và trở thành những người lănh đạo.

Các học sinh sẽ nhớ rằng chu kỳ của bầu thế giới thứ tư ở ṿng tuần hoàn thứ tư sẽ khác với tất cả chu kỳ khác, v́ ở một mức độ nào đó nó là sự tóm tắt lại của các giai đoạn tiến hoá sớm hơn. Một phần lớn thực thể loài thú dường như đang tiến gần đến giai đoạn cá nhân hoá, nhưng chúng không thể đạt được nó trong diễn tiến b́nh thường của sự tiến hoá trước thời điểm của giữa ṿng tuần hoàn thứ tư, khi cánh cửa giữa loài người và loài thú sẽ bị đóng lại. Do đó, một cơ hội đặc biệt đă được tạo ra cho chúng, và hoàn cảnh của ṿng tuần hoàn thứ nhất, thứ nh́ và thứ ba đă được tái tạo trong những h́nh thể nhỏ hơn của giống dân thứ nhất, thứ nh́ và thứ ba của chu kỳ của bầu thế giới hiện nay.

Nếu chúng ta nh́n lại nhân loại như họ đă xuất hiện trên Hỏa Tinh (bầu thứ ba) trong ṿng tuần hoàn thứ tư này, chúng ta sẽ thấy rằng về h́nh dáng, họ không khác nhiều lắm so với bây giờ, và điều này là đúng cho tất cả các giống dân của bầu Hỏa Tinh từ một cho đến bảy. Tuy nhiên, nếu chúng ta nh́n lại nhân loại của chúng ta từ giống dân chính thứ nhất trên bầu của chúng ta (bầu thứ tư) trong ṿng tuần hoàn hiện nay, chúng ta sẽ thấy rằng các thành viên của nó không giống như bất cứ nhân loại nào mà chúng ta biết. Họ chỉ là những đám mây lơ lửng - giống như loài người của ṿng tuần hoàn thứ nhất một lần nữa. Cũng như vậy, những người thuộc giống dân chính thứ nh́ của chúng ta cũng có những h́nh dáng vô định kỳ lạ như các túi kem nhăo (pudding-bag), một h́nh dạng chưa bao giờ được nh́n thấy ở bất cứ bầu thế giới nào khác của dăy chúng ta kể từ ṿng thứ hai. Trong giống dân chính thứ ba cũng xảy ra sự kiện của việc đi sâu vào vật chất đậm đặc hơn một lần nữa và sự phân chia giới phái - vốn là đặc điểm của giữa ṿng tuần hoàn thứ ba.

Tất cả những điều kiện này đă được thực hiện chỉ v́ lợi ích cho các thực thể chậm tiến, và ta đừng quên rằng chỉ có họ mới tham gia trong đó - nên nó giải thích các tội ác được gây ra bởi những kẻ vô tri, sự xuống cấp tột độ của các h́nh thể, và c̣n những sự kiện khác. Không có nhân loại nào của các ṿng tuần hoàn khác trước đây (và của những bầu trước đây của ṿng tuần hoàn này) xuất hiện trong khoảng thời gian đó. Tất cả những thành viên của nó chỉ tham gia khi những thay đổi trong h́nh thể ở giữa giống dân chính thứ ba đă đưa nó trở về lại những h́nh thể tiến hóa giống như những ǵ mà họ đă quen trước đó, mặc dù lúc đó những h́nh thể ở cơi trần vẫn c̣n thấp kém đến nỗi có vài số linh hồn trong các làn sóng tiếp theo từ chối chiếm lấy chúng. Trên thực tế, toàn bộ kế hoạch của các giống dân trước đây trên quả địa cầu này là một cơ hội cuối cùng cho những linh hồn chậm tiến, và nó đă thành công ở một mức độ đáng kể. Nhiều thực thể không thể tận dụng được các điều kiện ở các ṿng trước đây, giờ đă có thể làm được một điều ǵ với chúng, nhất là với sự hỗ trợ của một lực thúc đẩy tiến hoá lớn đến từ sự giáng phàm của các vị Hoả Đức Tinh Quân từ dăy Kim Tinh.

Ở ṿng tuần hoàn thứ tư, các loài thú hạng ba của dăy mặt trăng đă đạt đến tŕnh độ cá nhân hoá, và ở giữa thời điểm của giống dân chính thứ ba của bầu này (địa cầu), những người kém tiến hoá hơn của hạng người thứ nhất của dăy mặt trăng cũng bắt đầu trở lại đầu thai. Từ thời điểm đó cho đến giữa chu kỳ của giống dân Atlantis, và thậm chí có thể c̣n xa hơn nữa, những Chân Thần của hạng người thứ nhất của dăy mặt trăng cũng nhanh chóng quay lại đầu thai, và dĩ nhiên họ đă chiếm ngay vị trí hàng đầu của loài người đang phát triển trong lúc đó.

Hy vọng rằng nỗ lực giải thích này sẽ giúp cho cho những người nghiên cứu về chủ đề rất thú vị này dễ hiểu hơn. Đúng là nó có rất nhiều chi tiết phức tạp, nhưng các nguyên tắc chung th́ rất rơ ràng, và một học sinh ghi nhớ được các nguyên tắc này sẽ nhanh chóng nắm được toàn bộ kế hoạch của cơ tiến hoá.

 

DĂY ĐỊA CẦU

Chúng ta đă đi qua điểm giữa của ḍng tiến hoá của dăy thế giới chúng ta. Có tất cả bảy ṿng tuần hoàn, bảy cuộc hành tŕnh qua bảy bầu. Ba trong bảy số cuộc hành tŕnh này đă được hoàn tất, và chúng ta hiện đang ở bầu thứ tư (bầu giữa) của ṿng tuần hoàn thứ tư. Điểm giữa của chu kỳ thế giới chúng ta phải là thời cao điểm của giống dân thứ tư, giống dân Atlantis, và v́ chúng ta hiện đang ở trong thời kỳ tương đối ban đầu của lịch sử giống dân chính thứ năm, nên rơ ràng là chúng ta chỉ vừa mới vượt qua được phân nửa chu kỳ. Tuy nhiên, chúng ta không biết được rằng liệu điểm giữa của ḍng tiến hoá có phải tương xứng với điểm giữa của ḍng thời gian hay không, bởi v́ chúng ta không biết được liệu mọi ṿng tuần hoàn hoặc chu kỳ của mọi giống dân đều dài bằng nhau hay không. Như tôi đă có nhắc đến trước đây, có lẽ chúng có khả năng dài ngắn khác nhau, thậm chí có thể rất lớn, và chúng ta có lư do để hy vọng rằng những người ở trước mặt chúng ta có thể sẽ có những chu kỳ ngắn hơn so với những người ở đằng sau chúng ta.

Như tôi đă nói, để suy đoán xem những chu kỳ khổng lồ này thật sự dài bao nhiêu là một điều vô bổ. Vài năm trước đây, chúng tôi đă bỏ ra rất nhiều công sức để xác minh một trong những niên đại xa xôi được đưa ra trong quyển Giáo Lư Bí Truyền, tức là 16.5 triệu năm kể từ sự phân chia giới tính xảy ra ở giữa giống dân chính thứ ba. Chúng tôi đă khám phá ra rằng sự phân chia đó là một quá tŕnh kéo dài hơn cả một triệu năm vào nhiều thời điểm khác nhau ở khắp mọi nơi khác nhau trên thế giới. Sau khi chọn ra một thời điểm mà dường như việc này đă được hoàn tất một cách khá tốt, chúng tôi đă tính từ thời điểm đó cho đến nay bằng cách quan sát các sự thay đổi cụ thể trong thiên văn, và kết quả của chúng tôi khác con số của Bà Blavatsky khoảng 100,000 năm. V́ sự quan sát này được thực hiện nhiều năm sau cái chết của Bà và bằng những phương pháp hoàn toàn khác với bất cứ cách nào mà tôi biết Bà đă từng dùng, nên tôi cho rằng chúng ta có thể chấp nhận nó như là một bằng chứng xác minh rất tốt.

Từ những ǵ chúng tôi đă thấy trong quá tŕnh điều tra đó, chúng tôi đă đi đến kết luận rằng tất cả những thay đổi căn bản trước đó trong việc cấu tạo cơ thể con người đă đi qua một khoảng thời gian thực sự rất lâu, trong khi các thay đổi sau đó liên quan đến sự phát triển của các nền văn minh con người lại trôi qua rất nhanh, nên các thời đại này có thể được đếm trong ṿng vài ngh́n năm, trong khi những thời kỳ trước đó phải cần đến cả hàng triệu năm. V́ vậy, dù không bảo đảm được ngày tháng chính xác liên quan đến phần trước của quá tŕnh tiến hoá kỳ diệu này, chúng ta hăy liếc qua thật nhanh những kỳ công đă được thực hiện cho đến ngày nay trên dăy địa cầu.

Trước khi thái dương hệ này biểu lộ, Thượng Đế đă tạo ra toàn bộ kế hoạch này trong tâm trí của Ngài và như thế ban cho nó sự sống hiện hữu ở cơi trí của Ngài. Cơi này ngự trị ở tầng cấp nào th́ chúng tôi không thể biết được, có thể nó là nơi mà chúng ta gọi là cơi trí của vũ trụ, hoặc có thể c̣n cao hơn nữa. Đối với nó và mối liên hệ của nó với thái dương hệ của chúng ta, Bà Blavatsky đă tặng cho nó cái tên “thế giới của khuôn mẫu,” và người Hy-Lạp dường như đă từng gọi nó là “thế giới của tư tưởng.” Tất cả những ǵ chúng ta nghe hoặc đọc được về sự thành h́nh tức th́ của một thái dương hệ từ cái không có ǵ cả ám chỉ về sự h́nh thành của các h́nh tư tưởng vũ trụ này.

Thật vậy, từ một góc nh́n nào đó, dường như chúng ta chỉ là một biểu lộ của chính Hành Tinh Thượng Đế và cơ tiến hoá đang diễn ra trong chính cơ thể của Ngài, như thể các bầu hành tinh là các trung tâm lực trong cơ thể đó, hay đúng hơn, là linh hồn của chúng, các nguyên lư cao hơn, thay v́ là các bầu hành tinh vật lư như chúng ta có thể nh́n thấy. Từ quan điểm này, bầu A chính là biểu hiện cho bộ năo hoặc thể trí của Ngài và tất cả các h́nh thể này đều tồn tại trong tâm trí của Ngài, v́ cơi trí của chúng ta không chỉ là cơi phụ thứ ba của cơi thấp nhất của vũ trụ, đồng thời nó cũng là cơi phụ thấp nhất của một phương diện hoặc biểu lộ của Thượng Đế. Chúng ta có thể hiểu rằng Ngài tự biểu lộ qua bảy cách hay bảy phương diện, và mỗi một cá tánh mà chúng ta gọi là một cơi thật ra là h́nh thức thấp nhất của một trong những phương diện này, nên cảnh nguyên tử của cơi trí chúng ta thật sự là cảnh thấp nhất của thể trí của vị Hành Tinh Thượng Đế.

Trước khi Đức Bàn Cổ của một dăy hoặc của một ṿng tuần hoàn bắt đầu nhiệm vụ được ủy thác cho Ngài, Ngài sẽ kiểm tra phần nào của h́nh tư tưởng vĩ đại đó có liên quan đến công việc của Ngài và đem nó xuống ở gần tầm tay để Ngài có thể tham khảo liên tục. Điều tương tự như vậy cũng được thực hiện ở một tầng cấp thấp hơn do Đức Bàn Cổ của mỗi bầu thế giới và của mỗi giống dân chính. Ở cấp độ của họ, mỗi vị Bàn Cổ đều có một h́nh mẫu mà Ngài cần phải xây dựng ở ngay trước mặt và tùy theo trường hợp, Ngài sẽ cố gắng tạo ra một giống dân hoặc một bầu thế giới của Ngài càng giống như ư định của Thượng Đế th́ càng tốt. V́ Ngài phải làm việc với những chất liệu hiện đă có sẵn nên Ngài chỉ có thể tiến đến sự chân thiện mỹ được đ̣i hỏi theo từng bước nhỏ, do đó những nỗ lực trước đây để tạo ra một giống dân thường chỉ thành công có một phần.

Trong ṿng tuần hoàn đầu tiên của dăy địa cầu, Đức Bàn Cổ nhận lănh trọng trách này đă đem xuống hết các h́nh mẫu cho nguyên một dăy. Mặc dù có nhiều mô h́nh sẽ không được hoàn hảo cho đến ṿng thứ bảy, mầm giống của chúng đă xuất hiện ngay ở dưới đây trong ṿng đầu tiên. Ngài chọn ra một số h́nh thể nhất định cho mỗi loài mà Ngài muốn làm sinh động trong ṿng đầu tiên với ư định sẽ phát triển từ chúng tất cả những ǵ mà Thượng Đế muốn cho dăy Địa Cầu này trong các giai đoạn về sau. Kế hoạch của các h́nh thể này, được vật chất hoá ở cấp độ mà họ có thể dùng được, đă được giao cho một trong các vị Chúa Tể Mặt Trăng, người được uỷ thác nhiệm vụ thiết lập các hoạt động cho dăy đầu tiên. Họ tạo ra các h́nh thể này trên mỗi bầu của bảy bầu thế giới trong ṿng tuần hoàn đầu tiên đó, và khi họ vừa hoàn tất xong các h́nh thể th́ người man rợ của dăy mặt trăng liền nhập vào chúng, làm cho chúng rắn lại và sử dụng chúng, rồi từ chúng sanh ra các h́nh thể khác có thể được dùng bởi loài thú của dăy mặt trăng thuộc tầng lớp thấp hơn họ.

Trên mỗi hành tinh, những người man rợ của dăy mặt trăng bắt đầu từ loài thấp nhất với các h́nh thể cần thiết cho loài tinh hoa chất thứ nhất. Sau đó, họ lần lượt nhanh chóng đi qua loài tinh hoa chất thứ hai và thứ ba, kế đến là loài kim thạch, thảo mộc và thú cầm cho đến loài người. Sau khi họ đă hoàn tất công việc này trên mỗi hành tinh, họ đă đi đến tầng cấp của loài người lần cuối ở hành tinh thứ bảy của dăy Địa Cầu. Từ lúc đó, họ đă nghỉ làm công việc đặc biệt này, v́ ở ṿng thứ nh́ và sau đó họ đă là con người ngay từ lúc đầu.

T́nh trạng ở ṿng tuần hoàn thứ nhất khác với bất kỳ những ǵ xảy ra sau đó. Trước tiên, sự sống trong mọi trường hợp đều thuộc về một tầng lớp cao hơn, v́ khi các bầu hành tinh được biểu hiện th́ chúng đă ở tŕnh độ ngang hàng với các bầu của dăy mặt trăng. Ví dụ, bầu A và G hiện đang ở cơi hạ trí lúc đó cũng từng là sân trường cho sự sống thuộc về tầng lớp cao hơn. Chính các bầu hành tinh lúc đó cũng được h́nh thành bằng chất liệu của cơi hạ trí, nhưng nó chưa đủ thích hợp cho các thực thể thuộc tầng lớp của nó cư ngụ v́ nó chưa đủ đậm đặc hoặc yên tĩnh. Bầu B và F, mặc dù được làm bằng chất liệu của cơi trung giới, lúc đó lại chỉ được sử dụng cho các h́nh thể thuộc cơi hạ trí.

Phần lớn Hỏa Tinh và Thuỷ Tinh lúc đó vẫn c̣n ở trong trạng thái của chất khí (gas) và chất dĩ thái, và các thực thể sống trên hai hành tinh này chỉ có thể sử dụng thể vía của họ. Chính hành tinh D của chúng ta (trái đất) lúc đó tuy đă chứa rất nhiều chất liệu hồng trần nhưng vẫn c̣n ở trong t́nh trạng quá nóng đến nỗi nó có rất nhiều sông và hồ, thậm chí c̣n có những trận mưa rào kim loại nóng chảy, nên lúc đó những người có cơ thể chỉ giống như chúng ta một chút cũng không sao tồn tại được. Tuy nhiên, những cư dân lúc đó chỉ sử dụng các dẫn thể thuộc chất liệu dĩ thái và do đó không bị làm khó chịu bởi các hoàn cảnh này. Trong khoảng thời gian giữa ṿng tuần hoàn thứ nhất và thứ nh́, vật liệu của một số bầu đă có th́ giờ ổn định lại trong một trạng thái trật tự hơn để mỗi bầu có thể được dùng làm nơi sinh sống cho các thực thể sử dụng các dẫn thể có đồng chất liệu với nó.

Thật khó tưởng tượng được quá tŕnh tiến hoá của dăy thứ nhất đă diễn ra như thế nào, thậm chí những người trong số chúng tôi đă từng chứng kiến nó cũng khó tường thuật lại bằng ngôn ngữ hồng trần. T́nh trạng hiện giờ trên bầu A không phải là dễ hiểu. Chúng ta có thể hiểu rằng loài người ở bầu đó đang sống trong thể trí của họ, và chúng ta cũng có thể tưởng tượng được hồn khóm của loài thú và loài thảo mộc ở một mức nào đó cũng có thể tồn tại ở nơi đó bằng một cách này hoặc cách khác, nhưng c̣n loài kim thạch th́ sẽ sống như thế nào ở cơi trí? Nó sẽ tương xứng với tư tưởng của chúng ta về một khoáng chất. Tuy nhiên, chúng ta sẽ lầm to khi cho rằng như vậy h́nh tư tưởng mà chúng ta có thể tạo ra về vàng sẽ là đại diện duy nhất của vàng ở cơi đó; h́nh tư tưởng tồn tại nơi đó là của Đức Bàn Cổ, và nó được uốn nắn bởi một quyền năng vượt ngoài khả năng suy nghĩ của chúng ta.

Mỗi vật tồn tại ở cơi Trần phải hiện hữu theo một cách nào đó ở tất cả các cơi bên trên của nó, v́ nó là một biểu hiện của sự sống thiêng liêng và do đó phải có một đường dây liên hệ thông qua các cơi. Chắc chắn phải có một số ảnh hưởng nào đó tác động lên các đối phần cao hơn của loài kim thạch để biểu thị cho sự tiến hoá của chúng ở các bầu thanh nhẹ hơn, nhưng ư tưởng này không phải dễ được giải thích hoặc dễ phù hợp với các quan niệm của bộ năo thể xác. Nó là việc đem xuống các năng lượng trí tuệ tuôn ra từ Thượng Đế - từ cơi trí vũ trụ của Ngài vào chất liệu trí nguyên thuỷ (prakritic mental), vốn là cơi trí của chúng ta. Đó là tư tưởng của Ngài về một khoáng chất, được vật chất hoá ở một mức độ thấp nhất, giống như tư tưởng của chúng ta về thể phách của một khoáng chất.

Khi toàn bộ h́nh tư tưởng này được đem xuống bầu D ở ṿng tuần hoàn thứ nhất, thể phách của một khoáng chất đă được h́nh thành, nhưng ngay cả lúc đó nó cũng không phải là một thể phách toàn vẹn v́ ở giai đoạn trước đó, chỉ có một số cơi phụ được làm sinh động hoàn toàn. Ngay cả hạt nguyên tử hồng trần cũng vẫn c̣n lờ đờ, chậm chạp v́ nó chỉ có một bộ ṿng xoắn hoạt động. Cứ trong mỗi ṿng tuần hoàn, một thần lực được tuôn thêm vào các hạt nguyên tử và việc này đẩy thêm một bộ ṿng xoắn vào vùng hoạt động để đến bây giờ, chúng ta đang ở ṿng tuần hoàn thứ tư nên các hạt nguyên tử có bốn bộ ṿng xoắn đang hoạt động; tuy nhiên, hạt nguyên tử hiện giờ của chúng ta thậm chí vẫn không là ǵ cả so với hạt nguyên tử sẽ hiện diện ở ṿng thứ bảy, khi tất cả các bộ ṿng xoắn đều hoạt động đầy đủ và nguyên cả hạt nguyên tử sẽ giống như là Thượng Đế đă chỉ định cho nó lúc khai nguyên.

Con người ở bầu A trong ṿng tuần hoàn thứ nhất thật sự không thể được gọi là con người - y là một tư tưởng. Một ngày nào đó y sẽ là một thể trí (mind-body), một mầm giống trí tuệ có liên hệ với các thể tương lai của nó giống như một bào thai của một đứa bé tháng đầu tiên có liên hệ với một cơ thể hoàn chỉnh của con người. Y không có ý thức gì nhiều ở giai đoạn sớm này.

Như chúng tôi đã nói, trong vòng tuần hoàn thứ nhất ở bầu B trên cõi trung giới, mọi thứ đều đã được đem xuống cõi hạ trí và trụ vững vàng ở đó với một chút xíu phát triển về thể vía. Ở Hỏa Tinh, con người đã có các thể vía rơ ràng nhưng chúng vẫn chưa được hoàn hảo bởi vì khi đó chỉ có một số vật liệu nhất định của vài cảnh trung giới là có thể được sử dụng. Một chút xíu chất dĩ thái cũng được đưa vào đó mặc dù bầu đó cũng chỉ có sẵn một vài loại vật liệu dĩ thái có thể được dùng. Trong vòng tuần hoàn đầu tiên của quả địa cầu này, con người có các thể dĩ thái nhưng chúng chỉ là những đám mây vô định, mặc dù đến cuối thời kỳ của bầu thế giới này chúng bắt đầu tụ tập chất hơi cũng như chất dĩ thái xung quanh chúng. Chúng có vẻ hấp thụ được các dinh dưỡng cần thiết từ bầu khí quyển nóng bỏng xung quanh chúng.

Dường như chúng có một lô các biểu hiện liên tiếp mà tôi cho rằng chúng ta phải coi chúng như là tương ứng với các giống dân, nhưng chỉ có giống dân chính, bởi vì chỉ có bảy loại giống dân chính, và một kiếp đầu thai (nếu chúng ta có thể gọi nó là một kiếp đầu thai) của mỗi cá nhân kéo dài đến cả một chu kỳ của một giống dân. Tuy nhiên, dường như chu kỳ của các bầu thế giới đó c̣n dài hơn rất nhiều so với hiện giờ, và với quan niệm nhân sinh quan của chúng ta, chúng ta khó có thể hiểu được làm thế nào thuỷ tổ xưa nhất của loài người có thể xoay sở để tiến hoá. T́nh trạng của bầu thế giới này (bầu B) đã được mô tả, nhưng chúng ta nên lưu ý rằng có một số nguyên tố hóa học đã bắt đầu kết hợp. Đến cuối thời kỳ của bầu thế giới này, nhiệt độ đã giảm xuống đáng kể, có lẽ trung bình khoảng 1000oF, mặc dù nó vẫn c̣n rất nóng ở một số khu vực và ở những chỗ khác, nó đă giảm xuống đến mức độ của nước sôi.

Ở bầu E (Thủy Tinh) chúng (các dẫn thể) chỉ có ba loại dĩ thái chứ không phải là bốn như ở trên quả địa cầu, nhưng rơ ràng chúng đă tiến bộ và có vẻ sống động hơn so với trước đây, mặc dù ngay cả hiện giờ tâm thức của chúng cũng dường như giống như con a-míp (amoeba). Tuy nhiên, rõ ràng là con người đã bắt đầu làm việc một cách mù mờ trong lúc đi lên và đi xuống - đi xuống để làm đậm đặc lại các dẫn thể thấp hơn và đi lên để làm cho chúng có ý thức hơn. Mặc dù mọi thứ đều ở giai đoạn sơ khai, nhưng rõ ràng là mỗi bầu là một bước tiến bộ so với bầu trước đó. Tuy nhiên trong mọi trường hợp, dường như con người thậm chí c̣n chưa ý thức được một cách đầy đủ về bất cứ phần nhỏ nhoi nào của vật liệu mà y đang sử dụng. Người ta có một ấn tượng là mỗi phần phụ lại được chia thành những phần phụ nhỏ hơn, và y chỉ có khả năng dùng được một phần của một phần phụ nhỏ đó.

Chúng tôi dường như có ít điều để nói về quá tŕnh tiến hoá trên bầu F và G, ngoài việc đây là lần đầu tiên chúng tôi bắt đầu để ư đến hiện tượng kỳ lạ của sự thất bại. Từ lúc bắt đầu, trên mỗi bầu đều có một phần nhỏ của mỗi loài cố t́nh bị bỏ rơi lại đằng sau để trở thành mầm giống cho lần định cư kế tiếp ở tại hành tinh đó trong ṿng tuần hoàn kế tiếp. Nếu điều này không được thực hiện th́ tất cả công việc phiền phức liên quan đến việc tạo ra các h́nh thể mới phải được thực hiện một lần nữa trên mỗi bầu trong mỗi ṿng tuần hoàn, trong khi với kế hoạch hiện tại, lúc nào cũng có một số cư dân ở lại trên mỗi hành tinh để có thể tạo lại các giống dân trong ṿng tuần hoàn kế tiếp khi cần thiết. Làn sóng vĩ đại của sự sống di chuyển từ hành tinh này đến hành tinh khác tuỳ theo ư muốn của Thượng Đế. Khi Ngài tập trung sự chú ư của Ngài vào một bầu, sự sống bừng lên và quá tŕnh tiến hoá được đẩy mạnh về phía trước. Khi mắt Ngài rời khỏi nó th́ sự sống sẽ tàn lụi dần, bánh xe tiến bộ cũng chùng lại và làn sóng sẽ chuyển đến bầu thu hút được sự chú ư của Ngài. Tuy nhiên, sự sống không phải hoàn toàn tắt lịm (trên bầu cũ).

Một con số nhỏ của loài người, thú cầm, thảo mộc vẫn c̣n ở đó nhưng không gia tăng. Dân số này thường được duy tŕ như vậy qua hàng triệu năm dài không kể xiết cho đến khi sự sống nhập lại trên hành tinh đó một lần nữa. Khi làn sóng sinh hoạt đi vào nó một lần nữa, khi vô số linh hồn sẵn sàng đầu thai vào nơi đó, giống dân tŕ trệ này đột nhiên sinh sôi nảy nở rất nhanh và các sự thay đổi lớn và nhiều loại cải thiện vượt bực sẽ được nhanh chóng đưa vào các dẫn thể để chúng có thể sớm tiến bộ hầu thích hợp với đoàn người với tŕnh độ tiến hoá hơn rất nhiều đang ồ ạt đi vào. Trong khi đó, một giống dân nhỏ và tương đối chậm chạp hơn sẽ lo toan cho những linh hồn c̣n đang tham gia ở ṿng bên trong như tôi đă nhắc đến. Như tôi đă nói, hạt giống này đă cố t́nh bị bỏ lại đằng sau trên các bầu của ṿng tuần hoàn thứ nhất, v́ vào cuối ṿng đó vẫn c̣n có những linh hồn chưa đạt được tiêu chuẩn được yêu cầu đối với họ, những người không đủ sức để đi đến bầu G ở thời điểm khi chu kỳ tiến hoá b́nh thường của bầu F đă kết thúc.

Những thực thể như vậy đă bị bỏ lại đằng sau và như vậy sẽ tiếp tục làm việc đều đặn với phần c̣n lại ở bầu F, có lẽ sau một thời gian họ cũng sẽ chuyển qua để gia nhập với tàn dư của bầu G; cũng có thể, do một sự thúc đẩy phi thường nào đó, đôi khi họ có thể đuổi theo kịp làn sóng sinh hoạt cũ của họ, nhưng thông thường họ vẫn tiếp tục thụt lại ở phía sau cho đến khi làn sóng sinh hoạt đuổi kịp họ trong ṿng tuần hoàn kế tiếp của nó qua các bầu. Trong trường hợp sau này, họ thường tự thấy ḿnh ở trong một lớp Chân Thần thấp kém hơn là tầng lớp mà họ đă từng thuộc về. Quy tŕnh này là một kiểu đảo ngược quy tŕnh của ṿng bên trong. Ở ṿng bên trong, linh hồn chạy trước làn sóng sinh hoạt, và bằng cách thực hiện thêm một cuộc hành tŕnh ṿng quanh các bầu, y tự nâng ḿnh lên một cấp bậc cao hơn. Những kẻ lười biếng bị rơi lại đằng sau làn sóng sinh hoạt và rớt xuống một lớp thấp hơn v́ họ bị mất đi một ṿng tuần hoàn để tiến hóa. Một tỷ lệ nhất định của những người thất bại này xuất hiện trên mỗi hành tinh và trong mỗi loài - những thực thể khoáng chất lẽ ra phải tiến đến tầng lớp thảo mộc, loài thảo mộc lẽ ra phải tiến đến loài thú, và loài thú lẽ ra đă phải cá nhân hoá.

Vật liệu của các cơi thấp hơn không thể nào được chuyển từ hành tinh này đến hành tinh khác. Ví dụ, khi chúng ta rời khỏi hành tinh này để đầu thai ở bầu Thuỷ Tinh, chỉ có các linh hồn được chuyển qua. Những linh hồn đó sẽ rút chung quanh họ chất liệu cơi trí và cơi trung giới thuộc về hành tinh mới, và họ sẽ chiếm lấy thể xác bằng cách nhập vào các dẫn thể sơ sinh được cung cấp bởi một số người đang sống tại Thuỷ Tinh.

Chắc chắn là lúc ban đầu các dẫn thể sẽ kém về mặt phẩm chất, nhưng các Chân Thần hạng nhất sẽ không dùng chúng bởi v́ theo quy luật của cơ tiến hoá, những người đă đạt đến tŕnh độ cao nhất của một hành tinh sẽ không bao giờ đầu thai lại vào các giống dân bán khai của hành tinh kế tiếp. Họ không cần phải trải qua quá tŕnh tiến hóa bán khai mà các giống dân đầu cung cấp, và do đó họ chỉ gia nhập vào ḍng tiến hoá của hành tinh mới khi một tỷ lệ cụ thể của cư dân ở đó đă tiến hoá đến mức độ gần với tŕnh độ của họ và có thể cung cấp cho họ những dẫn thể thích hợp hơn.

Điều tương tự y như vậy cũng xảy ra khi các linh hồn chuyển từ dăy này đến dăy khác. Các cư dân tiến hoá nhất của dăy mặt trăng không xuất hiện trong ṿng tuần hoàn thứ nhất của dăy địa cầu mà chỉ đi vào ở giữa ṿng tuần hoàn thứ tư. Những linh hồn đầu thai vào giống dân chính thứ nhất ở bất cứ hành tinh nào đều là những người vẫn chưa vượt qua được điểm giữa của chu kỳ tiến hoá của hành tinh trước đó, như những người man rợ của dăy mặt trăng là những người đă làm hết các công việc của ṿng tuần hoàn thứ nhất ở dăy địa cầu mà chúng ta vừa nói.

Đối với ṿng tuần hoàn thứ nhất, tốt nhất là chúng tôi nên giải thích về sự khác biệt hiển nhiên giữa giáo lư Thông Thiên Học và lư thuyết của ông Darwin. Trong ṿng tuần hoàn thứ nhất, khi h́nh thể xuất hiện lần đầu tiên trên dăy địa cầu của chúng ta, h́nh thể của con người quả thật đă tiến hoá từ loài thú giống như Darwin đă thuyết, mặc dù nó cũng đúng là quá tŕnh này đă bị đảo ngược lại trong ṿng tuần hoàn thứ tư hiện thời, và h́nh thể của con người trên bầu trái đất này đă hiện hữu trước h́nh thể của bất cứ loài động vật có vú nào mà chúng ta đă biết.

Đối với quá tŕnh dài đăng đẳng của sự sàn lọc tự nhiên từ những sự biến hóa t́nh cờ của thiên nhiên, chúng tôi thay vào đó một hướng đi khôn ngoan cho cả quá tŕnh sàn lọc và sự biến đổi, v́ chúng tôi đề nghị rằng h́nh thể chỉ biến hoá hầu chúng là một biểu lộ thích nghi của sự sống đang phát triển bên trong. Thái độ của chúng tôi đối với học thuyết Darwin là chúng tôi đồng ư với những khám phá của nó trên đại cương, nhưng chúng tôi đưa chúng đi xa hơn nữa v́ chúng tôi đề xuất rằng c̣n có một sự tiến hoá về mặt tinh thần lẫn vật chất.

Trong ṿng tuần hoàn thứ nh́, các h́nh thể được thành lập từ ṿng thứ nhất đă có sẵn ở đó nên quá tŕnh tái tạo nó không cần phải được lập lại nữa. Mỗi cảnh của một cơi được chia ra làm bảy cho nên trong mỗi cơi có đến 49 cảnh phụ. Trong ṿng tuần hoàn thứ nh́, con người đang làm việc với và thông qua cảnh phụ thứ nhất và thứ nh́ của mỗi cảnh, nên dù y đă có đầy đủ vật liệu của mọi cơi trong y, chỉ có hai cảnh phụ của hai cảnh thấp hơn là đang hoạt động. Có thể nói là con người đang bắt đầu từ từ xây dựng bốn nguyên lư thấp trong nửa giai đoạn đầu của sự tiến hoá của y.

Trong ṿng tuần hoàn thứ nh́, h́nh dạng của các giống dân đă khá rơ nét hơn và có thể được phân biệt giữa nhau. Con người đă không c̣n là những đám mây lơ lửng của chất dĩ thái hoặc chất hơi mà đă tiến hoá ở một mức độ khá rắn chắc, tuy họ vẫn là một khối thạch nhăo chưa có h́nh thù xác định lắm. Bà Blavatsky so sánh họ với các túi kem nhăo (pudding-bags) bởi v́ họ có những chỗ lồi ra kỳ quái không rơ ràng thay v́ là đôi cánh tay hoặc đôi chân. Ở đầu ṿng tuần hoàn này, những chỗ lồi ra trên cơ thể của họ tạm thời giống như một con a-míp, nhưng sự lập đi lập lại quá tŕnh này cuối cùng đă biến chúng thành vĩnh viễn và uốn nắn chúng theo một h́nh dạng gần giống như cái cuối cùng được chỉ định cho chúng. Nhiều người có thân h́nh nhẹ và dẻo đến nỗi họ có thể bay lơ lửng trong bầu khí quyển nặng nề lúc đó. Các người khác lăn thay v́ ḅ, nhưng không ai có thể tự đứng thẳng mà không cần sự giúp đỡ.

Đáng tiếc, con người lúc đó vẫn c̣n chưa phát triển đầy đủ các dẫn thể cao hơn của y. Y có một thứ mà có thể được xem là cái trí và một thứ khác có thể thay thế cho một thể vía yếu ớt, nhưng tâm thức của y vẫn c̣n lờ mờ và không rơ ràng, và y có rất ít khả năng suy nghĩ, y chỉ sống dựa vào bản năng sinh tồn và gần như không có lư trí.

Trong ṿng tuần hoàn này, người-thú duy tŕ và cải thiện vị trí con người của ḿnh, trong khi loài thú hạng nhất đă đạt đến tŕnh độ loài người ở cuối ṿng tuần hoàn này. Cũng giống như tất cả các mô h́nh của loài kim thạch đă được đem xuống trong ṿng tuần hoàn thứ nhất mặc dù chúng chưa được thiết lập đầy đủ, các mô h́nh của loài thảo mộc cũng đă được đem xuống trong ṿng tuần hoàn thứ nh́ mặc dù chúng phải đợi rất lâu sau đó để được hoàn tất. Có lẽ các mỏ than của chúng ta xuất phát từ loài thảo mộc trong thời kỳ này.

Trong quá tŕnh của ṿng tuần hoàn thứ ba, chúng ta đi đến những t́nh trạng dễ hiểu hơn. Ngay ở các bầu đầu tiên, h́nh dáng con người đă bắt đầu giống như con người (hiện nay) hơn so với trước đó, mặc dù y vẫn c̣n là một lùm mây khổng lồ và xấu xí. Ở ṿng tuần hoàn thứ ba trên bầu Hỏa tinh, con người lần đầu tiên có được một thứ có thể được gọi là cơ thể con người, mặc dù thoạt đầu nó chỉ là một thể dĩ thái và nh́n giống như một loại khỉ ḅ sát hơn là h́nh thể con người mà chúng ta biết đến hiện nay. Y vẫn c̣n giống như một khối thạch nhăo, và nếu một người dùng ngón tay ấn vào lớp da của y, một lỗ lơm sẽ hiện ra ở đó rất lâu trước khi nó được lấp đầy trở lại. Y có một bộ xương thô sơ, có lẽ sụn nhiều hơn xương, nhưng không đủ cứng để y đứng thẳng, và do đó y nằm lăn lóc và vùi ḿnh trong lớp bùn mềm mại, ấm áp bên cạnh các bờ sông.

Lúc đó, Hoả Tinh có nhiều nước hơn so với bây giờ và phần lớn xứ sở đó rất đẹp, mặc dù loài thảo mộc của nó rất là kỳ lạ. Bầu không khí của nó đối với chúng ta có thể được coi là không thể thở được – nó có nhiều chất chlorine và rất ngộp thở. Tất cả mô h́nh của loài thú đă được đem xuống trong ṿng tuần hoàn này, mặc dù rất nhiều trong số mô h́nh đó chưa được thiết lập cho đến giữa ṿng tuần hoàn hiện tại của chúng ta.

Trên trái đất ở ṿng tuần hoàn thứ ba, có nhiều sự thay đổi lớn đă xảy ra. Ngay từ lúc đầu, con người đă rắn chắc hơn và bắt đầu cố gắng tự đứng thẳng lên, mặc dù họ vẫn c̣n run rẩy và đứng không vững, luôn té ngửa lại đằng sau trên tứ chi khi họ bị rượt hoặc sợ hăi. Họ bắt đầu có tóc và lông trên thân thể, nhưng họ vẫn c̣n lỏng lẻo và mềm nhũn. Da của họ tối và khuôn mặt của họ thật không giống con người; nó dẹt một cách lạ lùng, với đôi mắt nhỏ và cách nhau rất xa nên họ có thể nh́n qua một bên cũng như ở đằng trước. Họ có hàm dưới phát triển rất lớn và gần như không có trán, nó chỉ là một cuộn bắp thịt giống như miếng xúc xích ở nơi mà cái trán phải hiện diện, toàn bộ cái sọ xệ xuống ở phía đằng sau một cách rất kỳ cục.

Cánh tay của họ dài hơn rất nhiều so với chúng ta và họ không thể duỗi tay thẳng ra ở khuỷu tay, đầu gối cũng vậy. Tay chân của họ to khổng lồ và méo sẹo, với gót chân dài ra đằng sau gần bằng các ngón chân ở phía trước, nên con người có thể lùi lại thật nhanh và vững vàng như đi về phía trước. Sự phát triển lạ lùng này được thuận lợi nhờ sự hiện diện của con mắt thứ ba ở đằng sau đầu, vẫn c̣n hiện hữu trong chúng ta dưới h́nh dạng thô sơ là tuyến tùng (pineal gland).

Thậm chí lúc này họ vẫn không biết dùng lư trí, chỉ sống với khát vọng và bản năng sinh tồn. Họ không biết ǵ về lửa và không biết đếm. Món ăn chính của họ là những sinh vật nhầy nhụa thuộc loại ḅ sát, nhưng họ cũng đào lên và ăn một vài loại nấm cục cổ xưa, và tôi từng thấy họ vặt đầu các cây dương xỉ (ferns) khổng lồ để ăn hạt của chúng.

Gần đến giữa chu kỳ phát triển của hành tinh này, sự phân tách giới tính xảy ra và rất nhanh sau đó, những người hạng nh́ của dăy mặt trăng bắt đầu đi xuống đầu thai. Trước tiên họ được sanh vào mẫu người đang sinh sống lúc đó, nhưng họ nhanh chóng thành lập một mẫu người mới cho bản thân họ sau đó, trở nên nhỏ hơn, chắc hơn, sáng sủa hơn và nói chung, giống con người nhiều hơn về mặt ngoại h́nh.

Chiến tranh luôn xảy ra giữa họ và các cư dân khổng lồ hơn trước đó, lúc nào cũng đến bắt và ăn thịt họ khi có cơ hội, nhưng những người đến sau, do khôn ngoan hơn, đă sớm thống trị đồng loại khổng lồ của ḿnh và giữ họ phục tùng theo một quy chế nào đó. Thật vậy, toàn bộ thế giới trên thực tế nhanh chóng rơi vào quyền cai trị của họ, và những giống dân trước đó buộc phải thích nghi với một đời sống văn minh hơn, hoặc bị xua đuổi vào những vùng xấu xa hơn của quốc gia.

Thế giới lúc đó vẫn c̣n rất xa trạng thái yên tĩnh như bây giờ. Những cơn động đất và núi lửa nổ tung đáng sợ vẫn thường xảy ra và đời sống của họ rất bấp bênh. Địa h́nh của trái đất lúc đó hoàn toàn khác hẳn với bây giờ, các ngọn núi dường như đạt đến các độ cao vút trời mà chúng ta chưa bao giờ từng thấy. Có những thác nước khổng lồ và rất nhiều hồ nước xoáy lớn.

Khi giống dân này chuyển qua bầu Thuỷ Tinh th́ chúng ta thấy cả nhân loại nói chung đă tiến bộ rất khá. T́nh thương xuất hiện nhiều hơn và loài người đă biểu hiện các dấu hiệu của ḷng vị tha, biết chia sẻ thức ăn của họ thay v́ gầm gừ với nhau như họ thường làm ở các giai đoạn trước đó. Sự hiện diện của những người thuộc dăy mặt trăng đă tạo ra một động lực lớn cho sự tiến hoá, và mặc dù phần lớn nhân loại vẫn c̣n nhiều thú tính và chưa tiến bộ, dấu vết của sự cộng tác và nền văn minh thô thiển đă bắt đầu xuất hiện. V́ không có nhiều điều đáng nói về hành tinh thứ sáu và thứ bảy nên chúng tôi sẽ chuyển qua mô tả về ṿng tuần hoàn thứ tư hiện tại của chúng ta.

Trên bầu A của ṿng thứ tư này, thể trí trở nên rơ ràng hơn trên cơi hạ trí và như vậy chúng ta có thể nói rằng trong ṿng tuần hoàn này, con người thật sự bắt đầu biết suy nghĩ. Kết quả đầu tiên không phải là tốt. Trong các ṿng trước đó, y chưa phát triển đầy đủ để tạo ra các h́nh tư tưởng ở bất cứ mức độ nào, và do đó loài tinh hoa chất của các bầu chỉ bị ảnh hưởng bởi các tư tưởng của các đại thiên thần khiến mọi vật đều sống hài ḥa và b́nh yên. Giờ đây, khi con người bắt đầu xen vào với những tư tưởng ích kỷ và khó chịu của y, trạng thái thoải mái này đă bị làm rối lên rất nhiều. Gây gổ, bất an và bất hoà được đưa vào đó, và loài thú dứt khoát rút lui khỏi con người và bắt đầu cảm thấy sợ hăi và căm thù đối với họ.

Từ lúc ṿng tuần hoàn này bắt đầu, tất cả các mô h́nh của loài người cùng với những thứ khác đă được đem xuống, những mô h́nh của các giống dân c̣n chưa được sinh ra. Bằng cách nghiên cứu chúng, chúng ta có thể thấy được con người sẽ nh́n ra sao trong tương lai. Họ sẽ có những dẫn thể tốt hơn về mọi mặt và sẽ đẹp hơn về ngoại h́nh, với sức mạnh tinh thần được biểu lộ rơ ràng qua h́nh dáng của họ.

Khi làn sóng sinh hoạt đến bầu Hoả Tinh trong ṿng tuần hoàn thứ tư này, ngoài mầm giống thông thường của loài người, trên hành tinh này cũng có một chủng tộc khác khó ưa nhất được nhắc đến trong quyển Giáo Lư Bí Truyền là những “thủy dân ác độc và xấu xa.” Họ là hậu duệ của một chủng tộc đă bị bỏ lại đằng sau trong ṿng tuần hoàn trước đó v́ họ không đủ sức để tiến hoá, và kể từ đó họ đă tham gia vào việc phát triển mặt xấu thay v́ mặt tốt trong bản chất của họ. Họ là loại người tầm thường nửa ḅ sát, nửa vượn nhưng có đôi mắt khủng khiếp của một con nhện độc và một sở thích đáng sợ về việc hành hung và tra tấn. Dường như họ cũng sở hữu một quyền năng tâm linh bậc thấp về thôi miên và là một phiên bản sơ khai của người Malakurumbas như đă được mô tả bởi Bà Blavatsky trong phần tường thuật của Bà về các bộ lạc trên đồi của người Nilgiris (ở Ấn độ).

Khi làn sóng sinh hoạt trở lại nơi đây, đoàn người gia nhập đă nhanh chóng biết tự bảo vệ ḿnh để không c̣n phải bị sợ những kẻ dă man quái dị này. Họ đă xây cất những thành lũy đầu tiên của con người để chống lại các cuộc tấn công có thể xảy ra và để đánh bại sự hung tàn của chúng, họ cũng đă xây cất các thành phố ban sơ đầu tiên và cùng sống với nhau khá đông. Lúc đầu, họ xây dựng các thành luỹ chủ yếu bằng gỗ và bùn, nhưng đôi khi cũng bằng những đống đá chưa được đục đẽo.

Vào thời kỳ này, một vài vị Chúa Tể Mặt Trăng đă đầu thai vào trong số người này và dạy họ nhiều thứ, trong số đó là cách sử dụng lửa mà họ vẫn chưa biết cách để tạo ra cho bản thân ḿnh. Các Vị Cao Cả đă thắp lửa cho họ, và sau đó họ giữ chúng cháy không ngừng. Rất sớm, một đạo luật nghiêm ngặt đă được ban bố rằng một ngọn lửa công cộng lúc nào cũng phải được giữ cháy sáng trong một toà nhà đặc biệt dành riêng cho nó, và những cô gái trẻ chưa có thể làm việc hoặc chiến đấu thường được để lại để trông chừng nó. Chắc là từ sự kiện này đă nảy sinh ư tưởng đầu tiên về một ngọn lửa thiêng luôn phải được đốt sáng như là một nghĩa vụ tôn giáo và việc chỉ định các trinh nữ hiến ḿnh cho đạo để canh giữ nó.

Tuy nhiên, đôi khi việc xảy ra là v́ một trận lụt hoặc băo lớn hay v́ một thảm hoạ nào đó, nguyên cả một vùng có thể bị thiếu lửa trong một khoảng thời gian nào đó, và như vậy người ta thường phải đi t́m lửa ở những nơi rất xa và đem nhu cầu thiết yếu này về lại khu vực của họ. Nhiều linh hồn liều lĩnh đă nảy ra ư kiến lấy lửa từ miệng núi lửa trong những trường hợp khẩn cấp như vậy, và nhiều sinh mạng đă bị hy sinh cho nỗ lực này. Chuyện này đă xảy ra trong giống dân chính thứ tư ở Hỏa Tinh.

Giống dân chính thứ năm tương đối tiến hoá hơn v́ họ xây nhà của họ từ những khối đá được đục đẽo, mặc dù họ không có trét hồ. Họ là những con người kiêu hănh và hiếu chiến, nhưng họ có một số quan niệm lạ lùng. Họ ít có sáng kiến và dường như rất sợ những điều ǵ mới lạ, coi chúng là vô đạo đức và đáng ghê tởm. Họ không có kiên nhẫn và thậm chí có rất ít khả năng lư luận. Mọi việc đều được hành động một cách bốc đồng và không có thứ ǵ nằm trong tầm kiểm soát của họ, miễn sao là mọi tư tưởng của họ không mang một điều ǵ mới lạ. Tuy nhiên về nhiều mặt, họ có thể được so sánh khá tốt với một vài giống dân đang tồn tại hiện nay trên mặt đất của chúng ta.

Giống dân thứ sáu là một nhóm người mạnh mẽ hơn nhiều, với ư chí và quyết tâm đáng kể. Họ nhanh chóng cai trị giống dân thứ năm và cầm đầu nền văn minh, đưa nó đi xa hơn nữa. Họ đă thành công chinh phục toàn bộ hành tinh và đưa nó vào dưới một nguồn máy cai trị duy nhất, mặc dù hầu hết cư dân của nó thuộc về giống dân thứ năm. Họ khôn ngoan hơn giống dân khác và có một số là thiên tài biết phát minh, nhưng xu hướng làm việc của họ vẫn là tuỳ hứng, và họ không làm được một công việc ǵ từ đầu đến cuối một cách trọn vẹn. Một số người có phát triển được khả năng tâm linh nhưng nó thường không được kiểm soát. Trên thực tế, thiếu tự chủ là một cá tính thường trực của nền văn minh Hỏa Tinh. Mọi thứ đều thất thường, mặc dù họ có khả năng trên nhiều phương diện nhất định.

Đến lượt người giống dân thứ bảy nắm quyền, không phải do vũ lực mà do trí khôn ngoan hơn và sự tinh ranh. Họ không hiếu chiến như giống dân thứ sáu và dân số họ lúc nào cũng nhỏ hơn, nhưng họ biết được nhiều việc hơn so với giống dân thứ sáu. Họ có những quan niệm gần gũi hơn với hiện đại, họ biết phân biệt giữa đúng và sai, không hung dữ và biết tuân theo luật pháp, và họ có một chính sách rơ ràng và sống theo nó.

Quyền lực của họ đến hoàn toàn từ trí tuệ, và họ biết cách kết hợp mọi thứ rất giỏi. Chính sách xã hội của họ giống như tổ chức của một loài kiến hoặc loài ong, và họ có thể được so sánh rất tốt đối với nhiều giống dân hiện nay về vài phương diện. Đây là lần đầu tiên trong một giống dân mà chúng tôi thấy khả năng biết viết là một thành tựu khá phổ biến trong dân số. Họ biết đôi chút về nghệ thuật v́ họ có những bức tượng và tranh vẽ, nhưng chúng hoàn toàn khác hẳn với nghệ thuật chúng ta trên nhiều phương diện. Họ cũng là giống dân đầu tiên chịu bỏ công ra xây đường xá cho tốt.

Tôi tin rằng tôi đã giải thích tại sao những giống dân trước đây thuộc về bầu chu kỳ thế giới hiện nay của chúng ta khác với tất cả các giống dân còn lại. Trên thực tế, chúng ta đang ôn lại vòng thứ nhất, thứ nhì và thứ ba vì lợi ích của những chân thần chậm tiến, mặc dù có bị thua xa so với phần còn lại, vẫn có thể để được giúp đỡ rượt theo kịp chúng bạn bằng một nỗ̉ lực như thế. Trong thời điểm của giống dân thứ ba, mọi thứ ở giữa vòng tuần hoàn thứ ba đều được lập lại – nhất là sự xuất hiện của con người và sự phân tách giới tính. Sau khi việc này đã được hoàn tất và một số hình hài liên tục đã được thành lập, các vị cai quản quá trình tiến hóa đă thực hiện một số nỗ lực đặc biệt để củng cố loài người và đặt họ vững chải lên con đường phát triển tinh thần cao hơn nằm trước mặt họ, trên vòng cung hướng thượng của dãy tiến hóa.

Bước đầu tiên là sự giáng phàm của bảy vị Chúa Tể Mặt Trăng ưu tú nhất để cung cấp các dẫn thể cho bảy cung chính hoặc bảy loại người. Trong quyển Giáo Lý Bí Truyền, chúng tôi được cho biết làm thế nào mỗi vị này đứng ở lĩnh vực của ḿnh và soi bóng cho những người của các giống dân thấp hơn trú ngụ. Lời tuyên bố huyền bí này chỉ có nghĩa là các vị cao cả này đă dùng ư chí để tạo ra một bản sao của thể phách của họ; thật ra, họ tạo ra thêm một thể phách nữa chung quanh họ, làm cho nó vĩnh hằng, rồi bước ra khỏi nó.

Các thực thể của giống dân thấp hơn vừa được đưa xuống cõi trần liền háo hức chiếm lấy các bản sao này, nhập vào chúng và cố gắng sử dụng chúng. Tuy nhiên, v́ họ chưa hoàn toàn thích nghi được với các dẫn thể này nên họ cảm thấy khó trụ được vững vàng và liên tục bị trượt ra ngoài. Khi việc này xảy ra th́ một thực thể khác sẽ chiếm ngay lấy thể phách đó và trườn vào nó giống như họ thử mặc lên một chiếc áo khoác, chỉ để khám phá ra rằng đến lượt họ, nó lại tuột ra khỏi và phải nhìn thấy một người khác chiếm lấy nó. Thể phách này có rất nhiều bản sao đă được thực hiện, và từ từ những người kém tiến hóa hơn cũng học được cách trụ vĩnh viễn trong chúng để quá tŕnh vật chất hóa xa hơn có thể diễn tiến, và như vậy các cơ thể đă được từ từ tạo ra để cung cấp cho sự biểu hiện của bảy cung chính và các cung phụ của chúng.

Thân xác hậu duệ của các thực thể này dĩ nhiên không bằng được như tổ tiên, nhưng một số loại h́nh thể vẫn được thiết lập, và cho dù h́nh hài chúng có suy đồi đến cỡ nào đi nữa, chúng vẫn có thể được sử dụng. Ngay vừa khi dòng cơ thể này đă được ổn định thì các tầng lớp chân thần từ dãy mặt trăng, những người đã cá nhân hóa ở một giai đoạn trước đó cho chính mục đích này, đă được đưa xuống để chiếm hữu chúng. Đây là ba tầng lớp đã cá nhân hóa ở bầu A, B và C của dãy mặt trăng, và tôi đã tường thuật là làm thế nào tầng lớp hạng nhất của họ, nhóm màu cam, đă không chịu nhận lănh chức trách của ḿnh chỉ vì các hình thể vẫn còn ở trong tình trạng quá kém cơi. Do sự phản kháng này nên các hình thể đă được định sẵn cho họ giờ phải được sử dụng bởi một tầng lớp thật sự kém hơn, và hậu quả là thay vì các h́nh thể đó được giữ ở mức tiến bộ đă được thu hoạch qua bao nhiêu nỗ lực, giờ chúng lại được cho phép rơi vào tình trạng còn tệ hơn trước đó. Những chủ nhân chưa tiến hóa của chúng thậm chí còn giao hợp với một số hình thể loài thú. Đây là cái mà Bà Blavatsky gọi là “tội lỗi của những kẻ vô tri,” và kết quả của nó là mang cho chúng ta một vài biến thể khác nhau của loài khỉ gần giống con người.

Giống dân phụ thứ năm, thứ sáu và thứ bảy của giống dân chính thứ ba có lẽ giống như cái mà chúng ta phải gọi con người nhiều hơn là tiền nhân của họ. Sự mô tả trước đó về loài người của vòng tuần hoàn thứ ba có thể phù hợp với giống dân phụ thứ năm của người Lemurian hơn. Họ thường được đề cập đến là những người đầu trứng vì sọ của họ giống như quả trứng với đầu nhỏ ở bên trên. Họ chỉ có một cái trán nhỏ và đôi mắt được sắp xếp gần trên đầu của quả trứng.

Điểm đặc biệt nhất của giống dân phụ thứ sáu là màu da của họ. Họ đă không còn mang nước da màu đen hay màu nâu-đen giống như giống dân phụ thứ năm, mà nó là màu xanh-đen biến thành màu xanh nhạt rơ rệt vào cuối thời kỳ của giống dân của họ.

Giống dân phụ thứ bảy bắt đầu với màu da xanh-xám rồi chuyển qua một số tông màu xám khác nhau cho đến một thứ màu xám-trắng. Một khái niệm gần giống với khuôn mặt của họ có thể được t́m thấy trong các bức tượng do chính họ xây lên, một số ít vẫn còn tồn tại ở trên đảo Easter (Chile). Họ có một khuôn mặt dài như mặt ngựa, sống mũi nằm ở nửa phần trên lúc đầu và đến cuối thời kỳ của giống dân đó th́ nó nằm ngay chính giữa con đường chạy từ đỉnh đầu xuống dưới cằm. Trán của họ vẫn là một khúc xương tṛn, mặc dù nó có nhô lên cao hơn một chút vào cuối thời kỳ của giống dân phụ này. Họ có cặp môi dày và thô với mũi to và dẹt, các đặc điểm này vẫn c̣n tồn tại ở một mức nào đó bớt trầm trọng hơn trong những người da đen Phi Châu, hiện giờ có lẽ là người đại diện gần nhất của họ.

Hiện nay, không có giống dân nào thuộc giống dân Lemurian nguyên thủy c̣n tồn tại, mặc dù những chú lùn ở trung tâm Phi Châu dường như là đại diện cho một mảnh bị cô lập từ lâu của giống dân phụ thứ tư, chiều cao của họ bị giảm dần qua hàng triệu năm cho đến tầm vóc hiện tại v́ phải tuân theo một quy luật kỳ lạ, nó dường như áp buộc các di tích cuối cùng của một giống dân đang suy tàn phải bị giảm chiều cao. Hầu hết các bộ lạc người da đen đều mang trong người khá nhiều ḍng máu của người Atlantis bị trộn lẫn vào; chẳng hạn, trong trường hợp của người Zulus, chúng ta có một tầm vóc nói chung là một đại diện rất gần với giống dân phụ Tlavatli của người Atlantis, mặc dù màu da và một số khuôn mặt của họ là của giống dân Lemurian. Những người thuộc giống dân phụ thứ bảy này là những kiến trúc sư tài ba theo kiểu thô kệch của người cyclops (người khổng lồ một mắt), và họ cũng có một kiến thức thô sơ về nghệ thuật.

Vào thời điểm của giống dân chính thứ ba này đă xảy ra một trong những sự kiện lịch sử quan trọng nhất liên quan đến sự tiến hoá của loài người: đó là sự giáng phàm của các vị Hoả Đức Tinh Quân từ Kim Tinh Hệ (Venus). Dăy Kim Tinh đă được nhắc đến là đă tiến hoá xa hơn rất nhiều so với dăy Địa Cầu của chúng ta, và kết quả của sự kiện đó là nhiều vị Chân Tiên của dăy này có thể di chuyển tự do trong Thái Dương Hệ của chúng ta và đi đến bất kỳ nơi đâu để đưa ra sự giúp đỡ khi cần thiết.

Một nỗ lực dứt khoát để giúp đỡ cho các thành viên lạc hậu của chúng ta tiến bộ đă được thực hiện bằng cách cho họ một cơ hội để đi qua thêm một lần nữa quá tŕnh tiến hoá giống như ṿng thứ nhất, thứ nh́ và thứ ba có thể cung cấp; khi việc này đă kết thúc, sự kích thích to tát từ sự giáng phàm của các Vị Cao Cả đă được áp dụng như là một nỗ lực cuối cùng để giúp các thực thể c̣n kém cỏi cá nhân hoá càng nhiều càng tốt trước khi sự kiện được gọi là sự “đóng cửa” xảy ra, thời điểm mà v́ lợi ích của sự tiến hoá tiếp theo, không có thực thể nào từ vương quốc loài thú sẽ được chấp nhận vào vương quốc loài người.

V́ vậy, nhóm người Cao Cả đến từ Kim Tinh lập tức nhận lănh vai tṛ cai quản quá tŕnh tiến hoá. Vị Lănh Đạo của họ được gọi trong các sách Ấn độ giáo là Sanat Kumara, và đi cùng với Ngài có ba vị phụ tá (thuộc cấp Độc Giác Phật) và gần 25 vị Chân Tiên để phụ giúp Ngài. Cũng có gần 100 người b́nh thường có liên hệ một cách nào đó với các vị Cao Cả này, có lẽ họ đă từng được cá nhân hoá bởi Họ, cũng được đưa đến từ Kim Tinh và ḥa nhập với nhân loại b́nh thường của dăy Địa Cầu.

Quyển Giáo Lư Bí Truyền có nhắc đến là chính các vị Cao Cả này đă phóng tia lửa vào những kẻ vô tri và đánh thức trí tuệ bên trong họ. Chúng ta không nên để cách diễn tả khá lạ lùng này làm cho ta lầm tưởng rằng các vị Chúa Tể này ném một phần cơ thể của họ vào cơ thể của con người. Thật ra, Họ làm việc theo cách kích thích của điện nam châm; Họ tỏa sáng lên loài người như thể mặt trời chiếu lên các bông hoa và nâng họ lên đến với Họ, do đó giúp họ phát triển tia lửa ngầm thiêng liêng đó và trở thành những cá thể riêng biệt.

Một điểm khác đáng được lưu ư là không có một vị Chúa Tể nào từ dăy Kim Tinh đầu thai vào nhân loại chúng ta. Họ không có (và quả thật không thể) lấy cơ thể con người; thay vào đó, Họ tự xây dựng cho ḿnh các dẫn thể được coi như là các mô h́nh lư tưởng nhất về h́nh dạng của con người, nhưng tuyệt đối không giống như vậy ở điểm chúng không hề bị ảnh hưởng bởi thời gian và không thể bị thay đổi hoặc hư hoại. Chính bản thân tôi đă từng thấy vài dẫn thể tuyệt vời như thế, và mặc dù chúng đă được Họ mặc lên trên trái đất này cả 16 triệu năm, chúng vẫn c̣n y nguyên như ngày đầu tiên chúng được tạo ra. Thật ra, chúng nên được coi là một loại hiện h́nh vĩnh viễn, các cơ thể được xây dựng giống như các bức tượng, nhưng sờ và thấy giống như h́nh dạng của những người b́nh thường.

Tôi biết là trong quyển Giáo Lư Bí Truyền, Bà Blavatsky có nhắc đến “những người con của trí tuệ” (sons of mind), những người đến trái đất này để giúp đỡ loài người bằng cách đầu thai vào họ để mang lại lợi ích cho họ, nhưng Bà cũng áp dụng luôn danh hiệu này cho các vị Chúa Tể Mặt Trăng cũng như các vị Hoả Đức Tinh Quân, và chỉ có các vị thứ nhất là sanh vào cơ thể của những người tầm thường và do đó đă trở thành một phần tử của một giống dân trong khoảng thời gian đó. Các vị Hoả Đức Tinh Quân đă hoàn tất công việc của Họ từ lâu và phần đông đă rời bỏ chúng ta để nhận lănh trách nhiệm ở nơi khác. Chỉ có một số nhỏ vẫn c̣n ở lại với chúng ta, Họ nắm giữ các chức vụ cao nhất trong Thiên Đoàn để làm việc v́ lợi ích của nhân loại.

Nếu không phải nhờ vào sự giúp đỡ từ bi của các vị Lănh Đạo cao cả này, thế giới sẽ là một nơi rất khác so với ngày hôm nay. Nếu không có Họ, không chỉ cả hàng triệu linh hồn (đă trở thành con người dưới lực kích thích của Họ) vẫn c̣n bị kẹt lại trong loài thú, mà cả phần c̣n lại của nhân loại cũng c̣n ở một vị trí thua xa với hiện tại. Ṿng tuần hoàn thứ tư này là một ṿng đặc biệt dành cho sự phát triển của nguyên lư dục vọng trong con người, và chỉ ở ṿng kế tiếp (ṿng thứ năm) con người mới được chỉ định sẽ cống hiến hết ḿnh cho sự phát triển của trí tuệ. Tuy nhiên, nhờ vào sự kích thích của các vị Hoả Đức Tinh Quân mà trí tuệ con người đă phát triển một cách đáng kể, và v́ vậy chúng ta đă đi trước cả một ṿng tuần hoàn so với vị trí lẽ ra chúng ta phải nên đứng nếu không nhờ vào sự giúp đỡ của Họ. Đồng thời, chúng tôi cần phải nên nói rằng tŕnh độ trí tuệ mà chúng ta hiện giờ cảm thấy rất tự hào chỉ là một phần cực nhỏ so với cái mà một người b́nh thường sẽ sở hữu vào cao đỉnh của ṿng kế tiếp, hoặc ṿng tuần hoàn thứ năm.

Trong số các kế hoạch khác để đẩy mạnh sự tiến hoá, các vị Hoả Đức Tinh Quân đă đem một vài thứ từ hành tinh của Họ để bổ sung vào các loài của chúng ta. Họ đă nhập khẩu lúa ḿ, một loại thực phẩm đặc biệt bổ ích cho loài người, cũng như đem theo cả ong và kiến vào, loài thứ nhất để điều chỉnh lại loài thảo mộc và giúp đỡ chúng trong việc thụ tinh các bông hoa và cung cấp thêm một loại thực phẩm bổ và ngon (mật ong). Chúng ta cần phải lưu ư rằng cả hai loài ong và kiến sống theo một cách hoàn toàn khác hẳn với các sinh vật thuần tuư trên trái đất, bởi v́ đối với chúng, một hồn khóm sẽ làm kích động toàn bộ cộng đồng ong hay kiến, nên toàn bộ cộng đồng sẽ hành động theo một ư chí duy nhất, và các đơn vị khác nhau của nó trên thực tế là các thành viên của một cơ thể, theo nghĩa tay và chân là các thành phần cấu trúc của một cơ thể. Quả thật, chúng ta có thể mô tả chúng không chỉ là một hồn-khóm, mà c̣n là một cơ thể-khóm.

Ḍng tiến hóa của chúng ta đă cố gắng bắt chước các loại nhập khẩu này nhưng với một kết quả tàm tạm. Trong việc bắt chước con ong, chúng ta đă sản xuất ra con ong ṿ (wasps), và trong việc bắt chước kiến chúng ta đă sản xuất ra cái thường được gọi là “kiến trắng” (con mối) và một loại ruồi nhỏ rất khó được phân biệt với chúng. Cái gần nhất với lúa ḿ mà chúng ta có thể làm ra được là lúa mạch đen (rye), nhưng khi chúng ta pha giống lúa ḿ với những loại cỏ bản địa th́ chúng ta có yến mạch (oat) và lúa mạch (barley).

Sau sự kiện này th́ đến lịch sử của giống dân Atlantis hùng mạnh mà ngay nay thậm chí đại đa số cư dân trên trái đất là thuộc về giống dân đó. Vào giữa thời kỳ của giống dân này đă xuất hiện những người hạng nhất của dăy mặt trăng, nguyên cả một chiến hạm từ chuyến này sang chuyến khác đầy ắp những người như vậy, mỗi người chiếm lấy vị trí của ḿnh ở những nơi mà họ có thể phát triển và phụng sự tốt nhất cho phần c̣n lại của nhân loại đang tiến hoá, và họ đương nhiên dẫn đầu nhân loại.

Sau thời đại của giống dân Atlantis hùng mạnh th́ đến lịch sử tuyệt vời của giống dân Aryan - một nền văn minh huy hoàng được xây dựng bởi Đức Bàn Cổ Vaivasvata vĩ đại. Mặc dù vẫn c̣n trong thời kỳ niên thiếu nhưng nó đă thống trị cả thế giới, tuy ngày tháng huy hoàng nhất của nó vẫn c̣n nằm trước mặt chúng ta. Không bao lâu nữa, dưới sự lănh đạo của một vị Bàn Cổ khác rất quen thuộc với chúng ta (Đức Morya), giống dân chính thứ sáu sẽ được ra đời. Tuy nhiên, câu chuyện về mọi điều này sẽ được t́m thấy trong tác phẩm mới của Bà Besant Con Người: Từ Đâu Đến, Làm Cách Nào và Sẽ Đi Về Đâu, một cuốn sách với đầy đủ chi tiết về kết quả của các cuộc điều tra gần đây về chủ đề này.

 

 

CÁC PHƯƠNG PHÁP

CÁ NHÂN HOÁ

Những người đã từng theo dõi các khám phá và các cuộc điều tra gần đây sẽ nhớ rằng trong một bài báo cách đây không lâu, tôi có nhắc đến sự hiện hữu của hai loại người thuộc về một trong những lớp chân thần vĩ đại, tuy ngang hàng với nhau về tŕnh độ tiến hóa nhưng lại rất khác nhau về khoảng cách giữa hai kiếp sống, một loại người có đời sống ở cơi thiên đàng dài hơn gấp hai lần loại người kia. Vì số lực lượng tinh thần được tạo ra gần bằng nhau trong cả hai trường hợp, nên nó có nghĩa là một loại người phải tiêu hao số năng lượng đó nhanh hơn loại người kia. Trong cùng một khoảng thời gian mà chúng tôi có thể đo lường được, y tận hưởng nồng độ hạnh phúc gấp đôi nên y hoạt động giống như là y đang ở một sức ép cao hơn và do đó phải dồn ép kinh nghiệm của ḿnh và nhân nó lên gần như gấp đôi vào bất cứ thời điểm nào; do đó, 700 năm của y được coi là hoàn toàn tương xứng với 1200 năm của loại người kia.

Sự khác biệt căn bản giữa hai loại người này phụ thuộc vào phương pháp mà họ đă cá nhân hóa. Chúng ta biết rằng Chân Thần tự biểu lộ là Tam Nguyên Tinh Thần ở cõi Niết Bàn, và khi một linh hồn được h́nh thành như là một biểu hiện của nó, sự biểu lộ đó được sắp xếp qua một hình thức rất quen thuộc đã được giải thích trong văn học chúng ta. Trong ba phương diện, chính tinh thần (spirit) vẫn ở lại tại cơi của nó, còn phương diện thứ nhì, trực giác (mà Bà Hội Trưởng chúng ta đã quyết định gọi nó là minh triết hiện giờ) tự đặt mình xuống một cơi thấp hơn và tự biểu hiện qua chất liệu cõi Bồ Đề, hay là cõi của lý trí thuần khiết; và phương diện thứ ba, trí khôn, tự đặt mình xuống hai cõi thấp hơn và tự biểu lộ qua vật liệu của phần cao hơn của cõi trí.

Phàm ngã cũng có ba phương diện trong sự biểu lộ của nó và là một phản ảnh trung thực của sự sắp xếp của linh hồn, nhưng cũng như tất cả các phản ảnh, nó bị đảo ngược lại. Trí khôn tự phản ảnh trong thể hạ trí ở cảnh thấp hơn của cùng một cõi trí, minh triết phản chiếu chính nó trong thể vía, và theo một cách khó hiểu hơn, đến lượt tinh thần tự phản chiếu trên cõi trần.

Khi một linh hồn được thành h́nh, rơ ràng là cả ba phương diện này của tinh thần đều phải hoạt động, nhưng sự kết nối đầu tiên có thể được thành h́nh qua bất cứ một trong ba phương diện nào. Trước đây, nó đă được giải thích rằng việc cá nhân hoá của loài thú thường diễn ra qua mối liên hệ với con người trong thời kỳ đó. Chúng ta có thể lấy các trường hợp mà đôi khi ta thấy xảy ra chung quanh chúng ta làm ví dụ. Một con thú đặc biệt được nuôi trong nhà, khi được đối xử thật tốt bởi các huynh đệ loài người của nó, sẽ được kích thích bởi sự tiếp xúc thường xuyên với họ đến mức nó sẽ tách rời khỏi hồn khóm của nó. Quá tŕnh này đă được mô tả rất đầy đủ trong quyển Người Hữu H́nh và Vô H́nh và cuốn Tín Điều Thiên Chúa Giáo, và tôi không cần phải lập lại nó ở nơi đây. Nhưng có một điểm mà không được nhắc đến trong các tác phẩm trước đó là khả năng kết nối đầu tiên có thể được thực hiện qua nhiều cách khác nhau: giữa hạ trí và thượng trí, giữa thể vía và minh triết, hoặc giữa thể xác và chính tinh thần.

Một con thú được nuôi trong nhà (khi được đối xử tốt) thường phát sinh một t́nh cảm mănh liệt với người chủ của nó và khao khát muốn t́m hiểu y để làm hài ḷng y và để dự đoán trước y sẽ làm ǵ. Đôi khi trong một vài phút, người chủ có thể truyền một tư tưởng yêu thương đến con thú hoặc thực hiện một nỗ lực rơ ràng để dạy nó một điều ǵ. Trong các trường hợp này, một tác động trực tiếp và cố ư được truyền từ thể trí hoặc thể vía của người chủ đến các dẫn thể tương tự của con thú, nhưng điều này tương đối hiếm và phần lớn công việc được thực hiện với sự vô tư từ cả hai bên, nó chỉ đơn giản là do tác động liên tiếp và không thể tránh khỏi do sự gần gũi giữa hai thực thể có liên quan với nhau. Sự rung động của thể vía và thể trí của con người mạnh mẽ và phức tạp hơn con thú rất nhiều, và do đó chúng luôn tạo ra một áp lực không ngừng lên trên con thú.

V́ vậy, chúng ta có thể thấy rằng cá tính của người chủ nhân con thú sẽ có ảnh hưởng lớn đối với vận mệnh của nó. Nếu người chủ thuộc loại người t́nh cảm, có đầy t́nh thương bao la, có khả năng là bất cứ con thú nào y nuôi cũng sẽ tiến hóa qua thể vía của nó, và sự cắt đứt mối liên hệ cuối cùng với hồn khóm sẽ do sự bộc phát một t́nh thương mănh liệt đột xuất khi đó sẽ với tới được phương diện minh triết của Chân Thần lơ lửng bên trên thuộc về nó, và do đó sẽ tạo ra một linh hồn. Mặt khác, nếu người chủ không phải là hạng người t́nh cảm mà các hoạt động chủ yếu của y thuộc về trí tuệ, cái trí non nớt của con thú sẽ được kích thích và có khả năng là nó sẽ đạt được cá nhân tính qua sự phát triển của trí khôn, điều này sẽ nâng nó lên một cấp độ quá cao không c̣n cho phép sự bao bọc tiếp tục trong hồn khóm của nó. Ở một trường hợp khác, nếu người chủ là một con người có đời sống tinh thần rất cao hoặc sở hữu một ư chí rất mạnh, trong khi con thú sẽ phát triển một t́nh thương và ḷng ngưỡng mộ đối với y, nhưng vẫn là ư chí bên trong con thú sẽ được kích thích nhiều nhất. Điều này sẽ được biểu hiện qua thể xác của nó bằng sự hoạt động mănh liệt và một quyết tâm bất khuất để đạt được những ǵ nó muốn, nhất là trong việc phụng sự chủ nhân của nó.

Thật khó bỏ đi quan niệm là khoảng cách giữa tinh thần và thể xác phải lớn hơn so với khoảng cách giữa thể hạ trí và thượng trí (hoặc trí trừu tượng), hoặc giữa thể vía và thể minh triết. Nhưng thực tế vốn không phải là như vậy, v́ quả thật vấn đề không phải là khoảng cách giữa không gian mà là việc truyền đi một rung động giao cảm từ bản sao (phản ảnh) đến nguyên bản. Khi chúng ta nghĩ về nó theo cách này, rơ ràng là mỗi một cái bóng (hay phản ảnh) phải có liên hệ trực tiếp với nguồn gốc của nó, bất kể khoảng cách giữa chúng là bao xa - nó phải gần bản gốc của nó hơn so với bất cứ vật thể nào nằm ngoài đường dây trực tiếp này, cho dù trong không gian vật thể đó có thể nằm gần hơn.

Khát vọng vươn lên của một con thú đại diện cho một áp lực hướng thượng vững vàng dọc theo mọi đường dây, và điểm mà áp lực phá vỡ các giới hạn và tạo ra sự kết nối cần thiết giữa Chân Thần và phàm ngă quyết định đặc tính cụ thể của một linh hồn vừa mới được ra đời. Đường dây kết nối trên thực tế thường diễn ra ngay lập tức nếu mối liên hệ đầu tiên được thực hiện qua t́nh thương hoặc ư chí, nhưng nó sẽ diễn ra từ từ nếu đó là trường hợp của sự phát triển về trí tuệ, và điều này cũng gây ra một sự khác biệt đáng kể trong quá tŕnh tiến hoá của thực thể đó trong tương lai.

Trong quá tŕnh của các cuộc điều tra gần đây, chúng tôi đă khám phá ra rằng, trong con số khổng lồ của các linh hồn đă cá nhân hoá cùng một lúc với nhau ở một thời điểm nhất định ở dăy mặt trăng, những người đă đạt được cá nhân tính chậm chạp do sự phát triển của trí tuệ đă đầu thai trên trái đất khoảng một triệu năm về trước, và từ lúc đó họ đă lấy trung b́nh khoảng 1200 năm giữa bất kỳ hai kiếp sống nào; trong khi đó, những người đă cá nhân hoá do sự bộc phát tức thời của t́nh thương hoặc ư chí vẫn chưa đầu thai trên trái đất cho đến khoảng 400,000 năm sau, mặc dù từ lúc đó họ đă lấy khoảng 700 năm giữa hai kiếp, nên tŕnh độ của hai loại người này hiện giờ là tương đương với nhau.

Tôi không thể nhấn mạnh đủ rằng sự khác biệt về khoảng cách giữa hai kiếp sống ít nhất không có nghĩa là những người đi xuống đầu thai trễ hơn không tạo ra đủ sức mạnh tinh thần trong đời sống trần thế của họ. Nếu như có một sự khác biệt nào đó, dường như nó thiên vị những người có khoảng cách ngắn hơn, v́ trên lư thuyết họ có ḷng sùng tín mạnh hơn nên họ có khả năng tạo ra nhiều sức mạnh hơn trong một khoảng thời gian nhất định. Có lẽ sự thật của các dữ kiện này được miêu tả tốt hơn nếu chúng ta nói rằng họ tạo ra một loại sức mạnh khác nhau; có lẽ cả hai đều cần thiết v́ cái này bổ sung cho cái kia. Sự khác biệt về khoảng thời gian giữa các kiếp sống chỉ có nghĩa là họ hưởng thụ hạnh phúc một cách mănh liệt hơn và do đó tiêu hao năng lượng nhanh chóng hơn trong một khoảng thời gian ngắn hơn. Quả thật là thời điểm họ đi xuống đầu thai trên trái đất này dường như đă được sắp xếp một cách khéo léo để sau khi họ trải qua một số kiếp đầu thai ngang nhau, họ có thể cùng đi đến một điểm để hợp tác với nhau.

Những cuộc điều tra sau này đă thuyết phục chúng tôi rằng khoảng thời gian giữa các kiếp sống có uyển chuyển hơn nhiều so với những ǵ chúng tôi đă giả định trước đây. Đúng là số năng lượng một người phải tiêu xài, trước nhất ở cơi trung giới rồi sau đó ở cơi trời chân phúc, phải bằng số năng lượng mà y đă phát triển trong đời sống ở cơi trần – dĩ nhiên cộng thêm số năng lượng cùng một loại như vậy mà y có thể tạo ra trong đời sống trung giới và ở cơi trời chân phúc. Tuy nhiên, nó cũng rơ ràng là tốc độ mà số năng lượng này bị tiêu xài không phải lúc nào cũng giống nhau. Điều cần thiết là việc đưa các nhóm người này vào đầu thai đồng thời với nhau để họ không chỉ có thể trả được các nghiệp quả có liên hệ với nhau mà c̣n có thể học làm việc chung với nhau v́ mục đích tối thượng là yếu tố chính trong việc điều khiển mức độ chi tiêu của năng lượng.

Cuộc điều tra về các kiếp sống của Alcyone sẽ cho chúng ta thấy tại sao điều này phải là như vậy, v́ mỗi người đều phải sống cuộc sống của riêng ḿnh nên chắc chắn họ phải tạo ra nhiều khả năng năng lượng tinh thần khác nhau; thế nhưng trong mẫu chuyện hấp dẫn đó, từ kiếp này qua kiếp khác, các người này đă được sắp xếp để quay trở lại đầu thai với nhau đặng họ có thể cùng trải qua những kinh nghiệm dự bị tương tự hầu mối dây t́nh cảm giữa họ được kết chặt đến nỗi họ không thể có một hiểu lầm hoặc mất tin tưởng ở nhau khi áp lực của công việc thực sự đến với họ trong tương lai.

Ngoài các phương pháp cá nhân hóa khác nhau mà tôi vừa nhắc đến ở trên, cũng có những mức độ cá nhân hoá khác nhau tương xứng với giai đoạn phát triển đang xảy ra lúc đó. Nó đã được giải thích trong văn chương Thông Thiên Học rằng khi một hồn khóm từ từ tiến hóa trong bọc (hay vương quốc) của nó, nó tách ra thành từng nhóm nhỏ và nhỏ hơn nữa. Một tỷ con ruồi hoặc con muỗi được gom vào một hồn khóm, cũng giống như một triệu con chuột cống hay con chuột nhỏ, hoặc một trăm ngàn con thỏ hoặc con chim. Nhưng khi chúng ta nói đến những con thú như con sư tử, cọp, báo, nai, chó sói hoặc lợn rừng, chỉ có vài ngàn con thuộc về một hồn khóm, trong khi đối với các con thú được nuôi trong nhà như con cừu và con trâu, con số thú vật thuộc về hồn khóm bị giảm xuống rất nhiều.

Chỉ có bảy loại thú vật mới có thể cá nhân hóa, mỗi con thú thuộc về một trong bảy ḍng tiến hóa chính hoặc bảy loại. Chúng tôi biết chắc chắn rằng con voi, con khỉ, con chó và con mèo nằm trong số đó, có thể con ngựa là con thứ năm. Đằng sau các con thú đứng đầu các loại này là một hàng dài các con thú hoang dă vẫn chưa được điều tra đầy đủ, nhưng chúng tôi biết rằng con sói, con chồn, chó rừng và những con thú tương tự như vậy sẽ đạt đến điểm cao nhất của chúng trong con chó, trong khi con sư tử, cọp, báo, báo đốm và mèo rừng sẽ quy tụ vào con mèo nuôi ở trong nhà. Khi chúng ta đi đến bảy loài thú có thể cá nhân hóa, chúng ta thường thấy rằng chỉ c̣n có vài trăm con thuộc về một hồn khóm, và khi chúng tiếp tục phát triển th́ các linh hồn tách rời nhau rất nhanh. Con chó hoang (pariah dog) ở Ấn độ hoặc ở Constantinople vốn là một con chó sói mới chỉ được thuần hóa nửa vời, và cả ngàn con như thế có thể đại diện cho một linh hồn duy nhất; nhưng trong trường hợp của một con chó hay con mèo cưng rất thông minh, chỉ có một linh hồn lơ lửng trên mười hoặc tối đa mười hai con mèo mà thôi.

Bây giờ, có một sự khác biệt rất lớn vào giai đoạn nào con thú cá nhân hóa trong đời sống của con thú cao hơn này, và điều này phụ thuộc phần lớn vào những cơ hội được mang đến cho nó. Ngay cả một con chó hoang cũng có thể cá nhân hóa, nhưng nó chỉ có thể cá nhân hóa theo dạng thấp nhất. Những con thú của dăy mặt trăng không phải giống như những con thú hiện nay nên chúng ta không thể dùng chúng để chỉ ra các điểm tương đồng, nhưng chắc chắn một con chó hoang chỉ có thể cá nhân hóa tối đa từ một mảnh hồn khóm riêng biệt được kết nối với Chân Thần lơ lửng bên trên bằng một hoặc hai đường dây làm bằng chất liệu tinh thần và do đó tương xứng với những người–thú của dăy mặt trăng, những người đă dẫn đầu để chiếm lấy các h́nh thể ở ṿng tuần hoàn thứ nhất. Mặt khác, một con chó hoặc con mèo cưng rất thông minh, được người chủ chăm sóc thật đàng hoàng và coi nó như một người bạn, chắc chắn sẽ lấy được một nhân thể ít nhất ngang hàng với những người hạng nhất của dăy mặt trăng khi nó cá nhân hoá, trong khi các con thú trung b́nh khác được nuôi trong nhà sẽ tạo ra một nhân thể h́nh rổ đan, giống như thứ được chiếm bởi những người hạng nh́ của dăy mặt trăng.

Do đó, chúng ta có thể thấy rằng số lượng bài học thật sự phải được hoàn tất để đạt đến một tŕnh độ nào đó trên thực tế luôn luôn giống nhau, mặc dù trong một vài trường hợp, số lượng đó đă được hoàn tất nhiều hơn trong một loài và ít hơn trong một loài khác. Rơ ràng trong quá tŕnh nghiên cứu của chúng tôi, những thực thể đă đạt đến đỉnh cao tột độ của một loài sẽ không đi vào những hạng thấp hơn của loài cao hơn kế tiếp. Sự sống làm sinh động một cây sồi, cây đa, hoặc một bụi hoa sẽ chuyển thẳng vào loài động vật có vú khi nó gia nhập vào loài thú, trong khi sự sống rời bỏ loài thảo mộc ở dạng thấp hơn có thể sẽ đi vào giai đoạn phát triển của loài côn trùng hay ḅ sát.

Cũng như vậy, một sinh vật đạt đă đến đỉnh cao của trí khôn và t́nh cảm trong loài thú sẽ nhảy qua giai đoạn bán khai của loài người và sẽ tự thể hiện là một cá nhân hạng nhất ngay từ khi y bắt đầu sự nghiệp loài người của ḿnh, trong khi một thực thể rời khỏi loài thú ở cấp độ thấp hơn sẽ phải bắt đầu ở tŕnh độ tương xứng thấp hơn trong hàng ngũ nhân loại. Đây là lời giải thích cho một nhận xét của một trong các Chân sư của chúng ta khi Ngài nhắc đến sự tàn bạo và mê tín dị đoan được thể hiện bởi phần đông nhân loại: “Họ đă cá nhân hóa quá sớm, họ chưa xứng đáng với h́nh thể con người.”

Ba phương pháp cá nhân hoá mà tôi đă nhắc đến thông qua sự phát triển của t́nh thương, trí khôn, và ư chí là những con đường b́nh thường mà chúng ta có thể cho rằng đă được dự định trong kế hoạch của mọi thứ. Tuy nhiên, cá nhân hóa đôi khi cũng có thể xảy ra bằng những phương pháp khác mà chúng ta có thể gọi là bất b́nh thường, v́ dường như chúng không thể nào là một phần của kế hoạch ban đầu.

Ví dụ, ở phần đầu của ṿng tuần hoàn thứ bảy ở dăy mặt trăng, có một nhóm thực thể đang ở điểm có thể cá nhân hoá và đă được thúc đẩy đến gần nó qua sự tiếp xúc với một số cư dân hoàn hảo mà chúng ta gọi là các vị Chúa Tể Mặt Trăng. Tuy nhiên trong quá tŕnh phát triển của chúng, một sự éo le đáng tiếc đă xảy ra và bọn chúng đă bắt đầu cảm thấy rất tự hào về trí khôn của ḿnh, điều này trở thành một nét đặc biệt nổi bật trong cá tánh của chúng, nên chúng cố gắng làm việc không phải để lấy ḷng chủ nhân để được thương yêu hơn mà là để khoe khoang ưu điểm của chúng với đồng loại và để kích thích sự ganh tị. Chính động cơ sau này đă thúc đẩy chúng đưa ra các nỗ lực dẫn đến sự kiện cá nhân hoá và do đó nhân thể được cấu tạo gần như không có màu nào khác hơn là màu cam. Tuy nhiên, những vị có thẩm quyền quyết định ở giai đoạn tiến hoá đó vẫn cho phép chúng cá nhân hoá bởi v́ nếu chúng được cho phép tiếp tục phát triển trong loài thú như thế, rơ ràng chúng chỉ trở nên xấu tính hơn mà thôi. V́ vậy, chúng ta có một sự kiện rất đặc biệt của một sự tách ly (mà gần đây chúng tôi từng gọi là nguyên cả một chuyến tàu) của gần hai triệu linh hồn đă được cá nhân hoá hoàn toàn do niềm kiêu hănh, những linh hồn tuy đă đủ khôn ngoan theo đường lối của họ nhưng lại sở hữu rất ít những đức hạnh nào khác.

Kết quả gặt hái của bầu thứ nhất, thứ nh́ và thứ ba trong ṿng tuần hoàn thứ bảy của dăy mặt trăng đă được dự định đóng một phần quan trọng trong sự phát triển của loài người trên trái đất. Vào một thời điểm đặc biệt trong quá tŕnh phát triển của trái đất, chúng tôi được biết là bảy vị Chúa Tể Mặt Trăng - mỗi người thuộc một Cung vĩ đại – đă đi xuống trái đất và bắt đầu bỏ xuống những thể phách để tạo ra một giống dân mới. Các thực thể chiếm lấy những dẫn thể này đă kết hôn với nhau, và khi hậu duệ của họ đă trở nên đông đủ, ba chuyến tàu đầy ắp những linh hồn được kêu xuống để chiếm giữ các dẫn thể đó và từ đó thành lập một loại người của nhân loại tương lai. “Một phần ba từ khước, hai phần ba tuân lời.” Các thành viên màu cam của chuyến tàu từ hành tinh A của dăy mặt trăng đă từ khước nhận lấy các dẫn thể thấp kém này, trong khi các linh hồn màu vàng kim từ bầu B và nhóm màu hồng từ bầu C đă chấp nhận các điều kiện, và họ đi vào trong các dẫn thể và hoàn thành sứ mệnh của họ.

Sự nghiệp tương lai của những linh hồn màu cam này cho thấy rơ ràng họ đă đến từ một đường lối (cá nhân hoá) không tốt, v́ họ không chỉ từ chối các cơ thể bán khai đă được chỉ định cho họ (nên họ để chúng bị chiếm đóng bởi các loài thú thấp kém hơn và do đó dẫn đến “tội lỗi của những kẻ vô tri”), mà trong suốt quá tŕnh lịch sử phát triển của họ, sự kiêu căng và ương ngạnh của họ đă luôn tạo ra rất nhiều phiền phức cho chính họ và những người khác bị lây nhiễm bởi sự ngu dốt của họ. Cuối cùng, luật tiến hoá cũng buộc họ chiếm lấy các cơ thể mà theo nhiều khía cạnh c̣n tệ hơn những dẫn thể ban đầu đă được cung cấp cho họ; và mặc dù bài học đó đă dạy cho họ một điều ǵ đó và họ dường như đă nhận ra rằng ḿnh đă phạm sai lầm, ngay cả khi họ hoà nhập với người b́nh thường, chúng ta vẫn thấy họ luôn đối nghịch và liên tục gây ra những rắc rối v́ thái độ kiêu căng, trịch thượng ở những thời điểm không thích hợp. Qua sự va chạm liên tục với các định luật thiên nhiên, phần lớn bọn họ ở mức độ không ít th́ nhiều cũng được đẩy vào hàng ngũ chỉnh tề với phần c̣n lại của nhân loại, nhưng thậm chí bây giờ đôi khi chúng ta vẫn có thể phân biệt được một vài người trong số họ qua sự tái xuất hiện của một vài cá tính đáng ghét khi xưa của họ, họ vẫn c̣n “náo loạn và hiếu chiến, độc lập và chia rẽ, dễ bất măn và hay háo hức thích thay đổi,” như Bà Hội Trưởng đă từng mô tả về họ.

Một số ít người thông minh nhất trong bọn họ đă để lại những dấu ấn đáng sợ trong lịch sử loài người, v́ họ trở thành những “Vị Thần Mặt Đen” trong thời đại Atlantis, những kẻ mà chúng ta đă đọc được rất nhiều về họ trong quyển Giáo Lư Bí Truyền; sau đó, những trường hợp biến dạng đặc biệt như vậy đă trở thành những kẻ chinh phục thế giới đáng sợ v́ họ không bao giờ quan tâm đến hàng ngàn sinh linh bị giết hoặc bỏ đói trong quá tŕnh thoả măn tham vọng điên cuồng của họ, hoặc (sau đó nữa) là các nhà triệu phú nước Mỹ vô đạo đức không kém, được mệnh danh rất chuẩn là các nhà “Napoleons tài chính” bởi những kẻ ăn bám theo họ.

Một phương pháp bất thường khác để cá nhân hoá là qua sự sợ hăi. Trong trường hợp của các con thú bị đối xử tàn nhẫn bởi con người, có những trường hợp mà sự khôn ranh gian xảo đă được phát triển thông qua các nỗ lực gian nan để t́m hiểu và tránh né sự ngược đăi khiến nó rời khỏi hồn khóm và tạo ra một linh hồn chỉ sở hữu được một loại trí khôn rất thấp - một linh hồn mà khi y tự đặt ḿnh xuống các cơi thấp hơn, v́ bản chất của các hạt nguyên tử trường tồn của y, chắc chắn phải tạo ra chung quanh y một thể trí và thể vía chỉ có khả năng biểu lộ những tham vọng không tốt lắm.

Một biến dạng khác của trường hợp này là một loại linh hồn với thái độ căm thù khốc liệt thay v́ sự sợ hăi do bị ngược đăi. Lực này cũng đủ mạnh để phát triển cái trí khôn cần thiết để làm tổn thương kẻ áp bức, và theo đường lối này, một con thú cũng có thể cá nhân hoá. Chúng ta có thể dễ tưởng tượng ra được loại người được cấu tạo theo đường lối như vậy, và điều này giải thích được sự hiện hữu của những kẻ khát máu dă man như các nhà thẩm phán thời Trung Cổ Âu Châu mà đôi khi chúng ta được nghe qua, và những kẻ thích hành hạ trẻ em trong thời đại ngày nay. Quả thật, họ đă gia nhập vào loài người “quá sớm” và đang biểu lộ dưới lớp áo con người một số thú tính tồi tệ nhất được phóng đại từ những con thú khó ưa nhất.

Lại nữa, một biến dạng khác là một thực thể đă cá nhân hóa bằng sự khát vọng mănh liệt về quyền lực đối với kẻ khác, như đôi khi được biểu hiện bởi một con ḅ đực chúa của một đàn. Một linh hồn phát triển theo đường lối này thường biểu lộ một sự tàn ác khủng khiếp và tỏ ra rất thích thú với bạo lực, có lẽ v́ tra tấn người khác là một biểu hiện của quyền lực của y đối với họ.

Mặt khác, những người được cá nhân hoá ở hạng thấp hơn theo một trong những con đường b́nh thường (như t́nh thương) cung cấp cho chúng ta một loại người tuy bán khai nhưng vui vẻ và dễ tính, những người man di nhưng trên thực tế vốn không phải là man rợ mà là tử tế, giống như trong nhiều bộ lạc được t́m thấy ở một vài hải đảo ở Nam Thái B́nh Dương.

Khi chúng ta nh́n lại các giai đoạn ban đầu của sự tiến hoá của chúng ta trên dăy mặt trăng, nó thường có vẻ như là phương pháp cá nhân hoá của một linh hồn chỉ dựa trên cơ may – thậm chí dựa trên “một sự ngẫu nhiên của môi trường.” Tuy nhiên, tôi không tin rằng điều này là như vậy; thậm chí đối với loài thú, môi trường cũng không phải là ngẫu nhiên, và không có một nơi nào là t́nh cờ trong một vũ trụ hoàn toàn có trật tự. Tôi sẽ không tỏ ra ngạc nhiên nếu các cuộc điều tra sâu hơn nữa sẽ cho chúng ta thấy rằng ngay cả phương pháp cá nhân hoá cũng đă được định sẵn trước đó theo một cách nào đó, hoặc do chính Chân Thần với quan niệm để chuẩn bị cho một phần nào đó của công việc vĩ đại mà y sẽ đảm nhận trong tương lai. Thời điểm sẽ đến khi chúng ta sẽ là một phần của một “Thiên Nhân Vĩ Đại” - ít nhất nó không phải là một huyền thoại hay một biểu tượng thơ mộng, mà là một sự thật hẳn ḥi và linh động như chúng ta đă thấy. Thiên thể đó có nhiều bộ phận, mỗi một bộ phận có một chức năng riêng để hoàn tất, và các tế bào sống tạo thành một phần của chúng cũng cần nhiều kinh nghiệm rộng răi khác nhau để chuẩn bị cho chúng. Có thể là từ lúc khởi đầu của cơ tiến hoá, mỗi bộ phận đă được chọn ra, mỗi Chân Thần đă có một ḍng tiến hóa riêng đă được vạch sẵn, và quyền tự do hoạt động chỉ liên quan đến tốc độ mà y sẽ đi trên con đường đó. Dù sao đi nữa, trách nhiệm của chúng ta đă rơ – hăy tiến lên phía trước càng nhanh càng tốt, luôn để tâm quan sát để nhận rơ được mục đích của Thượng Đế, sống chỉ để hoàn thành nó, và luôn cố gắng đẩy mạnh kế hoạch vĩ đại của Thượng Đế bằng cách giúp đỡ các đồng loại của chúng ta.

BẢY CUNG

Bảy loại lớn hoặc bảy cung không tương xứng với các cơi v́ mỗi cung đều hiện diện ở các cơi. Ta có thể h́nh dung các cơi là bề ngang như chúng thường được đại diện trong các biểu đồ của Thông Thiên Học; sau đó, nếu chúng ta vẽ tiếp bảy cột ở góc thẳng với bảy đường ngang của các cơi, các cột đó sẽ biểu tượng cho các cung. Việc này sẽ cắt biểu đồ của chúng ta thành 49 ô vuông, và trên thực tế mỗi ô bên trong 49 ô cũng có 49 ô vuông nhỏ hơn theo một cách tương tự, bởi v́ mỗi cơi có bảy cảnh, và mỗi cung có bảy cung phụ được h́nh thành bởi ảnh hưởng lần lượt của mỗi một cung khác lên trên nó. Một biểu đồ giải thích rơ ràng điều này được t́m thấy trong quyển Giáo Lư Bí Truyền, Vol. 3, p. 483.

Có bảy loại người vĩ đại đi ra từ bảy vị Hành Tinh Thượng Đế. Mỗi người chúng ta thuộc về một trong bảy loại người hay cung này, nhưng mỗi người chúng ta cũng có một cung phụ đi từ một trong bảy cung đó.

Nếu một người thuộc loại màu xanh là cung sùng tín và có cung phụ là cung minh triết, y sẽ biết khôn ngoan trong sự sùng tín của y, nhưng nếu cung phụ của y cũng thuộc về cung sùng tín, y có thể sùng tín một cách mù quáng mà không biết phân biệt và do đó không thể nh́n thấy được bất cứ khuyết điểm nào trong đối tượng sùng tín của y.

Như đă được nói, mỗi người chúng ta đi ra từ một trong bảy vị Hành Tinh Thượng Đế, nhưng nó không có nghĩa là ta sẽ quay về thông qua vị Thượng Đế đó. Mỗi một giống dân chính vĩ đại sẽ sản xuất (như bông hoa và kết quả của nó) cái được gọi trong thánh kinh là một Thiên Nhân Tuyệt Vời (Heavenly Man), một thực thể siêu phàm trên thực tế chứa đựng bên trong bản thân Y tất cả những thành viên của giống dân chính đă tự làm cho ḿnh xứng đáng với một tập đoàn như vậy – gôm họ lại giống như thể xác của chúng ta là tập hợp của hàng triệu tế bào. Đúng vậy, chúng ta đều đă từng đầu thai vào các giống dân chính khác nhau, nhưng chúng ta thuộc về một giống dân chính vĩ đại mà thông qua nó cuối cùng chúng ta sẽ đạt được quả vị Chân Tiên, và chúng ta sẽ là một phần của Thiên Nhân Tuyệt Vời, người đại diện cho giống dân vĩ đại đó.

Mỗi giống dân chính đều có một Đức Bàn Cổ và một vị Bồ Tát, và các vị này đại diện theo thứ tự cho bộ năo và trái tim của Thiên Nhân Tuyệt Vời của một giống dân chính. Những người như chúng tôi làm việc trong Hội Thông Thiên Học hầu hết thuộc về một trong hai ḍng (cung), và v́ vậy chúng tôi sẽ thấy ḿnh tụ tập chung quanh một trung tâm lực này hay kia trong viễn ảnh huy hoàng đó. Tuy nhiên, cũng như con người ở cơi trần, Thiên Nhân Tuyệt Vời cũng có bảy trung tâm lực và mỗi trung tâm lực được đại diện bởi một vị quan chức trong Thiên Đoàn Huyền Bí. Một số người sẽ bị thu hút đến một trong các trung tâm lực này hay trung tâm lực kia, nên tất cả mọi cung và mọi cá tính khác nhau đều có cơ hội để phát triển hoàn toàn.

Những Thiên Nhân Tuyệt Vời được h́nh thành như thế sẽ là các cư dân thật sự của một thái dương hệ, sản phẩm từ tư tưởng của các vị Hành Tinh Thượng Đế, và số mệnh của họ là sẽ trở thành các vị Hành Tinh Thượng Đế trong tương lai, nên chúng ta sẽ là những thành phần sinh động có ư thức trong cơ thể của họ, mặc dù đồng thời mỗi người chúng ta vẫn giữ được quyền tự do lựa chọn và hoạt động linh hoạt nhất có thể. Dĩ nhiên, điều này hiện giờ rất khó hiểu đối với khả năng tư duy của chúng ta, nhưng nó vẫn là chân lư. Quả thật là tốt nếu chúng ta có thể đạt đến tŕnh độ này và nhận lănh phần trách nhiệm của chúng ta cùng với các vị Chân Sư, những người lănh đạo Hội của chúng ta. Nhưng nếu điều đó hiện giờ là quá sức đối với chúng ta, chúng ta sẽ có những cơ hội khác trong tương lai, những dịp khác và nhiều dịp khác nữa, trải dài trong viễn ảnh vĩnh cửu đó. Tuy nhiên, những ai là học sinh chân thành của Hội chúng ta hiện đang có một cơ hội tuyệt vời mà họ nên tiếp nhận toàn vẹn lợi thế của nó, v́ nếu không, không biết chúng ta phải trải qua bao nhiêu kiếp cực khổ để có lại một cơ hội tuyệt vời như vậy nữa. Bậc Thầy của loài Thiên Thần và loài người sẽ nhanh chóng xuất hiện trên trái đất này một lần nữa; hạnh phúc biết bao nếu chúng ta được cho phép giúp đỡ chuẩn bị (mặc dù nó có thể chỉ là một phần rất nhỏ) cho sự Xuất Hiện của Ngài; hạnh phúc hơn nữa cho những ai trong chúng ta được giáp mặt với Ngài, được vinh dự làm việc dưới Ngài để phụng sự cho nhân loại khi ngày đó Đức Chúa sẽ giáng lâm!

 

NHỮNG GHI CHÚ RẢI RÁC

VỀ CÁC GIỐNG DÂN

Giống dân Ái Nhĩ Lan

Người dân Ái Nhĩ Lan không phải thuộc giống dân Atlantis mà thuộc về giống dân phụ thứ tư của giống dân chính thứ năm. Đúng là Ái Nhĩ Lan đă từng là một phần của Châu Atlantis, và những cư dân sớm nhất là người Rmoahal - giống dân phụ thứ nhất của giống dân chính thứ tư, nhưng chúng ta đă không c̣n một dấu vết ǵ của giống dân bán khai này nữa, những người nhỏ và đen giống như người Laplanders hiện nay. Chúng ta cũng không c̣n di tích của một chứng nhân nào nữa từ sự xâm lược của đoàn người Phi Châu lần đầu tiên dưới sự chỉ huy của vị hoàng hậu nước Ethiopia, nhưng vẫn c̣n một vài di tích của làn sóng tiếp theo – một giống dân được gọi là người Furbolgs, những người đàn ông to lớn, râu ria dường như đă di tản xuống từ Iceland, có lẽ cùng một nguồn gốc với người Ainus của Nhật Bản. Đa số người Ái Nhĩ Lan (không tính người di cư từ Scotland của Ulster) được h́nh thành từ hậu duệ của hai giống dân, người Tuatha-de-Danaan và người Milesian. Người Tuatha-de-Danaan từng là người da trắng, trên thực tế giống như người Hy Lạp trước đây, và họ đến Ái Nhĩ Lan qua một con đường quanh co từ phía bắc, đi ṿng lên qua nước Nga rồi dần dần qua Thuỵ Điển (Sweden) và Na Uy (Norway), theo cách di tản chậm chạp của các thời đại trước đây. Họ là một giống dân đẹp trai với khuôn mặt h́nh bầu dục, sáng sủa, hầu hết có tóc đen với đôi mắt màu xanh thẫm hoặc gần giống như màu tím. Đôi khi, họ có màu tóc nhạt hơn và đôi mắt màu xám, nhưng kiểu trên là thông thường hơn, và người ta thường có thể nh́n thấy được bản sao chính gốc của nó ở những người nông dân Ái Nhĩ Lan ngày nay.

Người Tuatha-de-Danaan không chỉ đẹp hơn mà họ c̣n thông minh và tiến hóa nhiều hơn về mặt tinh thần so với giống dân ở Ái Nhĩ Lan, v́ vậy họ được tôn sùng bởi giống dân sau là có nguồn gốc thần thánh và cho đến bây giờ, truyền thuyết vẫn ca ngợi họ như là một giống dân thần thánh cai trị Ái Nhĩ Lan trong thời đại hoàng kim của nó, tuy điều này không có nghĩa là nó thật sự huy hoàng như các lịch sử gia từng giả sử. Ái Nhĩ Lan từng là cái nôi của một nền văn minh cao điểm và trung tâm của triết học và trí thức, trong khi thời đó hải đảo nước Anh lân cận chỉ có đầy rừng rậm và bị đóng chiếm bởi những kẻ man rợ trần truồng, tự sơn thân ḿnh thành màu xanh.

Người Tuatha-de-Danaan đă cai trị ở Ái Nhĩ Lan qua nhiều thời đại với quyền lực và vinh quang tột đỉnh, nhưng rồi nền văn minh của họ cũng suy tàn như các nền văn minh khác, đến cuối cùng họ bị xâm lược và chinh phục bởi người Milesians đến từ Tây Ban Nha, một giống dân thấp kém hơn họ rất nhiều về mặt văn hóa, tinh thần và tŕnh độ tiến hóa nói chung, nhưng họ có một thể lực sung măn của người trẻ tuổi và rất nhiều kiến thức về ma thuật. Họ là những người đầu nhọn, khuôn mặt thô kệch và xấu xí với tóc màu đỏ nhạt hoặc đỏ rực, một kiểu người đôi khi vẫn c̣n được nh́n thấy trong tầng lớp nông dân của miền nam nước này, với h́nh dáng gần giống như bản gốc nguyên thuỷ của họ. Mặc dù họ thật sự thua xa người Tuatha-de-Danaan, người Milesians vẫn là một biến thể khác của cùng một giống dân phụ thứ tư của người Aryans, và v́ hai loại người này là phần tử chính của nó nên chúng ta phải sắp người Ái Nhĩ Lan hiện tại vào trong giống dân phụ đó. Người Ái Nhĩ Lan vốn là người Celts, có họ hàng với người Highlander của Scotland, người Welsh của xứ Wales, Cornish hoặc Breton.

Đáng tiếc là nước Ái Nhĩ Lan hiện đang rơi vào một hoàn cảnh nghèo đói và thiếu thốn đầy rẫy ở bản địa Erin của nó – một t́nh huống mà người Ái Nhĩ Lan thường quy lỗi cho kẻ chinh phục người Anh v́ sự đàn áp của họ. Sự “đàn áp” này, cho dù nó là một sự thật và không phải là vu khống, đến từ sự khác biệt căn bản giữa hai giống dân khiến nó đă gây ra một sự thiếu thông cảm trầm trọng giữa đôi bên. Một người cứng rắn rất thực tế như người Anh (Anglo-Saxon) không thể nào hiểu nổi quan niệm của một người Ái Nhĩ Lan giàu sức tưởng tượng và thơ mộng, động cơ của giống dân sau luôn là một cuốn sách bị niêm phong lại đối với giống dân trước. Cuộc sống của một nông dân b́nh thường người Anh gần như hoàn toàn tập trung vào cơi trần, và suy nghĩ của y tự nhiên chạy dọc theo các đường lối liên hệ với các sở thích và kinh nghiệm hàng ngày của y. Mặc khác, người nông dân Ái Nhĩ Lan của miền nam và miền tây sống phần lớn trong cơi cảm dục và ít khi quan tâm đến hoàn cảnh vật chất hàng ngày, miễn sao y có bầu không khí quen thuộc của cơi cảm dục xung quanh y. Tư tưởng của y thường rất xa vời với các hoạt động máy móc hàng ngày và chỉ bận rộn với các mẩu chuyện huyền thoại thời xưa, hoặc với các câu chuyện về thánh nhân, thiên thần và các nàng tiên.

Tôi nhớ rơ sự ngạc nhiên tột độ của một chủ đất người Anh v́ bị một cú sốc khi thấy được hoàn cảnh của một số ca-bin trên đất đai của ông, nên ông đă cho xây cất những căn nhà nhỏ sạch sẽ bằng gạch vuông với tất cả tiện nghi mới nhất gần đây cho các người công nhân của ông. Ông phải rất khó khăn mới thuyết phục được một vài người nông dân đến thử chỗ ở mới mà họ đă nh́n với một thái độ không ưa, nhưng sau một hoặc hai ngày, tất cả bọn họ đều quay trở về các ca-bin cũ với sàn đất đầy bùn và nóc nhà dột, tuyên bố rằng không có căn nhà nào có thể sánh được với căn nhà cũ của họ với tất cả những bất tiện của nó. Sự thật là họ vốn không quan tâm nhiều đến cơi trần nên họ chẳng cảm nhận được các sự bất tiện này, và chúng không thể nào so sánh bằng với cảm giác ấm cúng gia đ́nh từ các bức xạ trung giới (t́nh cảm) phát ra từ các bức tường cũ họ đă quen thuộc từ thời thơ ấu. Nhưng người Anh không biết ǵ về các rung động của cơi trung giới, và chỉ có thể tỏ ra ngạc nhiên đối với sự ngu ngốc và cố chấp của những người thật sự thích một cái ổ cũ khốn khổ và chắc chắn dơ bẩn này, thay v́ một căn nhà mới và sạch sẽ hơn.

T́nh trạng say rượu đáng buồn phổ biến trong tầng lớp nông dân cũng có liên hệ đến một nguyên do tương tự, không phải là v́ họ t́m kiếm cảm giác say rượu ở cơi trần mà chính là cảm xúc trung giới có thể đạt được đến một mức độ nào đó bằng cách uống rượu. Một người nông dân Ái Nhĩ Lan trung b́nh có lẽ uống rượu nhiều hơn tầng lớp người Anh tương xứng với họ, nhưng nói chung tư tưởng của họ thanh khiết và cao cả hơn nhiều. Tất cả những người phụ nữ đều đáng được tôn kính đối với họ chỉ v́ họ đồng phái với Đức Mẹ Đồng Trinh mà họ hằng cầu nguyện, và các thống kê cho thấy sự bạo động đối với phái yếu là ít hơn rất nhiều ở Erin so với Albion. Người Anh chỉ cố gắng làm việc sao cho chính xác; người Ái Nhĩ Lan ít quan tâm đến mức độ chính xác, nhưng thích nói sao cho nhă nhặn hoặc những ǵ y cho là tử tế. Nói chung, bọn họ đại diện cho hai giống dân phụ, sự phát triển của họ chạy theo hai đường lối rất khác nhau, và chỉ có những người thông minh và phóng khoáng nhất trong hai nhóm họ mới có thể thông cảm và bao dung cho sự kỳ quặc của người nhóm kia.

Có lẽ có nhiều nguyên nhân phối hợp để dẫn đến t́nh trạng nghèo nàn và thiếu phồn thịnh của người Ái Nhĩ Lan. Để tránh nêu ra bất cứ câu hỏi nào có thể dẫn đến tranh căi v́ các quan niệm bất đồng giữa các phe đảng, nhà huyền bí học ít nhất có thể xét lại một lư do khá thú vị mà chưa bao giờ từng bị nghi ngờ bởi những người thảo luận về chủ đề này ở một thế kỷ thứ hai mươi quá thực tế, đó là lời nguyền rủa được tuyên bố với giống dân này (hay có lẽ chúng ta nên nói rằng họ đă bị ém bùa), vào khoảng hai ngàn năm trước đây ở thời kỳ xâm lược của người Milesian. Môn sinh học về lịch sử trước đây của nước Ái Nhĩ Lan hẳn sẽ nhớ rằng lư do bọn người xâm lấn Milesian có thể chinh phục được một giống dân vốn tiến bộ hơn họ rất nhiều là bởi v́ họ đă làm bùa phép để tạo ra một ảo ảnh mê hồn rất lớn trên giống dân đó. Huyền thoại này đă được dựa trên một sự kiện có thật. Những tu sĩ của giáo pháp Milesian rất quen thuộc với một số bùa phép, và khi đất nước này bị chinh phục, họ đă chiếm đóng nó bằng cách đặt ra những trung tâm từ lực rất mạnh. Họ thành lập mỗi một trung tâm từ lực như vậy cách nhau một vài dặm cho đến khi họ có nguyên cả một mạng lưới của chúng bao trùm hết miền nam và miền tây của đất nước này, và thậm chí hiện giờ sau hai ngàn năm, một từ trường mạnh mẽ vẫn được tỏa ra từ chúng.

Nhiều đám đông tinh linh thiên nhiên thuộc một loại đặc biệt vẫn c̣n bị thu hút vào các trung tâm này, chúng đùa giỡn chung quanh chúng, thấm nhuần từ trường của chúng và vô t́nh trở thành trợ thủ của chúng, đem ảnh hưởng của chúng lan tràn khắp nước khi họ đi đến bất cứ nơi nào.

Bùa ngải mà những người tu sĩ Milesian bỏ lên các người dân này có hai phần: lời nguyền về sự bất ḥa và lười biếng khiến họ không bao giờ có thể hợp tác với nhau một cách chặt chẽ, lúc nào cũng phải luôn tranh căi với nhau khiến họ phải chịu khuất phục dưới ách cai trị của bất cứ người nào biết làm bùa phép hoặc thừa hưởng khả năng này. Nếu bất cứ lănh tụ người Anh nào thạo biết bùa phép để hiểu được và sử dụng gia sản này từ các tu sĩ Milesian, lịch sử của nước Ái Nhĩ Lan có thể đă khác hẳn đi rất nhiều. Nhưng v́ người Anglo-Saxon thường không hiểu ǵ và hoàn toàn không chịu tin vào khía cạnh này của thiên nhiên, một điều lạ lùng đă xảy ra. Nhà Thờ Công Giáo đă thừa hưởng gia tài này một cách ư thức hoặc vô ư thức và đă gặt hái được nhiều lợi ích từ quyền lực của bùa ngải cổ xưa đó. Sự cai trị tuyệt đối của Nhà Thờ Công Giáo đă được thiết lập trên tất cả các khu vực mà xưa kia các tu sĩ của một tín ngưỡng cổ xưa hơn đă thành lập ra các trung tâm từ lực của họ.

 

Giống Dân Tây Ban Nha

Toàn bộ câu hỏi về cộng nghiệp của một giống dân là một nan đề mà tôi nghĩ rằng chúng tôi không có đủ dữ kiện trong tay để có thể nói về chủ đề này một cách tường tận. Có một điều chắc chắn là bất cứ khi nào chúng ta thấy có những hoàn cảnh rơ ràng bất b́nh thường chung quanh một giống dân, chúng ta có thể kết luận rằng Đức Bàn Cổ phụ trách phần cơ tiến hóa đó đang nắm trong tay một số lớn các linh hồn cần phải có những điều kiện đặc biệt như thế để tiến bộ. Luật nhân quả đương nhiên phải cai quản nghiệp lực của một quốc gia cũng như một cá nhân, mặc dù hoạt động của nó có bị rắc rối bởi thực tế là khi nghiệp quả rớt xuống, những linh hồn h́nh thành một giống dân thường không phải là những linh hồn đă từng ở đó khi nguyên nhân của nó được thành lập.

Ví dụ, có thể không phải phi lư khi người ta cho rằng Tây Ban Nha đă mất đi Nam Mỹ và Mễ Tây Cơ một cách nhục nhă v́ nghiệp quả liên quan đến sự tàn bạo khủng khiếp và hám lợi đă được thể hiện trong quá tŕnh chinh phục các nước đó của họ. Tuy nhiên, chúng ta có thể suy được rằng những người Tây Ban Nha chịu tổn thất trong thời gian các quốc gia này được giải phóng không nhất thiết trong mọi trường hợp đều là sự tái sinh của những người đă từng gây ra các đau khổ tang thương dưới quyền của Cortes và Pizarro. Mặt khác, có lẽ là một số trong bọn họ đă là những người đó, bởi v́ chúng ta biết rằng những người hạng thấp hơn thường hay quay lại nhanh hơn so với những người hạng nhất, và họ thường phải đầu thai một vài lần vào cùng một nhánh dân cho đến khi họ đă học hết các bài học của nó.

Giống Dân Do Thái

Hoàn cảnh kỳ lạ của người Do Thái xảy ra chính v́ ở giai đoạn đặc biệt này, Đức Bàn Cổ cần họ để đào tạo một số linh hồn đặc biệt dưới sự chăm sóc của Ngài. Chúng ta chỉ có thể đoán được cộng nghiệp của một giống dân đă gây ra nhiều nghịch cảnh như vậy. Có lẽ một lời giải thích được t́m thấy ở thực tế là giống dân Do Thái xuất phát từ người Semites Atlantis - họ đă được Đức Bàn Cổ của giống dân chính thứ năm dẫn đi rời xa đồng loại đến Ả-rập khi Ngài thực hiện sự phân tách đầu tiên. Nỗ lực đầu tiên đó đă không hoàn toàn thành công và một nỗ lực phân tách thứ nh́ đă xảy ra ở khu vực Gobi, từ đó cho đến thời điểm thích hợp, giống dân phụ thứ nhất của một giống dân mới đă được h́nh thành. Khi cần có giống dân phụ thứ hai, Đức Bàn Cổ gởi các sứ giả đến hậu duệ của những người đă bị bỏ lại ở Ả-rập với hy vọng là có thể ḥa nhập ḍng máu của họ với giống dân mới. Tuy nhiên, họ đă mang một ấn tượng quá sâu sắc với ư tưởng (do chính Ngài đă gieo mầm trong họ) rằng họ là một giống dân đă được Thượng Đế chọn lọc để tách rời khỏi nhân loại c̣n lại và bị cấm không được kết hôn với các giống dân khác, nên nhân danh giáo điều của Ngài mà họ từ chối lời mời của Ngài, và Ngài phải đi t́m một nơi khác để thực hiện ư muốn của ḿnh.

Giống dân phụ đặc biệt mà từ đó hậu duệ của họ thành lập ra nước Do Thái sau này đă rời khỏi Ả-rập đến bờ biển Somali để tránh bị chinh phục bởi những người đă tuân theo lời dạy dỗ mới của Đức Bàn Cổ. Sau đó, họ thậm chí c̣n tách rời khỏi đoàn người tuân lời đó rồi đi dọc theo vịnh Aden và Hồng Hải cho đến khi họ đi vào khu vực của nước Ai Cập. Vị vua Pha-rô thời đó tiếp đón họ rất nồng hậu và ban cho họ một mảnh đất để cư ngụ, và họ đă định cư ở đó trong vài thế kỷ, nhưng vị Pha-rô sau này đă t́m cách thu một số thuế má mà họ phản đối và đồng thời cũng buộc họ phải làm việc cho y miễn phí như những con dân khác của y. Để phản đối các yêu sách này, họ đă tiếp tục cuộc hành tŕnh của ḿnh bằng cách vượt qua băi sa mạc Sinaitic và định cư ở miền nam Syria, rồi sau nhiều cuộc giao tranh, họ đă đuổi đi các bộ lạc trộm cắp khác cùng huyết thống với họ.

Nghiệp quả của sự từ chối đó đă khiến họ trở thành một giống dân bị cô lập, những linh hồn phần lớn chỉ đầu thai hết lần này đến lần khác vào ḍng giống đó thay v́ chuyển từ giống dân này đến giống dân khác theo đường lối thông thường. Liệu một vài nhận thức mù quáng về sự khác biệt này có thể giúp giải thích về sự bạc đăi họ đă nhận được dưới tay của những giống dân khác hay không th́ tôi không thể nói, nhưng cũng có thể một phần nào đó đă xuất phát từ sự kiện truyền thống chọn lọc lúc ban đầu của Đức Bàn Cổ khiến họ luôn có một cảm giác hơi giống người Bà-la-môn, tự cho rằng ḿnh cao quư hơn tất cả phần c̣n lại của thế giới, nhưng phần c̣n lại của thế giới không phải lúc nào cũng chấp nhận thái độ đó của họ từ hậu quả của niềm tin đó.

Thoạt đầu, họ là một bộ lạc du mục như bộ lạc Ả-rập Bedouin, sinh sống phần lớn do cướp giật. Vị thần linh (tinh linh) của họ thật ra chỉ là một vị thần linh của một bộ lạc độc lập đă từng chiến đấu với những vị thần linh của các quốc gia khác và luôn tự ca tụng ḿnh là giỏi hơn họ, mặc dù chúng ta phải nhớ rằng có một trường hợp mà y không thể chiến thắng được những giống dân khác “bởi v́ họ có những cỗ xe sắt” (Quan Ṭa, i.19). Cũng như các vị thần linh của các bộ lạc nhỏ khác, y luôn đ̣i hỏi những buổi tế lễ bằng máu, và để có thể nhận được nhiều tế lễ như vậy, y luôn ích kỷ giữ chặt các tín đồ của ḿnh v́ sợ rằng họ sẽ bỏ rơi y và dâng tế lễ cho các vị thần linh khác. Sự đ̣i đ̣i tế lễ bằng máu là một điều kiện bất biến cho địa vị của một vị thần linh, nhưng không có thực thể nào xứng đáng được tôn thờ lại đưa ra một đ̣i hỏi bất nhân như vậy. Người ta sẽ thấy rằng y thường gợi ư về những kế hoạch độc ác và bất nghĩa, vốn là một điều rất thông thường cho một vị thần linh của một bộ lạc, nhưng đương nhiên điều này không thể xảy ra với bất cứ một thực thể nào cao hơn.

Một số người trong đám dân huyên náo này đă bị đưa đến Babylon để làm nô lệ, và đây là điều tốt nhất có thể xảy ra đối với họ. Đây là lần đầu tiên họ được tiếp xúc với một giống dân rất văn minh và biết được về một vị Thượng Đế tối cao mà tất cả đều là một phần của Ngài. Sau đó, họ cố gắng làm cho vị thần linh của họ đồng hóa với Thực Thể Tối Cao này theo đường lối đặc thù của họ và do đó tạo ra nhiều sự hiểu lầm. Khi họ trở về từ gông cùm nô lệ, họ soạn lại các bản thảo thánh kinh từ trí nhớ của các vị bô lăo và sau đó pha trộn vào đó một số ư tưởng cao siêu về một Đấng Thượng Đế tối cao.

Người Sáng Lập ra Thiên Chúa Giáo đă lấy cơ thể của người Do Thái. Tất cả những vị thầy giảng đạo trước đó của tôn giáo này cũng làm như vậy, v́ vậy thật không may là họ lại đưa vào trong giáo lư Thiên Chúa Giáo một quan niệm hỗn độn về một vị Thượng Đế có đầy dẫy những cá tính mâu thuẫn, vừa đố kỵ, tàn ác và thù hằn, vừa toàn giác, toàn thiện và từ bi. Thậm chí bây giờ ngay trong những buổi nghi lễ cao nhất, Nhà thờ Công Giáo vẫn c̣n đọc những điều răn đe cũ nực cười của người Do Thái và kết hợp chúng với lời tuyên bố ghen tị của một vị thần linh, trong khi ở trong một phần khác của buổi nghi lễ, nhà thờ lại ca ngợi Ngài là “vị Thần của các vị Thần, Ánh Sáng của các Ánh Sáng, Thượng Đế tối cao của các Đấng Thần Thánh tối cao.” Nếu người đạo Chúa có thể bỏ đi những quan niệm cổ xưa man di của người Do Thái và dùng các bài giảng của Vị Sáng Lập ra tôn giáo của họ về Thượng Đế, lúc nào cũng được mô tả là Đức Chúa Cha trên Trời, th́ Nhà thờ Công Giáo đă có thể tránh khỏi rất nhiều phiền phức.

 

Giống Dân Atlantis

Giống dân Atlantis nói chung không biết suy nghĩ một cách trừu tượng và không thể suy diễn rộng ra thêm. Ví dụ, họ không có bảng cửu chương, toán số học đối với họ là một hệ thống phép thuật và một đứa trẻ phải học các quy tắc phức tạp mà không hề hiểu được lư do của chúng. Ví dụ, đứa trẻ được dạy là nếu 8 nằm dưới 8 theo một quy tắc phép thuật mà bây giờ chúng ta gọi là bài toán cộng, h́nh số 6 phải được ghi lại là kết quả của nó, và số bên trái cạnh nó phải được tăng lên thành 1 trong kết quả đó. Tuy nhiên, nếu phép thuật đặc biệt đó lại là bài toán trừ, một dấu hiệu mật mă là kết quả; nếu nó là bài toán chia, h́nh số 1 xuất hiện; và nếu nó là bài toán nhân, h́nh số 4 là kết quả, và h́nh ngay bên trái phải được sửa thành 6. Tuy nhiên, y không bao giờ biết là 8 cộng 8 là 16, hoặc là 8 nhân 8 bằng 64! Một bộ quy tắc phức tạp như thế phải được học thuộc ḷng cho tất cả các vị trí có thể xảy ra của tất cả các con số cho đến số 10. Bốn bộ hoặc bốn loại phép thuật toán học phải được học giống như thể chúng là bốn cách chia động từ. Tuy nhiên, hầu hết tất cả những phép tính này đều được làm bằng máy móc – một loại máy như một bàn tính hoặc một cấu trúc hiện đang được sử dụng bởi người Tàu và người Nhật Bổn, thậm chí có thể được dùng để thực hiện những bài toán rất phức tạp hiện giờ, chẳng hạn như lấy lũy thừa của bất cứ con số nào.

Người Atlantis rất giỏi về việc thu thập các dữ kiện và có một trí nhớ phi thường. Họ cũng phát minh ra nhiều loại máy móc khá phức tạp, mặc dù đối với chúng ta ngày nay, hầu hết những thứ này có vẻ làm việc rất vụng về. Chúng ta cũng t́m thấy vết tích thú vị về một giới hạn khác của họ trong vấn đề tôn giáo mà người Ai-Cập đă thừa hưởng từ họ. Ho đă quan sát và ghi chép lại hầu hết tất cả các loại tinh hoa chất và các tinh linh thiên nhiên và đặt tên cho chúng, cũng như tạo ra các câu thần chú đặc biệt cho mỗi thứ để có thể điều khiển được chúng, rồi họ tiếp tục học tất cả những thứ này với niềm tin rằng trừ phi đúng câu thần chú được sử dụng cho mỗi loại tinh linh đặc biệt, c̣n không nó sẽ có khả năng phá hoại rất lớn. Nhưng họ không bao giờ biết rằng sức mạnh đằng sau các câu thần chú đó trong mỗi một trường hợp chính là ư chí của con người và ḷng quyết tâm sử dụng sức mạnh đó; thậm chí cho dù chẳng có câu thần chú nào hết th́ nó cũng cho ra hiệu quả như vậy ở khắp mọi nơi. Quyển Tử Thư có ghi chép rất nhiều câu thần chú, và chỉ có phần nào trong cuốn sách được cho rằng cần thiết đối với người chết mới được đặt trong mộ phần cùng với xác của y.

Giống dân phụ Turan của người Atlantis đă từng làm nhiều thí nghiệm với cái mà hiện giờ được gọi là chế độ dân chủ, và họ đă đưa chế độ đó đến t́nh huống thậm chí c̣n hoang đàng hơn những ǵ đă được đề xuất hiện nay bởi những người đi theo chủ nghĩa này một cách điên rồ. Hậu quả của nó tệ hại đến nỗi nguyên cả một giống dân phụ đó đă đổ vỡ trong một t́nh trạng rất hỗn loạn, không c̣n một chính phủ nào để cai trị; Trung Quốc hiện nay c̣n mang di tích của sự phản ứng mănh liệt đó khiến nó sau đó đi theo đường lối cai trị của giai cấp quí tộc tiếp theo. Người Turans có rất nhiều thú tính đă được phát triển mạnh mẽ, và họ không phải là những người mà chúng ta gọi là dễ chịu theo nhiều khía cạnh.

 

HỎA TINH

VÀ CƯ DÂN CỦA NÓ

T́nh trạng hiện tại của bầu Hỏa Tinh (Mars) thật sự không phải là khó ở. Nó là một bầu hành tinh nhỏ hơn Địa Cầu và tiến bộ hơn về tuổi tác. Tôi không có ư nói rằng nó thật sự lớn tuổi hơn v́ nguyên cả một dăy đều xuất hiện trong một khoảng thời gian nhất định gần nhau, mặc dù quả thật không phải là cùng một lúc. Tuy nhiên, v́ nhỏ hơn, nó trải qua đời sống hành tinh của nó nhanh hơn. Nó nguội xuống nhanh hơn từ trạng thái tinh vân và đă nhanh chóng trải qua những giai đoạn phát triển khác nhau của nó. Khi loài người đến chiếm đóng nó ở ṿng tuần hoàn thứ ba, t́nh trạng của nó cũng giống như bây giờ trên quả địa cầu, có nghĩa là, nó có nhiều nước hơn là đất trên b́nh diện mặt phẳng của nó. Hiện giờ, nó đă đi vào tuổi tương đối khá già và nước của nó cũng ít hơn nhiều so với mặt đất. Phần lớn diện tích của nó bây giờ là sa mạc được bao phủ bởi một băi cát màu cam rực rỡ, mang cho hành tinh đó một màu sắc đặc thù dễ cho chúng ta nhận ra. Cũng giống như nhiều sa mạc khác của chúng ta, đất của nó có lẽ đủ màu mỡ để trồng trọt nếu hệ thống thủy lợi vĩ đại được kéo đến đó, đây là một điều chắc chắn nếu nhân loại vẫn c̣n sống ở nơi đó cho đến nay.

Dân số hiện tại của nó rất ít, bao gồm hầu hết các thành viên của ṿng bên trong, và họ có đủ chỗ để sống ở các vùng xích đạo mà không cần phải bỏ ra nhiều nỗ lực, nơi có nhiệt độ cao nhất và nước không phải là một vấn đề. Các nhà thiên văn của chúng ta có quan sát được một hệ thống dẫn nước lớn đă từng được xây cất bởi người hạng nh́ của dăy mặt trăng khi họ đến định cư ở đó trong chu kỳ vừa qua, và hệ thống kênh nước của họ nói chung là đă kế hoạch hóa để lợi dụng lợi điểm khi những tảng băng khổng lồ ở ŕa bên ngoài của chóp núi phủ tuyết tan xuống hàng năm. Người ta đă quan sát được một số con kênh cặp đôi nhưng chúng chỉ đôi khi xuất hiện, đó là do tầm nh́n xa của những kỹ sư cầu cống ở Hỏa Tinh. Đất nước này nói chung là bằng phẳng và họ rất sợ lụt, nên bất cứ khi nào họ nghĩ rằng có lư do ǵ để sợ một cơn nước lụt tràn xuống trong bất kỳ một t́nh huống bất b́nh thường nào, một con kênh thứ hai song song được xây cất để tiếp nhận những lũ nước dư thừa này và dẫn nó đến một chỗ an toàn.

Các ống kính viễn vọng trên trái đất không thể nào nh́n thấy được các con kênh thật sự, cái mà chúng nh́n thấy được là những ṿng đai cỏ cây xanh mướt xuất hiện ở vùng đất hai bên con kênh vào thời điểm có nước tràn vào. Cũng như Ai-Cập sống nhờ ḍng sông Nile, các vùng đất lớn ở Hỏa Tinh cũng sống nhờ các con kênh này. Mỗi bên con kênh tỏa ra các nhánh nước nhỏ cách nhau ở một khoảng cách nhất định, chạy dài khoảng vài dặm vào vùng đất xung quanh và sau đó được chia ra thành hàng ngàn ḍng suối nhỏ, nên cứ mỗi một khu vực một trăm dặm bề ngang đều được tưới nước đầy đủ. Trong diện tích này là các khu rừng và các cánh đồng được canh tác, và rau cỏ của các loại thảo mộc khác nhau bắt đầu sinh sôi nảy nở rất nhiều khiến bề mặt của bầu hành tinh này nh́n giống như một vành đai đen mà thậm chí chúng ta có thể nh́n thấy được ở khoảng cách 40 triệu dặm khi nó nằm ở vị trí gần nhất và thuận lợi nhất đối với chúng ta.

Bầu Hỏa Tinh nằm xa hơn trung tâm thái dương hệ so với chúng ta và do đó người Hỏa Tinh chỉ nh́n thấy mặt trời bằng phân nửa kích thước của nó so với chúng ta. Tuy nhiên, khí hậu hành tinh này ở nơi người dân cư ngụ thật là tốt, nhiệt độ ban ngày ở vùng nhiệt đới thông thường là khoảng 700 F, mặc dù một năm không có nhiều ban đêm khi nó không có tuyết. Nó gần như là không có mây, bầu trời phần lớn đều trong suốt nguyên năm. Đất nước này do đó ít có mưa hoặc tuyết. Ngày ở Hỏa Tinh dài hơn ngày của chúng ta vài phút và một năm của họ gần như dài gấp đôi năm của chúng ta, và ở nơi có người dân cư ngụ, có rất ít mùa khác nhau.

Về ngoại h́nh, người Hỏa Tinh không khác ǵ chúng ta, chỉ là họ khá nhỏ con hơn. Người cao nhất không hơn năm feet, và đa số là khoảng hai hoặc ba tấc thấp hơn. Theo quan niệm của chúng ta, họ có bề ngang to hơn và một lồng ngực rất lớn - một thực tế có lẽ là v́ hiếm không khí nên họ cần phải hít thật sâu để có thể lấy đủ oxy cho máu. Nguyên một nền văn minh ở Hỏa Tinh chỉ có một giống dân, và họ không có bất kỳ sự khác biệt nào giữa nhau về nét mặt cũng như màu da, ngoại trừ như chúng ta họ cũng có những người tóc vàng hoặc tóc nâu, vài người có màu da hơi vàng và tóc đen, trong khi phần lớn có tóc vàng và mắt xanh hoặc tím - hơi giống người Na Uy. Phần lớn thường ăn mặc với màu sắc rực rỡ, và cả hai giới phái đều mặc một loại quần áo không có h́nh thù rơ ràng, được làm bằng một loại chất liệu mềm mại rủ thẳng xuống từ vai đến chân. Họ thường đi chân đất, mặc dù đôi khi họ có dùng một loại dép bằng kim loại, với một dây thừng ṿng qua cổ chân.

Họ rất thích hoa và trồng nhiều loại bông khác nhau, thị trấn của họ được xây cất dựa trên bản vẽ của một thành phố có vườn hoa. Căn nhà thông thường chỉ có một tầng nhưng được xây chung quanh một cái sân bên trong và trải rộng trên một miếng đất lớn. Các căn nhà này nh́n từ bên ngoài như được làm bằng một loại kính thủy tinh nhuộm màu, và quả thật chất liệu của nó rất trong suốt, nhưng miếng kính được uốn lượn theo một cách nào đó cho nên trong khi người ở trong nhà có thể nh́n ra vườn của họ một cách thoải mái, không ai bên ngoài có thể nh́n thấy được chuyện ǵ đang xảy ra ở trong nhà.

Các căn nhà không phải được xây lên từ các khối gạch mà bằng chất liệu được nấu chảy ra rồi đổ vào khuôn. Nếu một căn nhà cần phải được xây cất, trước tiên một cặp khuôn kép sẽ được làm bằng kim loại phủ xi-măng, rồi sau đó một chất giống như thủy tinh được nấu chảy ra rồi đổ vào khuôn này; khi nó nguội và cứng lại th́ các khuôn được lấy ra, và ngôi nhà đă được hoàn tất trừ việc phải đánh bóng bề mặt của nó. Các cánh cửa cũng không giống như của chúng ta v́ chúng không có bản lề và bu lông, mà chúng được mở ra và đóng lại bằng cách giẫm lên trên những chỗ nhất định trên mặt đất ở bên trong lẫn bên ngoài. Chúng không có xoay trên bản lề mà thụt vào bên trong tường ở hai bên. Tất cả các cánh cửa này và các đồ nội thất và phụ tùng đều được làm bằng kim loại. Gỗ dường như rất ít được sử dụng.

Chỉ có một ngôn ngữ duy nhất được sử dụng trên toàn cầu, ngoại trừ trong một số ít bộ lạc man rợ, và giống như mọi thứ khác trên thế giới của họ, ngôn ngữ này không phải đă phát triển như ngôn ngữ của chúng ta mà đă được sáng chế để tiết kiệm thời gian và bớt phiền phức. Nó đă được đơn giản hóa tuyệt đối đến mức có thể và không có một ngoại lệ (phân từ) bất b́nh thường nào. Họ có hai phương pháp để ghi lại suy nghĩ của họ. Một là nói vào một cái hộp nhỏ với ống nói chuyện đặt ở một bên, giống như điện thoại. Mỗi từ được nói ra trên quy tắc được chuyển thành một loại kư hiệu rất phức tạp trên một tấm thiếc nhỏ, và khi thông điệp đă được nói xong, tấm thiếc này sẽ rơi ra và được đánh dấu bằng các kư hiệu màu đỏ sẫm, có thể được đọc dễ dàng bởi những người quen thuộc với hệ thống kư hiệu đó. Phương pháp thứ hai là tự viết bằng tay, nhưng đây là một khả năng làm việc khó hơn rất nhiều, bởi v́ nó là một phương pháp tốc kư rất phức tạp mà có thể được viết nhanh như nói chuyện. Mọi cuốn sách của họ được ấn hành theo bản chữ tốc kư này, và các cuốn sách của họ thường là một cuộn thiếc dẻo rất mỏng. Những chữ khắc trên chúng là cực nhỏ, và thông thường được chúng được đọc bằng một kính lúp được đặt ngay trên cái giá nằm ở bên cạnh. Ở trên cái giá, có một cái máy để mở cuộn sách này ra trước kính lúp ở bất kỳ tốc độ nào theo ư muốn, nên một người có thể đọc mà không cần phải chạm vào sách.

Người ta có thể nh́n thấy dấu hiệu của một nền văn minh lâu đời trên mọi phương diện, v́ các cư dân đă bảo tồn văn hóa của mọi thứ mà họ biết từ khi làn sóng sinh hoạt vĩ đại của loài người đến chiếm đóng hành tinh đó, và kể từ đó họ đă thêm vào những phát minh mới lạ khác. Điện có vẻ như là loại lực làm việc duy nhất, và tất cả các loại máy móc để tiết kiệm sức lao động con người đều được sử dụng một cách phổ biến.

Nói chung, nguyên một dân tộc của họ rất ít hoạt động, nhất là khi họ đă vượt qua thời niên thiếu, nhưng v́ dân số của họ khá nhỏ nên họ có thể sống biếng nhác như vậy. Họ có huấn luyện một vài loại thú nhà khác nhau để làm việc trong nhà với một tŕnh độ khôn ngoan biết hợp tác giỏi hơn là những loại thú thông minh nhất hiện nay trên trái đất; v́ vậy, phần lớn các công việc trong nhà và ngoài vườn đều được các con thú này thực hiện mà ít khi đ̣i hỏi sự hướng dẫn từ con người.

Vua của họ có độc quyền cai trị toàn bộ hành tinh, nhưng chế độ quân chủ này không được cha truyền con nối. Họ theo chế độ đa thê nhưng lại có phong tục giao các đứa bé cho chính phủ ở độ tuổi rất sớm để được chăm sóc và giáo dục, nên hầu hết mọi người không có một truyền thống gia đ́nh nào cả, và cũng không ai biết được cha mẹ ḿnh là ai. Không có một luật lệ nào ép buộc điều này, nhưng nó được coi là đúng và tốt nhất cho quyền lợi của đứa trẻ nên ít gia đ́nh nào chọn sống như chúng ta và giáo dục con cái tại gia, v́ điều này thường được coi là ích kỷ và làm hại triển vọng của chúng chỉ v́ một gút mắc được coi là t́nh cảm của loài thú.

Do đó, chính phủ nhận lănh vai tṛ của người giám hộ và giáo dục phổ thông, và bộ giáo dục của từng tỉnh được hướng dẫn phải làm thế nào để phân loại các đứa trẻ này cẩn thận dựa trên năng khiếu chúng biểu lộ để quyết định lối sống của chúng sau này, mặc dù mỗi đứa trẻ đều có quyền tự do chọn lựa nghề nghiệp của ḿnh trên một phạm vi rất rộng lớn khi y đến tuổi biết chọn lựa. Tuy nhiên, những đứa trẻ thể hiện một trí tuệ tuyệt vời đồng với nhiều khả năng khác nói chung sẽ được tách riêng ra từ những đứa trẻ c̣n lại và được đào tạo với mục đích trở thành thành viên của giai cấp cai trị sau này.

Nhà vua có dưới quyền ngài nhiều vị phụ tá được gọi là thống đốc của các tỉnh lớn, và đến phiên họ cũng có dưới quyền ḿnh những vị tỉnh trưởng của các tỉnh nhỏ hơn, và cứ như vậy cho đến chức vị tương đương với người trưởng làng. Tất cả những quan viên chính phủ này đều được nhà vua lựa chọn từ nhóm trẻ được giáo dục đặc biệt, và khi cái chết cận kề, ngài sẽ chọn ra người kế vị từ nhóm quan viên đă được bổ nhiệm.

Y thuật của họ đă đạt đến mức hoàn hảo nên bệnh tật không c̣n tồn tại, và ngay cả những dấu hiệu thông thường của lăo hóa cũng gần như được xóa sạch. Trên thực tế, không ai nh́n già cả và có lẽ họ cũng không cảm thấy già, nhưng sau một đời sống có lẽ lâu hơn chúng ta, lực ham sống dần dần hao ṃn và con người sẽ chết. Có một phong tục khá phổ biến là khi một người đă mất hết hứng thú về cuộc sống và cảm thấy cái chết đang tiến đến cận kề (điều này thường tương ứng với những người mà chúng ta gọi là trăm tuổi), họ sẽ nộp đơn cho bộ y tế mà chúng ta nên gọi là trường đại học phẫu thuật và yêu cầu được chết một cách nhẹ nhàng - một đơn cầu tử lúc nào cũng được chấp thuận.

Tất cả những người cầm quyền đều có độc quyền trong phạm vi của họ, nhưng đơn xin được tái thẩm bởi một vị quan chức cao hơn lúc nào cũng có thể được thực hiện, mặc dù quyền lợi này ít khi được sử dụng v́ người dân thường chịu nhượng bộ theo bất cứ một phán xét nào khá hợp lư c̣n hơn là bỏ công ra để kiện được tái thẩm. Nói chung, những người cai trị đều thực hành tốt nhiệm vụ của ḿnh, nhưng chúng tôi có một ấn tượng là họ làm như vậy không phải từ một quan điểm chính trực về quyền lợi của người dân hoặc công lư, mà chỉ để tránh khỏi bị phiền hà sau này, một điều chắc chắn sẽ xảy ra từ một phán xét quá bất công.

Một trong những điều đáng chú ư nhất về cư dân Hỏa Tinh là họ không có bất cứ một tôn giáo nào cả. Họ không có một nhà thờ, đền thờ, hoặc một nơi thờ phụng dưới bất cứ h́nh thức nào, cũng không có tu sĩ hoặc bất cứ một quyền lực tôn giáo nào hiện hữu. Niềm tin được chấp nhận bởi người dân là cái mà chúng ta gọi là chủ nghĩa khoa học duy vật. Không có điều ǵ là sự thật trừ phi nó được chứng minh một cách khoa học, và để tin vào những thứ ǵ không thể được chứng minh không chỉ được coi là một sự ngu xuẩn tột độ mà c̣n là một tội ác, bởi v́ nó được coi là một mối hiểm họa phá sự b́nh yên của dân chúng.

Lịch sử của người Hỏa Tinh trong quá khứ xa xôi cũng không khác ǵ hơn chúng ta, họ cũng có các mẩu chuyện về sự đàn áp khốc liệt của tôn giáo và những người cuồng tín đến mức độ họ không chỉ làm cho chính ḿnh bị kích động quá mức mà c̣n liên tục xen vào quyền tự do suy nghĩ của người khác. Dư luận quần chúng của Hỏa Tinh đă nhất quyết không bao giờ cho phép các yếu tố nhiễu loạn như vậy có cơ hội ra đời một lần nữa, và thuyết duy vật và lư trí cụ thể ngự trị trên hết, tuy rằng nơi đó cũng như ở nơi đây có những sự kiện mà khoa học cụ thể không cách nào giải thích được, nên họ cho rằng tốt nhất là không nên nhắc ǵ hết đến chúng.

Tuy nhiên, ở Hỏa Tinh cũng như ở những nơi khác, có một số người hiểu biết nhiều hơn và nhiều thế kỷ trước đây, một vài người trong số này đă cùng nhau thành lập một hội huynh đệ bí mật để cùng nhau gặp gỡ và thảo luận về những vấn đề này. Dần dần và với sự cẩn mật tối đa, họ đă nhận thêm những thành viên khác vào ṿng thân mật đó, và như vậy trong một thế giới duy vật nhất, một hội tâm linh huyền bí ra đời; họ không chỉ tin vào thế giới siêu h́nh mà thậm chí c̣n về sự tồn tại của chúng, bởi v́ các thành viên này đă nghiên cứu trực tiếp về thôi miên và thuyết duy linh (spiritualism), và nhiều người trong số họ đă phát triển được rất nhiều quyền năng tâm linh.

Hiện nay, hội bí mật này đă lan truyền rộng răi và người đứng đầu nó lúc này là một đệ tử của một trong các vị Chân Sư của chúng ta. Ngay cả bây giờ sau ngần ấy thế kỷ, sự tồn tại của nó vẫn chưa được các nhà chức trách chính thức công nhận, mặc dù trên thực tế họ đă có khá nhiều sự nghi ngờ về sự hiện hữu của nó và biết sợ nó. Không có thành viên nào được công khai biết đến, nhưng có rất nhiều người bị nghi ngờ; tuy nhiên, nó được quan sát là dường như trong quá khứ, khi bất cứ một nghi phạm nào bị đă thương hoặc tử nạn chết oan, những người có dính líu đến vụ án này đều bị chết bất ngờ một cách rất thần bí, mặc dù chưa có một trường hợp nào mà cái chết của họ được khám phá ra là có liên quan đến bất cứ hoạt động nào trên cơi trần của các viên bị t́nh nghi. V́ vậy, mặc dù một niềm tin như vậy chắc chắn là một hành vi vi phạm nguyên tắc lư thuyết duy vật tuyệt đối mà dựa trên đó mọi thứ đều được cai quản, nhưng nói chung nó được hiểu rằng tốt nhất là không nên t́m hiểu quá sâu về niềm tin của những người có vẻ khác biệt với phần đông quần chúng ở một mức độ nào đó, miễn là họ không công khai phát biểu một ư kiến ǵ được coi là phá hoại đạo đức tốt đẹp của chủ nghĩa duy vật.

Những người bị đuổi ra khỏi vùng nhiệt đới dễ chịu này vào những vùng đất khắc nghiệt và rừng rậm khó phát triển được là tàn dư của các bộ lạc dă man, hậu duệ của những người bị bỏ lại đằng sau khi làn sóng sinh hoạt vĩ đại rời khỏi Hỏa Tinh đến Địa Cầu. Đây là những người man rợ thuộc tầng lớp thấp hơn bất cứ người nào hiện sinh sống trên trái đất của chúng ta, mặc dù họ có vài nét giống như một trong những ḍng tiến hoá bên trong của chúng ta.

Ít nhất, một vài thành viên của Hội bí mật này đă học được cách lướt qua không gian giữa bầu Hỏa Tinh và quả Địa Cầu của chúng ta một cách dễ dàng, và đôi khi họ đă cố gắng tự thể hiện ḿnh qua trung gian (đồng bóng) của các buổi cầu hồn, và họ cũng có thể tạo ra một ấn tượng về các ư kiến của họ lên các nhà thi sĩ và văn sĩ qua các phương pháp mà họ đă nghiên cứu được.

Thông tin mà tôi đă đưa ra ở trên là dựa trên sự quan sát và t́m hiểu trong các chuyến thăm viếng nhiều lần ở hành tinh này. Tuy nhiên, hầu hết các thông tin này có thể được t́m thấy trong tác phẩm của nhiều nhà văn khác nhau trong ṿng 30 hoặc 40 năm gần đây, và trong mọi trường hợp như vậy, chúng đă được tường thuật lại hoặc được gây ấn tượng bởi một người nào đó từ Hỏa Tinh, mặc dù sự kiện của một ấn tượng được tạo ra như vậy (ít nhất trong một vài trường hợp) hoàn toàn không được tác giả biết đến.

Đối với nơi trú ngụ tương lai của chúng ta, bầu Thủy Tinh, chúng tôi biết về nó ít hơn rất nhiều so với Hỏa Tinh bởi v́ các chuyến đi thăm nó thường là vội vă và không được thường xuyên. Nhiều người cho rằng thật khó tin là chúng ta có thể tồn tại được trên bầu Thủy Tinh với mặt trời ở đó nh́n ít nhất bảy lần lớn hơn so với ở đây. Tuy nhiên, nhiệt độ của nó không phải là nóng dữ dội như người ta tưởng tượng. Tôi được cho biết rằng điều này là như vậy v́ sự hiện diện của một lớp vỏ khí bên ngoài bầu khí quyển của Thủy Tinh - nó có thể ngăn ngừa được gần hết sức nóng của mặt trời khiến nó không thâm nhập được. Chúng tôi cũng được cho biết rằng cơn băo có sức phá hủy mănh liệt nhất trong tất cả các cơn băo có thể xảy ra trên Thủy Tinh là loại có thể làm xáo trộn lớp vỏ khí này khiến cho nó mất đi sự quân b́nh dù chỉ trong chốc lát. Khi điều này xảy ra, một loại ṿng xoáy được h́nh thành bên trong đó và trong chốc lát, một luồng ánh sáng trực tiếp từ mặt trời sẽ đi xuyên qua ṿng xoáy của nó. Một luồng ánh sáng như vậy sẽ lập tức phá hủy bất cứ sự sống nào nằm trên đường của nó và đốt cháy hết tất cả những ǵ có thể bị đốt. May thay, những loại băo như vậy rất là hiếm. Người dân mà tôi đă nh́n thấy được cũng rất giống chúng ta, tuy một lần nữa họ có phần nhỏ con hơn.

Ảnh hưởng của lực hấp dẫn (gravity) trên Hỏa Tinh và Thủy Tinh chỉ bằng phân nửa trên trái đất, nhưng khi ở Hỏa Tinh, tôi không nhận thấy người ta đạt được bất cứ lợi điểm ǵ từ sự kiện này. Trên Thủy Tinh, tôi thấy những cánh cửa của các ngôi nhà đều có một chiều cao đáng kể từ mặt đất, và chúng ta cần phải có một thành quả thể dục khá tốt để có thể với đến chốt cửa, nhưng cư dân trên Thủy Tinh chỉ cần nhảy lên một cách rất nhẹ nhàng. Tất cả các cư dân trên hành tinh đó từ lúc sơ sinh đă sở hữu thị lực dĩ thái. Tôi c̣n nhớ rằng sự thực này đă chợt đến với tôi khi quan sát một đứa trẻ đang theo dơi một sinh vật đang ḅ, và tôi thấy rằng khi nó đă ḅ vào ổ của nó, đứa bé đó vẫn có thể theo dơi các cử động của nó, ngay cả khi nó đă ḅ xuống rất sâu trong ḷng đất.

 

CHƯƠNG II

LUÂN HỒI

 

BA ĐỊNH LUẬT CỦA ĐỜI NGƯỜI

Một linh hồn b́nh thường chưa đủ sức để tự chọn cho ḿnh một cơ thể. Nơi sinh sống của y thường được quyết định bởi ba yếu tố, hoặc có lẽ tốt hơn nên nói là do tác động của ba lực kết hợp lại. Đầu tiên phải kể là luật tiến hoá, khiến linh hồn được sinh ra dưới các điều kiện sẽ cho y cơ hội để phát triển những đức tính mà y cần nhất. Tuy nhiên, tác động của lực này bị giới hạn bởi yếu tố thứ hai, luật nhân quả. Linh hồn có thể không xứng đáng với một cơ hội tốt nhất có thể, và do đó y phải chấp nhận những cơ hội tệ hơn thuộc hạng thứ nh́ hoặc hạng thứ ba. Thậm chí, y có thể không xứng đáng với bất cứ một cơ hội tuyệt vời nào, và do đó một cuộc đời sóng gió với ít tiến bộ có thể là định mệnh của y.

Yếu tố thứ ba cũng phát huy ảnh hưởng của nó, sức mạnh của sự ràng buộc cá nhân về t́nh thương hoặc thù hận mà linh hồn đă tạo ra trước đây. Điều này có thể điều chỉnh tác động của lực thứ nhất và lực thứ nh́, v́ đôi khi do nó mà y được đưa vào một vị trí mà y có thể được nói là không xứng đáng theo bất cứ một điều kiện nào ngoại trừ t́nh thương mănh liệt mà y đă dành cho một người tiến hóa hơn y.

Một người đă tiến bộ nhiều hơn mức b́nh thường, một người đă đặt chân lên đường Đạo dẫn đến quả vị Chân Tiên, có thể thực hiện một số lựa chọn nhất định về quốc gia và gia đ́nh nơi y sinh ra, nhưng một người như vậy sẽ là người đầu tiên gạt bỏ mọi tham vọng cá nhân qua một bên trong vấn đề này và tuyệt đối giao định mệnh của ḿnh vào tay của thiên luật vĩnh cửu tối cao với niềm tin vững chắc rằng bất cứ những ǵ nó đem đến cho y phải tốt hơn nhiều so với bất cứ lựa chọn nào từ bản thân y.

Cha mẹ không thể chọn linh hồn nào sẽ nhập vào cơ thể mà họ sinh ra, nhưng họ có thể thu hút một linh hồn rất tiến hóa đến với họ bằng cách sống thật tốt để cho y có nhiều cơ hội để tiến bộ.

 

ĐẦU THAI

Toàn bộ thái dương hệ của chúng ta là một biểu lộ của Đức Thái Dương Thượng Đế, và mỗi phân tử (particle) trong đó chắc chắn là một phần của các dẫn thể của Ngài. Toàn bộ chất liệu hồng trần trong một thái dương hệ nói chung tạo ra thể xác của Ngài, tất cả các chất liệu cơi trung giới tạo ra thể vía của Ngài, tất cả các chất liệu cơi trí là thể trí của Ngài, và cứ như thế. Bên trên và bên ngoài thái dương hệ của Ngài, Ngài c̣n có một sự sống rộng răi và vĩ đại hơn của chính Ngài, nhưng ít nhất điều đó không ảnh hưởng ǵ đến sự thật về câu tuyên bố vừa rồi của chúng ta.

Vị Thái Dương Thượng Đế này có bên trong Ngài bảy vị Hành Tinh Thượng Đế, được coi như là những trung tâm lực nằm bên trong Ngài, những con kênh mà qua đó lực của Ngài tuôn tràn. Vật liệu h́nh thành các dẫn thể của Ngài mà chúng ta vừa mới mô tả đồng thời cũng tạo ra các dẫn thể của các Đức Hành Tinh Thượng Đế, bởi v́ không có một phân tử (particles) của vật chất nào trong hệ thống này mà không phải là một phần của Vị này hay Vị kia trong số Họ. Tất cả điều này đều đúng cho mỗi một cơi, nhưng tạm thời chúng ta hăy lấy cơi trung giới làm ví dụ, bởi v́ vật liệu của nó đủ lỏng lẻo để dùng cho mục đích nghiên cứu của chúng ta, và đồng thời nó cũng đủ gần với cơi trần để không đến đỗi phải vượt quá tầm hiểu biết giới hạn của chúng ta.

Mỗi phân tử của chất liệu trung giới thuộc về hệ thống này là một phần của thể vía của Đức Thái Dương Thượng Đế, nhưng nó cũng là một phần của thể vía của một trong bảy vị Hành Tinh Thượng Đế. Hăy nhớ rằng nó cũng bao gồm chất liệu trung giới mà thể vía của bạn và của tôi được h́nh thành. Chúng ta không có một phân tử nào riêng của chúng ta. Mỗi thể vía đều có các phân tử thuộc về một trong bảy vị Hành Tinh Thượng Đế, nhưng tỷ lệ của chúng (trong mỗi thể vía) thay đổi vô hạn. Cơ thể của các Chân Thần xuất phát từ một vị Hành Tinh Thượng Đế sẽ tiếp tục tiến hoá trong quá tŕnh của chúng để nhận các phân tử từ vị Thượng Đế đó nhiều hơn là từ các Vị khác, và bằng cách này, mỗi người có thể được phân biệt là họ chính yếu thuộc về Cung nào trong bảy Cung Thần Lực Vĩ Đại này.

Bảy vị Hành Tinh Thượng Đế có một số thay đổi tâm linh nhất định theo chu kỳ, có lẽ chúng tương xứng với việc hít vào và thở ra hoặc là với nhịp đập của trái tim chúng ta ở cơi trần.

Dù sao đi nữa, dường như những sự chuyển biến và kết hợp giữa chúng là vô hạn. Hiện giờ, bởi v́ thể vía của chúng ta được xây dựng từ chính chất liệu thể vía của Họ, đương nhiên là sẽ không có bất cứ vị Hành Tinh Thượng Đế nào có thể thay đổi tính t́nh mà không ảnh hưởng đến thể vía của mỗi người trên thế gian này, mặc dù đương nhiên nó sẽ đặc biệt ảnh hưởng nhiều hơn đối với những người có biểu lộ nhiều chất liệu của vị Thượng Đế đó hơn; hăy nhớ rằng chúng ta chỉ dùng cơi trung giới làm ví dụ và chính điều này cũng đúng đối với các cơi khác, nên chúng ta sẽ bắt đầu có một khái niệm về tầm quan trọng của sự di chuyển của các bầu hành tinh đại diện cho các vị Hành Tinh Thượng Đế này đối với chúng ta.

Bà Blavatsky có viết về những Thực Thể cao cả đặc biệt mà bà gọi là các Đấng Lipika, hay các vị Thần Nhân Quả. Chúng tôi được cho biết rằng những người đại diện trong cơ quan điều hành nghiệp quả là bốn vị (thật sự là bảy vị) chủ quản vĩ đại được gọi là Devarajas hoặc là các vị Đại Thiên Vương (Nhiếp Chính Vương) của Địa cầu. Mỗi người trong số Họ đứng đầu một nhóm lớn các vị đại thiên thần và tinh linh thiên nhiên và thậm chí cả loài tinh hoa chất. Một lần nữa, v́ mục đích giải thích cho dễ hiểu nên chúng ta chỉ giới hạn nó trong phạm vi cơi trung giới, nhưng trong tâm trí của chúng ta nên luôn ghi nhớ rằng điều tương tự cũng áp dụng luôn cho mọi cơi khác. Toàn bộ chất liệu trung giới nói chung đều nằm dưới sự kiểm soát của một trong các Đại Thiên Vương, nhưng đồng thời chính Vị đó cũng cai quản luôn cơi phụ thứ nh́ của mỗi cơi ở một mức độ nào đó, v́ cơi phụ đó có cùng một mối liên hệ với cơi trung giới mà nó là một thành phần, cũng như cơi trung giới là một phần của toàn bộ các cơi. V́ vậy, có hai ảnh hưởng trong mỗi cơi phụ: (1) ảnh hưởng của vị cai quản nguyên một cơi đó nói chung và (2) ảnh hưởng phụ của vị cai quản cơi phụ đó.

Bây giờ, thể vía của chúng ta được h́nh thành từ chất liệu trung giới; hăy hiểu rằng mỗi phân tử của nó đều thuộc về dẫn thể của một trong bảy vị Hành Tinh Thượng Đế, và đồng thời nó cũng nằm dưới sự ảnh hưởng chính của vị Đại Thiên Vương của cơi trung giới và dưới sự ảnh hưởng phụ của một vị Đại Thiên Vương khác quản lư gián tiếp cơi phụ của nó. Để chúng ta có thể hiểu thấu vấn đề này tường tận hơn, hăy nghĩ về các cơi phụ của cơi trung giới như là các hàng ngang, và những loại vật liệu thuộc về bảy vị Hành Tinh Thượng Đế cao cả như là các cột đứng cắt thẳng góc với các hàng ngang. (Chúng vẫn c̣n được phân chia tiếp tục, nhưng hiện thời chúng ta sẽ không đề cập đến chúng hầu ư tưởng đại cương có thể được diễn tả rơ ràng hơn). Như thế chúng ta có 49 loại vật liệu trung giới khác nhau được đánh dấu rơ ràng, bởi v́ trong mỗi cơi phụ chúng ta đều có chất liệu của mỗi vị Hành Tinh Thượng Đế.

Mặc dù không tính thêm về các phần phân chia phụ tiếp theo, chúng ta cũng có gần như vô số các phối hợp của những vật liệu, nên bất cứ linh hồn nào có đặc tính ǵ đi nữa th́ y vẫn có thể t́m thấy đủ vật liệu để biểu lộ.

Chúng ta hăy xem xét trường hợp của một linh hồn sắp sửa đi xuống đầu thai. Chúng ta nên nghĩ như y đang nghỉ ngơi trong nhân thể của ḿnh ở một cảnh cao hơn của cơi trí và không có dẫn thể nào thấp hơn nó. Sau khi đă bỏ lại thể xác trong kiếp sống vừa qua, y đă từ từ rút tâm thức vào bên trong, trước nhất vào thể vía rồi vào thể trí, và cuối cùng ở cơi trời chân phúc, y thậm chí cũng cởi bỏ luôn lớp áo cuối cùng này. Sau đó, y sẽ nghỉ ngơi ở chính cơi của ḿnh, cảnh thứ ba của cơi trí, trong một khoảng thời gian nhất định - khoảng thời gian này dài hay ngắn tùy vào giai đoạn tiến hoá của y, từ hai ngày, ba ngày một cách vô ư thức trong trường hợp của một người b́nh thường chưa tiến hoá, cho đến một thời gian dài nhiều năm trong một đời sống huy hoàng đầy ư thức trong trường hợp của những người đă tiến hoá rất cao. Sau đó, y lại bắt đầu chuyển sự chú ư của ḿnh xuống dưới và ra ngoài. Trong quá tŕnh hướng thượng, v́ y đă rút sự chú ư của ḿnh lần lượt ra khỏi cơi trần và cơi trung giới, các hạt nguyên tử trường tồn đă đi vào trạng thái ngủ yên và ngừng rung động mạnh mẽ theo đường lối thông thường của chúng. Điều tương tự này cũng xảy ra đối với đơn vị hạ trí ở cuối đời sống ở cơi trời chân phúc, và trong lúc nghỉ ngơi ở chính cơi của y, linh hồn có ba hạt phụ tùng này nằm yên nghỉ trong y.

Khi y chuyển sự chú ư của ḿnh đến cơi trí một lần nữa, đơn vị hạ trí sẽ lập tức bắt đầu rung động và do đó thu hút chung quanh nó các chất liệu cần thiết để biểu lộ sự hoạt động đó. Điều y như vậy sẽ xảy ra khi y chuyển sự chú ư của ḿnh đến hạt nguyên tử trường tồn thể vía và đặt thêm ư chí của y vào đó. Nó sẽ thu hút chung quanh nó các chất liệu có khả năng cung cấp cho y một thể vía y như cái mà y đă có ở cuối cuộc sống vừa qua ở cơi trung giới. Chúng ta cần phải h́nh dung được sự kiện này rơ ràng trong trí của chúng ta là khi một linh hồn đi xuống đầu thai, cái mà y có không phải là một thể vía được làm sẵn mà là một tập thể các vật liệu được tụ họp lại để tạo ra một thể vía mới trong hành tŕnh của một kiếp sống mới tiếp theo.

Trong trường hợp của những tầng lớp Chân Thần thấp hơn với thể vía c̣n quá thô bạo, họ thường đầu thai sau một thời gian nghỉ ngơi rất ngắn; đôi khi, nó xảy ra là bóng dáng (shade) hoặc lớp vỏ cũ của thể vía từ kiếp trước vẫn c̣n tồn tại ở cơi trung giới, và trong trường hợp đó nó có thể sẽ bị phàm ngă mới thu hút. Khi điều này xảy ra, nó sẽ đem theo những thói quen và thành kiến cũ, đôi khi thậm chí cả kư ức của kiếp sống vừa qua.

Chất liệu trung giới trước nhất sẽ được phân phối đồng đều trên khắp h́nh bầu dục; chỉ khi nào thể xác xuất hiện ở ngay giữa h́nh bầu dục th́ chất liệu trung giới và của cơi trí mới bị thu hút đến nó và bắt đầu uốn nắn theo h́nh thù của thể xác, rồi sau đó phát triển đều đặn theo nó. Đồng thời với sự thay đổi này, chất liệu thể trí và thể vía cũng trở nên sinh động, và t́nh cảm cũng như tư tưởng sẽ xuất hiện.

Hào quang của một đứa bé sơ sinh gần như không có màu sắc ǵ cả, và chỉ khi nào nó phát triển những cá tính đặc thù th́ màu sắc mới bắt đầu biểu lộ. Đây là từ những chất liệu được cung cấp cho y để xây dựng thể vía - chất liệu mà y đă thu hoạch được từ kiếp trước qua những ham muốn và t́nh cảm y đă cho phép biểu lộ trong bản thân y; tuy nhiên, y không nhất thiết phải sử dụng hết tất cả các chất liệu mà y đă lấy được trong kiếp trước khi xây dựng một dẫn thể mới cho ḿnh. Nếu y được để yên, hạt nguyên tử trường tồn thể vía sẽ tự nhiên sản xuất cho y từ chất liệu được cung cấp một thể vía giống y như thể vía mà y đă có trong kiếp trước; nhưng không có một lư do ǵ mà tất cả chất liệu này phải được sử dụng, và nếu một đứa trẻ được đối xử tốt đẹp và hướng dẫn khôn khéo, nó sẽ được khuyến khích để phát triển tối đa các hạt giống tốt mà nó đă đem theo từ kiếp trước, trong khi các hạt giống xấu sẽ được để ngủ yên. Nếu điều này được thực hiện, các hạt giống xấu sẽ từ từ teo lại và rớt khỏi thể vía của y, và những đức tính tốt ngược lại sẽ được phát triển trong linh hồn, và như vậy y sẽ được giải thoát khỏi những tính xấu mà các hạt giống này chuyên chở trong các kiếp tương lai. Cha mẹ và thầy giáo có thể giúp y đạt được kết quả lư tưởng này, không phải bằng cách dạy cho y những kiến thức như vậy, mà qua sự khuyến khích, đối xử tử tế và công bằng, và trên hết là t́nh thương vô bờ bến đối với y.

Chúng ta phải nhớ rằng trong khi các dẫn thể cao hơn, thể trí và thể vía, là biểu lộ trung thực của tŕnh độ tiến hóa của con người (như có thể được biểu hiện qua chất liệu thuộc các cơi tương xứng của chúng), thể xác là một dẫn thể hoặc là một giới hạn bị áp đặt lên con người từ bên ngoài và do đó chính là một công cụ của nghiệp quả. Lực tiến hoá đóng một vai tṛ trong việc chọn lựa các chất liệu cho thể xác, nhưng thậm chí trong việc này mỗi bước đi của nó đều bị hạn chế và cản trở bởi nhân quả của quá khứ. Cha mẹ được chọn bởi v́ họ phù hợp để sinh ra một cơ thể thích hợp với sự phát triển của một linh hồn đă được giao phó cho họ, nhưng mỗi cặp cha mẹ đều có rất nhiều tiềm năng khác nhau. Mỗi người trong cặp họ đại diện cho một ḍng dơi huyết thống lâu đời, và thông thường một phụ huynh đặc biệt được chọn không phải v́ bản thân họ là ai hoặc sở hữu được cái ǵ ở cơi trần, mà bởi v́ một phẩm tính nào đó đă từng biểu lộ ở mức độ đặc sắc trong một trong các tổ tiên của họ - bởi v́ họ sở hữu một quyền năng tiềm ẩn nào đó mà họ chưa sử dụng mặc dù nó nằm trong thể xác của họ do di truyền của tổ tiên. Trong huyết thống của người cha hay mẹ và nhiều thế hệ trước đó, tiềm năng này có thể nằm yên không hoạt động, nhưng khi một linh hồn có đặc tánh đó sinh vào trong ḍng dơi đó, khả năng biểu lộ của nó sẽ chuyển từ trạng thái ẩn đến hiện, và chúng ta có một trường hợp của một sự kiện được gọi là sự tái sinh của một kiểu người xa xưa.

Có ba lực chính tác động lên sự cấu tạo của thể xác: (1) ảnh hưởng của chính linh hồn khi muốn lấy một h́nh thể mới, (2) việc thiết lập một tinh linh nhân tạo do các vị Thần Nhân Quả, và (3) tư tưởng của người mẹ. Bây giờ, hăy giả định một thể phách đang sắp sửa được tạo ra cho một linh hồn đang đi xuống đầu thai. Bản thân linh hồn này thuộc về một cung chính và một cung phụ, và các đặc tính này sẽ tạo ra một ấn tượng trên hạt nguyên tử trường tồn thể xác của y, và nó sẽ quyết định cột nào của các khu vực chất liệu dĩ thái sẽ đi vào cấu trúc của thể phách và tỷ lệ của chúng sẽ ra sao. Tuy nhiên, đặc tính này không quyết định được hàng nào trong số các hàng ngang của khu chất liệu dĩ thái sẽ được sử dụng và tỷ lệ của chúng, việc đó nằm trong thẩm quyền của các Tứ Đại Thiên Vương và sẽ được quyết định dựa trên nhân quả của y. Mỗi vị Đại Thiên Vương đều có rất đông các phụ tá dưới tay, nên không có bất cứ một sự chào đời nào đang xảy ra trên cơi trần mà bị bỏ sót. Các Ngài tạo ra một h́nh tư tưởng, một tinh linh nhân tạo như đă được đề cập ở trên, và nó được giao nhiệm vụ duy nhất là sản xuất một thể xác thích hợp nhất cho linh hồn đó. Để tiện cho việc tiến hoá, con người cần phải có một cơ thể với một số khả năng nhất định; v́ mục đích đó, y có thể được sinh ra từ một phụ huynh có khả năng đó và do đó có thể di trực tiếp di truyền nó; hoặc y có thể được sinh ra từ một phụ huynh có tổ tiên, bên ngoại hay nội, có khả năng đó hầu hạt chủng tiềm ẩn có thể đáp ứng được với khả năng của y; nhờ vậy nó có thể được di truyền từ người phụ huynh đó đến đứa con của họ.

Hăy nhớ rằng tinh linh được giao trách nhiệm phát triển thể xác là một h́nh tư tưởng được tạo ra bởi Tứ Đại Thiên Vương, và mục đích chính của nó là h́nh thành một cái khuôn dĩ thái mà từ đó các phần tử vật lư của cơ thể một em bé được h́nh thành. Trong quá tŕnh xây dựng một thể phách mới, nó có thể sử dụng bốn loại chất liệu dĩ thái (bốn loại được chủ tŕ bởi Các Vị Sáng Tạo ra nó), và thể dĩ thái được h́nh thành thuộc hạng nào sẽ dựa trên tỷ lệ của các loại chất liệu dĩ thái được sử dụng. Hăy nhớ rằng tinh linh nhân tạo không có quyền lựa chọn các chất liệu được phân chia theo cột dọc, nhưng nó lại có nhiều tự do chọn lựa đối với các loại chất liệu thuộc hàng ngang.

Với tŕnh độ hiểu biết hiện thời, chúng ta không thể nào hiểu nổi hoạt động của một tâm thức mạnh mẽ như của các vị Đại Thiên Vương, nên chúng tôi chỉ có thể ghi chép ở đây một sự thật (mà không có ư định giải thích nó) là con tinh linh làm công việc này dường như không phải hoàn toàn bị tách rời khỏi tâm trí đă phóng ra nó. Theo một cách nào đó mà chúng tôi không thể giải thích được, nó vẫn c̣n là một phần nào đó trong tâm thức của Họ, và trong vài trường hợp rất hiếm, khi một linh hồn tiến hoá bắt đầu chủ động chiếm lấy cơ thể của ḿnh (ngay cả khi c̣n nhỏ), dường như y có thể tiếp xúc trực tiếp với Họ và với sự chấp thuận của Họ, thọ lănh thêm nhiều nghiệp quả hơn là Họ đă định đoạt ban đầu cho y.

Một người có thể làm được điều này khi con tinh linh c̣n làm công việc của nó cũng có thể giữ măi mối liên lạc với các vị thần nhân quả trong suốt kiếp sống sau này của y và do đó có khả năng cầu xin Họ sửa đổi thêm. Tuy nhiên, theo những ǵ chúng tôi đă biết cho đến nay, sự sửa đổi này chỉ có thể đi theo đường hướng gia tăng nghiệp quả cần phải giải quyết chứ không phải giảm bớt nó. Sự tỉnh thức của tâm thức, khiến linh hồn có thể tiếp xúc với các vị Đại Thiên Vương và sẵn sàng hợp tác với Họ trong công việc của Họ liên quan đến bản thân y, có thể bắt đầu từ bất cứ lúc nào, nên một linh hồn chưa tiếp xúc được với Họ trong thời gian tinh linh tạo ra thể xác của y có thể bằng một nỗ lực phi thường để phát triển bản thân và giúp thế nhân, thu hút được sự chú ư của Họ sau này trong kiếp sống của y và chiêu cảm được một sự hồi đáp nhất định từ Họ.

Hạt thai chủng nảy nở thành thể xác con người có hai thành phần với hai tiềm năng khác nhau. (Môn sinh phải cẩn thận đừng lầm lẫn hạt thai chủng vật lư đến từ cha mẹ với hạt nguyên tử trường tồn thể xác mà linh hồn luôn mang theo với y). Nó căn bản là một noăn trứng, bên trong nó có tất cả tiềm năng của tổ tiên bên ngoại, nhưng nó đă bị đâm thủng bởi tinh trùng mang theo bên trong nó tất cả tiềm năng từ tổ tiên bên nội.

Hai bộ khả năng (di truyền) này rất ph́ nhiêu, như chúng ta có thể hiểu được một cách dễ dàng nếu chúng ta nghĩ về số lượng tổ tiên mà bất cứ một ai trong chúng ta phải có, chẳng hạn như khoảng một ngàn năm về trước. Tuy nhiên, cho dù có nhiều đến mức nào, chúng cũng có giới hạn của chúng. Chẳng hạn, hăy lấy trường hợp của một trong những người làm vườn tại Adyar - một người được gọi là cu-li hoặc thuộc tầng lớp lao động phổ thông (những người c̣n kém tay nghề). Quay ngược lại về một ngàn năm trước, người này phải có đến cả hàng triệu tổ tiên, nhưng tất cả hàng triệu tổ tiên đó phải thuộc giai cấp cu-li. Họ phải bao gồm tất cả các hạng người cu-li khác nhau: tốt và xấu, thông minh và khờ khạo, tử tế và độc ác; nhưng họ đều là cu-li và do đó có các giới hạn về trí óc và phẩm tính thuộc về giai cấp đó.

Từ trong số các khả năng này, con tinh linh phải chọn lựa. V́ mục đích của nó, nó có hai câu hỏi cần phải cân nhắc: phẩm chất và h́nh dáng. Trong số này, yếu tố trước quan trọng hơn rất nhiều. Loại thứ hai chủ yếu chỉ quan tâm đến vật liệu của các cơi phụ thấp hơn. Tuy nhiên, phẩm chất của chất liệu dĩ thái được chọn trong việc xây dựng phần cao hơn của thể xác (thể phách) sẽ quyết định phần lớn khả năng của cơ thể đó trong kiếp đầu thai đó - liệu y sẽ khôn ngoan hay khù khờ, điềm đạm hay cáu kỉnh, năng động hay ù ĺ, nhạy cảm hoặc vô cảm.

Do đó, việc làm đầu tiên của h́nh tư tưởng, hoặc con tinh linh của các vị Đại Thiên Vương, là chọn ra trong số khả năng này cái ǵ sẽ nổi bật trong cấu trúc của một cơ thể mới - đặc biệt là cấu trúc của bộ năo. H́nh dáng bên ngoài chỉ là vấn đề nhỏ, mặc dù nó cũng quan trọng, nhưng điều này cũng là một phần của công việc của con tinh linh. Nếu một người đáng phải bị một sự tàn tật nào đó trong thể xác, hoặc phải bị yếu đi trong vài bộ phận của y như tim, phổi, bao tử, chính là qua con tinh linh này mà nghiệp quả của y sẽ được điều chỉnh. Chỉ thị của nó (nếu chúng ta có thể dùng danh từ như thế) là xây dựng một cơ thể thuộc một loại và một tŕnh độ thể lực với một số đặc tính nổi bật. Tuy nhiên, đây không phải là các chỉ thị để nó ghi sâu vào tâm trí của nó bởi v́ nó vốn không có trí óc, mà thật ra Họ chính là nó, là sự sống của nó, v́ khi các chỉ thị này đă được thực hiện th́ nó biến mất, bởi v́ lư do mà nó được h́nh thành ra đă được hoàn tất.

Một sự kiện mà các sinh viên khoa phôi sinh đều biết đến là trong các giai đoạn đầu tiên của bào thai, mầm thai chủng của con cá, con chó và con người trên thực tế đều không thể phân biệt được. Chúng đều phát triển theo một đường lối tương tự, nhưng sự khác biệt giữa chúng là một số dừng lại ở một giai đoạn phát triển nào đó, trong khi một số khác tiếp tục đi xa hơn. Nguyên nhân của sự thật hiển nhiên này lại không rơ đối với những người chỉ tin vào chủ nghĩa duy vật. Họ phải giả định rằng tuy một vật đến từ một nguồn gốc nhất định có nh́n giống hệt như một vật đến từ một nguồn gốc hoàn toàn khác hẳn, nhưng nó phải sở hữu bên trong nó một số phẩm chất tự nhiên khiến nó có thể tạo lại h́nh dáng mà từ đó nó xuất phát.

Lực ép buộc không phải là một đặc tính sẵn có trong vật chất, chúng (vật chất) vốn giống y như nhau và được tạo ra từ những yếu tố hoá học giống nhau; nhưng chính sự sống thiêng liêng là mănh lực dồn về phía trước, đi vào làm sinh động vật chất, uốn nắn nó theo một h́nh thể thích hợp cho sự sống bên trong đang ở một giai đoạn tiến hóa đặc biệt nào của nó. Khi một thực thể vừa mới cá nhân hoá và do đó bắt đầu tạo ra nhân quả/ảnh hưởng của riêng ḿnh, h́nh tư tưởng của các vị thần nhân quả là yếu tố uốn nắn khác tác động thêm vào đó, và nó chiếm lấy hạt thai chủng đang phát triển thậm chí c̣n trước khi cả linh hồn có thể xuống nắm lấy nó.

H́nh dáng và màu sắc của con tinh linh thay đổi theo nhiều trường hợp khác nhau. Lúc đầu, nó biểu lộ chính xác h́nh hài và kích thước của cơ thể em bé mà nó phải xây dựng, chẳng hạn như cơ thể đó phải nh́n như thế nào (chỉ liên quan đến công việc của tinh linh) khi nó được sinh ra. Những nhà thông nhăn, khi nh́n thấy h́nh dáng nhỏ bé giống như một con búp bê lơ lửng chung quanh (và sau đó bên trong) cơ thể người mẹ, đôi khi đă nhầm lẫn nó với linh hồn của đứa bé sắp chào đời thay v́ là cái khuôn của thể xác của nó. Khi bào thai đă lớn bằng kích thước của cái khuôn, phần lớn công việc của con tinh linh đă được hoàn tất, và nó tự lột ra lớp vỏ bên ngoài của nó và phát triển h́nh dáng của cơ thể ở giai đoạn tiếp theo mà nó phải nhắm đến - kích thước, h́nh dáng và t́nh trạng của cơ thể đó phải ra sao (chỉ tính đến công việc của tinh linh) ở thời điểm mà con tinh linh dự định sẽ rời khỏi nó. Tất cả những sự phát triển xa hơn nữa của thể xác sau khi con tinh linh rút lui sẽ nằm dưới sự điều khiển của chủ thể linh hồn.

Trong cả hai trường hợp này, con tinh linh chỉ dùng bản thân nó làm cái khuôn cho thể xác. Màu sắc của nó phần lớn đại diện cho các đặc điểm đă được tính toán để tạo ra một cơ thể mà nó phải xây dựng, và h́nh dáng của nó cũng đă được định sẵn cho linh hồn. Nó chỉ tồn tại cho nhiệm vụ của nó, và khi số năng lượng mà nó được cung cấp ban đầu (để giữ lấy h́nh thể của nó) đă cạn kiệt, nó sẽ không c̣n một sinh lực nào khác để kết nối các phân tử với nhau, và nó lập tức tan ră.

Con tinh linh này phải phụ trách lo cho cơ thể ngay từ ban đầu, nhưng đôi khi trước lúc chào đời, linh hồn cũng được cho phép tiếp xúc với nơi trú ngụ tương lai của y, và từ lúc đó trở đi, hai lực này làm việc song song với nhau. Đôi khi, con tinh linh được chỉ thị phải áp đặt một ít số đặc tính lên cơ thể rồi sau đó có thể rút lui ở tuổi khá trẻ và giao lại toàn quyền kiểm soát cơ thể cho linh hồn. Trong những trường hợp khác, khi có những giới hạn thuộc loại cần nhiều thời gian hơn cho sự phát triển của chúng, con tinh linh có thể giữ vị trí của ḿnh cho đến khi cơ thể được bảy tuổi. Các linh hồn đều khác nhau rất lớn về sự quan tâm mà họ dành cho thể xác của ḿnh, v́ có một số th́ lo lắng bay lượn chung quanh chúng ngay từ lúc đầu và bỏ ra rất nhiều công phu về chúng, trong khi một số khác hầu như bỏ mặc chuyện này.

Khi bào thai bị sảy, thông thường đó là v́ không có một linh hồn nào đứng đằng sau nó và do đó không có con tinh linh. Có rất nhiều linh hồn muốn đầu thai và nhiều người trong số họ vẫn c̣n ở giai đoạn tiến hoá rất phôi thai nên họ có thể phù hợp với bất cứ môi trường nào. Họ có quá nhiều bài để học hỏi nên nó không quan trọng lắm là họ bắt đầu với bài học nào, và gần như bất cứ môi trường nào cũng có thể dạy cho họ một điều ǵ mà họ cần biết. Tuy nhiên ở một thời điểm nào đó, đôi khi cũng không có một linh hồn nào có thể lợi dụng được cơ hội đầu thai đặc biệt đó, và trong trường hợp đó, mặc dù cơ thể đă được h́nh thành đến một mức độ nào đó do tư tưởng của người mẹ, nhưng v́ không có một linh hồn nào đến chiếm hữu nó, nó chưa bao giờ thực sự tồn tại.

Trong việc thiết lập một h́nh hài, con tinh linh lấy chất liệu dĩ thái mà nó cần từ bên trong cơ thể của người mẹ. Đó là một nguyên nhân tại sao người mẹ phải thật cẩn thận trong thời gian cơ thể thai nhi đang được h́nh thành. Nếu bà mẹ chỉ cung cấp được những chất liệu tốt nhất và thanh khiết nhất có thể, con tinh linh sẽ bắt buộc chọn một trong các vật liệu đó. Một yếu tố khác có ảnh hưởng rất lớn đến bào thai là tư tưởng của người mẹ trong thời gian này, v́ nó cũng có thể uốn nắn h́nh thù đang chậm chạp phát triển trong bà ta. Một lần nữa, điều này cho chúng ta thấy tại sao tư tưởng của người mẹ trong thời gian này phải đặc biệt thanh khiết và cao cả, tại sao bà phải tránh khỏi tất cả các ảnh hưởng thô bỉ hoặc phiền toái, tại sao bà chỉ nên vây quanh ḿnh với những h́nh thể và màu sắc đẹp nhất và các hoàn cảnh hài ḥa nhất.

Nếu con tinh linh không nhận được một chỉ thị nào về việc phát triển một vài cá tính đặc biệt trên đường nét của cơ thể, như một nét đẹp hoặc nét xấu bất b́nh thường, tư tưởng của người mẹ và những h́nh tư tưởng luôn bay lượn chung quanh bà mới có thể uốn nắn h́nh dáng của cơ thể đang phát triển. Nếu bà thường suy nghĩ về người chồng với một t́nh yêu nồng thắm, đứa bé sẽ có khả năng rất giống cha nó; ngược lại, nếu bà thường hay nh́n h́nh bóng của ḿnh trong gương và nghĩ về bản thân ḿnh nhiều hơn, có lẽ đứa bé đó sẽ nh́n giống bà nhiều hơn. Cũng như thế, nếu trường hợp xảy ra là bà luôn suy nghĩ với một ḷng sùng tín và ngưỡng mộ đối với một người thứ ba nào đó, có lẽ đứa bé sẽ giống người đó - lúc nào cũng giả định rằng con tinh linh không nhận được một chỉ thị nào đặc biệt về vấn đề này. Khi các đứa trẻ lớn lên, cơ thể của chúng sẽ bị ảnh hưởng phần lớn bởi tư tưởng của chúng, và nếu chúng khác rất nhiều với người mẹ, chúng ta thường thấy nhiều sự thay đổi khá lớn về ngoại h́nh, như một đứa trẻ lớn lên lại càng xinh đẹp trong một vài trường hợp và lại xấu đi trong những trường hợp khác theo thời gian. Châm ngôn “Nghĩ sao, ra vậy” rất đúng với cơi trần cũng như các cơi khác, và nếu tư tưởng của một người lúc nào cũng trầm tĩnh và điềm đạm, khuôn mặt của họ nhất định sẽ biểu lộ trạng thái đó.

Đối với một linh hồn rất tiến hoá, các giai đoạn ấu thơ đương nhiên rất buồn chán. Tôi nhớ rằng ông T. Subba Rao quá cố đă từng than phiền rất nhiều về nó khi ông lấy một cơ thể mới. Ông tuyên bố rằng, dù cho ông có làm ǵ đi nữa, ông cũng không thể nào bắt cơ thể nhỏ bé đó ngủ hơn 20 tiếng một ngày, và phần c̣n lại của thời gian, ông phải ngồi bên cạnh nó và nh́n nó cựa quậy và nghe những tiếng kêu la ú ớ của nó, và phải bị đút ăn qua nó bằng những loại đồ ăn nhăo nhẹt và vô vị khác nhau! Đôi khi một người thật tiến hoá có thể quyết định tránh khỏi các điều này bằng cách hỏi một người khác nhường cho họ một cơ thể đă trưởng thành, một sự hy sinh mà bất cứ một đệ tử nào của Chân Sư cũng hoan hỷ làm cho Họ.

Tuy nhiên, phương pháp này có khuyết điểm của nó. Dù thời thơ ấu có nhàm chán bao nhiêu đi nữa, ít nhất theo cách này một người có thể tự lớn lên theo cơ thể của ḿnh, v́ nó gần như là một biểu lộ của y và hoà hợp với tất cả những cá tính riêng biệt nhỏ nhặt của y; nhưng nếu y lấy một cơ thể trưởng thành, y sẽ thấy rằng nó có những tính chất khác biệt của nó, đă được hằn lên thành những thói quen khó thay đổi được. Ở một mức độ nào đó, nó sẽ là một lớp áo không vừa vặn và đ̣i hỏi một thời gian rất lâu để làm cho những rung động của nó ḥa hợp với rung động của y. Một linh hồn xuống đầu thai phải luôn thích nghi với một lô hoàn cảnh mới, nhưng khi y được sinh ra theo cách b́nh thường th́ ít nhất điều này có thể được thực hiện từ từ khi đứa trẻ lớn lên; nhưng khi một người lấy một cơ thể trưởng thành th́ y phải lập tức thích nghi với tất cả các điều kiện mới này, thường là một việc rất khó khăn. Trong trường hợp này, y vẫn c̣n giữ thể vía và thể trí cũ của ḿnh, nhưng dĩ nhiên v́ chúng là đối phần của thể xác cũ của y, chúng phải học thích nghi với một dẫn thể mới. Một lần nữa, nếu h́nh hài đó là một đứa bé th́ nó có thể được thực hiện từ từ, nhưng nếu đó là một h́nh thể của người lớn, nó phải lập tức được thi hành, có nghĩa đó là một sự căng thẳng lớn rất khó chịu.

 

ĐẶC ĐIỂM CÁ NHÂN

Tôi đă nghiên cứu nhiều trường hợp, và tôi nhận thấy rằng đối với một người b́nh thường, dường như có ít sự giống nhau liên tục về ngoại h́nh của một cá nhân từ kiếp này sang kiếp khác; tuy nhiên, tôi cũng biết vài trường hợp có một sự giống nhau cũng như có sự khác nhau rất lớn. V́ thể xác ở một mức độ nào đó là biểu lộ của linh hồn, và nó (linh hồn) vẫn là như thế, phải có một vài trường hợp mà nó sẽ biểu lộ dưới các h́nh thù tương tự; tuy nhiên, các đặc điểm về chủng tộc, gia đ́nh và các phẩm tính khác thường vượt xa xu hướng này. Khi một cá nhân đă tiến hoá đến tŕnh độ dẫn đến sự hợp nhất giữa phàm ngă và chân ngă, phàm ngă sẽ có xu hướng nhận được mọi ấn tượng về các đặc điểm của h́nh thể lộng lẫy bên trong nhân thể, một dẫn thể tương đối là vĩnh hằng.

Khi một người đă là một vị Chân Tiên và tất cả nhân quả của ngài đă được giải quyết, thể xác là thể đại diện gần gũi nhất của h́nh dáng huy hoàng đó. Do đó, các vị Chân Sư lúc nào cũng dễ được nhận ra qua bao kiếp đầu thai. Tôi có để ư rằng một trong số các vị Chân Sư vừa mới đạt được quả vị Chân Tiên nh́n không giống như các Vị khác, Ngài vẫn c̣n giữ một vài nét thô kệch. Tôi chắc chắn rằng nó sẽ thay đổi trong lần đầu thai kế tiếp. Tôi nghĩ rằng cơ thể của các vị Chân Sư sẽ không thay đổi nhiều, thậm chí khi Họ chọn lấy một cơ thể khác và ngay cả một giống dân khác. Tôi đă từng nh́n thấy các mô h́nh của giống dân thứ bảy, chúng thật sự là đẹp lộng lẫy.

H́nh dáng huy hoàng của nhân thể là một bước đến gần với mẫu h́nh của Thượng Đế, và con người sẽ đến gần hơn nữa khi y tiến hoá. H́nh thể loài người có lẽ là mô h́nh của loài tiến hoá cao nhất trong thái dương hệ này. Nó có thay đổi đôi chút trên các bầu hành tinh khác, nhưng nói chung là h́nh thể loài người giống nhau trên đường nét đại cương. Các h́nh thể thuộc về các thái dương hệ khác có thể không giống nó, nhưng chúng tôi không có thông tin ǵ về điểm này.

 

CẦU NỐI

VỚI KIẾN THỨC XƯA

Chúng tôi vẫn chưa biết điều ǵ chắc chắn về các định luật cai quản khả năng ghi lại các ấn tượng về chi tiết của các kiến thức từ kiếp trước lên bộ óc xác thịt của kiếp sau. Những bằng chứng hiện giờ trước mặt chúng ta dường như cho ta thấy rằng những chi tiết nhỏ thường bị lăng quên, nhưng các nguyên tắc lớn lại có vẻ xuất hiện như là một điều hiển nhiên trong tâm trí. Có nhiều người trong số chúng tôi, khi đọc qua một cuốn sách Thông Thiên Học trong kiếp này, đă từng thốt lên rằng: “Đây đúng là những ǵ tôi luôn cảm thấy, nhưng tôi không biết làm sao diễn tả bằng lời!”. Trong một vài trường hợp, gần như họ có rất ít kư ức về quá khứ, nhưng khi giáo lư này vừa mới được tŕnh bày th́ nó lập tức được công nhận là đúng. Bà Besant với thân phận Hypatia chắc chắn đă biết rất nhiều về giáo lư Thông Thiên Học, mặc dù nó không hiện ra rơ ràng trong tâm trí của Bà trong thời kỳ bà đang theo đuổi lối suy nghĩ truyền thống hoặc quyền tự do suy luận trong kiếp này.

Nếu các truyền thuyết công khai trong nhân gian đáng được tin tưởng, thậm chí bản thân Đức Phật, người đă giáng phàm từ các cơi cao hơn với ư định rơ ràng để cứu nhân độ thế, cũng không biết ǵ về nhiệm vụ của Ngài sau khi Ngài nhập vào cơ thể mới của ḿnh, và chỉ hồi phục lại tất cả các kiến thức này sau nhiều năm t́m kiếm chúng. Chắc chắn là Ngài có thể biết từ sớm nếu Ngài chọn như vậy, nhưng Ngài lại không chọn, Ngài chịu phục tùng quy tắc điều khiển chung cho mọi người.

Có lẽ có một cách giải thích khác trong trường hợp của Ngài. Cơ thể được sinh ra bởi Vua Tịnh Phạn và Hoàng Hậu Maya có thể không được trú ngụ bởi Đức Phật trong những năm đầu tiên. Ngài có thể làm việc như Đức Chúa đă làm: Ngài có thể hỏi một trong các vị đồ đệ của Ngài chăm sóc cơ thể đó thế cho Ngài cho đến khi Ngài cần nó, và có thể Ngài chỉ nhập vào nó ở giây phút mà nó ngất xỉu sau sáu năm khổ hạnh đi t́m chân lư. Nếu điều này đúng là như vậy, lư do Thái Tử Tất-Đạt-Đa không nhớ ǵ về tất cả những điều Đức Phật biết trước đó là bởi v́ họ vốn không phải là cùng chung một người. Nhưng trong bất cứ trường hợp nào, chúng ta có thể chắc chắn rằng linh hồn, vốn dĩ là con người thật, luôn nhớ những ǵ y đă học, nhưng không phải lúc nào y cũng có thể gây ấn tượng trên bộ năo xác thịt mới mà không có sự trợ giúp gợi ư từ bên ngoài vào.

May mắn thay cho các môn đồ của chúng ta, dường như nó là một định luật bất biến khi một người đă chấp nhận sự thật về giáo lư huyền bí trong một kiếp th́ họ sẽ luôn được tiếp xúc với nó trong kiếp sau và như vậy hồi sinh kư ức đang ngủ yên của ḿnh. Tôi cho rằng chúng ta có thể nói là cơ hội t́m lại được chân lư là nhân quả của việc chấp nhận nó và thành khẩn cố gắng sống theo nó trong kiếp trước. Tuy nhiên, có khả năng là phần lớn những ǵ chúng ta hiện thời gọi là niềm tin đặc thù của giáo lư Thông Thiên Học sẽ là một kiến thức phổ thông được chấp nhận vào thời điểm khi chúng ta quay lại để tiếp tục công việc của ḿnh ở cơi trần, nên chúng ta có thể sẽ được giáo dục về nó như là một lẽ đương nhiên. Nếu là như vậy, sự khác biệt giữa những người đă học qua nó và những người chưa học sẽ là người đă học qua nó sẽ tiếp nhận nó một cách nhiệt t́nh và tiến bộ nhanh hơn, trong khi đối với người thứ hai, nó chỉ một môn khoa học hiện đại đối với một trí óc hoàn toàn chưa biết ǵ về môn học đó. Trong bất kỳ trường hợp nào, đừng ai cho rằng tất cả những lợi ích của sự học hỏi và công việc nặng nhọc của chúng ta, dù chỉ trong một lúc, có thể bị đánh mất đi.

 

KHOẢNG CÁCH

GIỮA CÁC KIẾP SỐNG

Các môn sinh có một số hiểu lầm cụ thể về khoảng cách trung b́nh trôi qua giữa hai kiếp sống. Dường như chúng tôi đă hiểu lầm về thông tin được đưa ra về chủ đề này trong những ngày đầu tiên của Hội Thông Thiên Học, và những lời tuyên bố đó thậm chí đă được sao chép lại mà không được giải thích cặn kẻ trong những cuốn sách sau đó. Hầu hết các học sinh gần đây đă hiểu rơ không ít th́ nhiều về sự thật của vấn đề này, nhưng theo tôi biết cho đến nay, không có ǵ giống như một bản liệt kê về khoảng cách trung b́nh giữa hai kiếp sống đă được xuất bản cho các tầng lớp linh hồn khác nhau.

Ở cuối chương về cơi trời chân phúc (lúc đó được gọi là devachan) trong tác phẩm đồ sộ Phật Giáo Bí Truyền của ông Sinnett, có một câu tuyên bố là khoảng thời gian giữa cái chết và lần tái sinh kế tiếp khác nhau rất nhiều trong mỗi một trường hợp cá nhân, nhưng việc tái sinh dưới 1500 năm được coi gần như không thể xảy ra, trong khi thời gian nghỉ ngơi ở Devachan để thưởng cho một đời sống tốt lành đôi khi có thể kéo dài rất lâu. Tuyên bố này được đưa ra dựa trên các đoạn từ cùng một số lá thư mà phần c̣n lại của cuốn sách rất thú vị này đă được viết ra, và không ai có nghi ngờ ǵ về việc ông Sinnett đă tường tŕnh lại rất chính xác những ǵ đă được tuyên bố cho ông biết. Một ư kiến tương tự như vậy cũng được đề xuất bởi Bà Blavatsky trong quyển Giáo Lư Bí Truyền (ii 317): “Hăy nhớ rằng, trừ trường hợp của các đứa trẻ và những người mà đời sống bị cắt đứt đột ngột do tai nạn, không có một thực thể tinh thần nào có thể đầu thai trước thời gian của nhiều thế kỷ đă trôi qua.”

Trước đây, chúng tôi đều cho rằng 1500 năm là khoảng cách trung b́nh giữa hai kiếp sống của nhân loại, nhưng các cuộc điều tra sau này đă cho chúng tôi thấy rơ rằng nó không phải chính xác là như vậy. Để cho lời tuyên bố này phù hợp với các dữ kiện được quan sát, nó phải có những giới hạn rất lớn hoặc các điều kiện được mở ra để bao gồm rất rộng. Nếu chỉ giới hạn vào một nhóm nhỏ của những người tiến hóa nhất của nhân loại th́ điều đó gần như là đúng; mặt khác, nếu nó được mở ra để bao gồm không chỉ loài người mà nguyên cả một khối đông thực thể của loài thiên thần, một lần nữa nó có thể đến khá gần với sự thật. Trong trường hợp của một đoạn được trích dẫn từ Giáo Lư Bí Truyền, danh từ thực thể tinh thần có thể được coi như là Bà Blavatsky đang nói về những người rất tiến hoá; nhưng đoạn văn từ Phật Giáo Bí Truyền lại cho chúng ta thấy con số 1500 năm gần như là tối thiểu.

Chúng tôi được cho biết là các lá thư mà dựa trên đó quyển Phật Giáo Bí Truyền được thực hiện đă được viết ra bởi một số các vị đệ tử khác nhau của các Chân Sư dưới sự chỉ đạo chung của Họ; do đó, trong khi nó sẽ có nhiều chỗ để cho những sai sót lẻn vào (như chúng ta biết là chúng đă xảy ra), thật khó giả định rằng người viết không biết ǵ về các dữ kiện mà có thể được nh́n thấy bởi bất cứ ai có thể nhăn thôn để nh́n thấy được quá tŕnh luân hồi. Chúng ta phải nhớ rằng các lá thư đó được viết không phải cho thế giới nói chung mà chỉ cho ông Sinnett và một vài người khác đang học hỏi với ông. Để tuyên bố rằng đó là con số trung b́nh đối với họ (ông Sinnett và bạn hữu) là khá chính xác và hợp lư, và có lẽ đó là việc đă xảy ra, nhưng chúng ta chắc chắn không thể nào chấp nhận nó là một con số trung b́nh cho toàn thể nhân loại hiện thời.

Có lẽ chúng ta không thể nào đạt đến một con số trung b́nh chính xác thật sự bởi v́ để làm được điều này, ít nhất ta phải cần biết con số trong mỗi một trường hợp của các tầng lớp khác nhau của Chân Thần. Chúng ta có thể đưa ra một con số đại khái cho mỗi một tầng lớp, tuy chúng ta phải nhớ rằng thậm chí sẽ có những khác biệt khá lớn đối với cá nhân ở mỗi tầng lớp.

Có ba yếu tố chính cần phải được cân nhắc: (1) tầng lớp mà linh hồn thuộc về, (2) phương pháp mà y đă đạt được cá nhân tính, và (3) tuổi thọ và bản chất của đời sống vừa qua của y. Chúng ta hăy nghiên cứu các tầng lớp khác nhau của nhân loại theo thứ tự của nó, sử dụng danh pháp của Bà Besant trong sơ đồ cho các Chân Thần của Dăy Mặt Trăng trước đây.

Các V Chúa Tể Mt Trăng. Đứng đầu trong danh sách này là những vị Chúa Tể Mặt Trăng - những người đă đạt được tŕnh độ La-Hán ở một thời điểm nào đó trong quá tŕnh tiến hoá của Dăy Mặt Trăng. Đối với nhân loại đó, cũng như với các nhân loại khác, bảy con đường sẽ được mở ra trước mặt họ khi họ đạt được tŕnh độ đă được chỉ định cho dăy của họ, và trong trường hợp này, một trong những con đường đó đă đưa một số các vị Chúa Tể Mặt Trăng đến Dăy Địa Cầu để chỉ đạo trong những giai đoạn đầu của quá tŕnh tiến hoá của nó. Tuy nhiên, tất cả các vị này đă sớm đạt được quả vị Chân Tiên từ lúc đó, và v́ vậy chúng ta không cần tính đến họ khi xem xét chủ đề hiện tại của chúng ta.

Những người hng nhất của dăy Mt Trăng. Tầng lớp kế tiếp là những người hạng nhất của dăy Mặt Trăng, và đây là một tầng lớp rất đông đảo và đa dạng nên chúng ta cần phải thảo luận về họ theo từng tầng lớp phụ như đă được thực hiện trong chương về các Chân Thần từ dăy Mặt Trăng.

Tầng lớp (phụ) thứ nhất và thứ nh́ (1&2). Tầng lớp phụ thứ nhất, như đă được liệt kê, bao gồm những người ngay từ lúc ở dăy mặt trăng đă đặt chân lên đường Đạo. Tầng lớp thứ nh́ bao gồm những người đă cá nhân hoá ở ṿng tuần hoàn thứ tư của dăy mặt trăng. Trong chương này, chúng ta không cần phải cứu xét lại một trong hai tầng lớp này bởi v́ thành viên của họ đă đạt được quả vị Chân Tiên từ lâu và do đó, câu hỏi về luân hồi và các khoảng cách giữa các kiếp đă không c̣n quan trọng đối với họ nữa.

Những người đă cá nhân hoá ở ṿng tuần hoàn thứ năm của dăy Mặt Trăng. Trong số này, những người đă đi trên đường Đạo thường trải qua một chuỗi các kiếp sống liên tục sát nhau nên do đó đối với họ, câu hỏi về khoảng cách giữa các kiếp sống không cần được nêu ra. Tuy nhiên, nếu v́ một lư do nào đó mà họ chưa trải qua một chuỗi những kiếp đầu thai liên tục như vậy, như thường xảy ra sau cuộc điểm đạo, khoảng cách giữa 2 kiếp sống của họ có lẽ là rất lâu - ít nhất khoảng 1500 năm đến 2000 năm, hoặc thậm chí lâu hơn. Mặc dù điều này ít khi xảy ra hơn là các chuỗi đầu thai liên tục, nhưng đôi khi nó có xảy ra, v́ trong các trường hợp mà chúng tôi biết về những người đă vượt qua lần điểm đạo đầu tiên khá lâu trước đây, có một linh hồn đă đầu thai liên tục ở cơi trần gần như không ngừng nghỉ từ lúc đó; trong khi một linh hồn khác đă xa lánh đời sống trần tục đến 2300 năm, nhưng thành quả tiến bộ của họ trên đường Đạo dường như vẫn ngang nhau.

Sự phân chia các giai đoạn của kiếp sống trong một khoảng cách dài như vậy hẳn khác nhau đáng kể trong nhiều trường hợp. Thời gian lưu lại trên cơi trung giới là ngắn, thậm chí linh hồn có thể lướt qua nó một cách rất nhanh và không có ư thức. Hầu hết khoảng thời gian sẽ trôi qua ở cảnh cao nhất của cơi trời chân phúc, và sau khi nó chấm dứt, y sẽ có một phần của đời sống tỉnh thức trong nhân thể trước khi đi xuống đầu thai. Giai đoạn của đời sống linh hồn ở chính cơi của nó chỉ chiếm 1/10 toàn bộ thời gian giữa hai kiếp sống. Tuy nhiên một lần nữa, đây là một vấn đề mà không có hai trường hợp nào giống nhau.

Trong trường hợp của những người đang tiến gần đến đường Đạo, khoảng cách giữa hai kiếp sống của họ nói chung không dài hơn 1200 năm nếu linh hồn đă cá nhân hoá từ từ bằng sự phát triển trí tuệ và do đó sẽ trải nghiệm hạnh phúc ở tốc độ b́nh thường. Tuy nhiên, nếu một linh hồn đă cá nhân hoá đột ngột bằng một cảm xúc vỡ bờ hoặc bằng một ư chí phi thường, y sẽ hưởng thụ niềm phúc lạc đó ở một cường độ mănh liệt hơn, và khoảng cách giữa hai kiếp sống của y sẽ là khoảng 700 năm. Cả hai loại linh hồn này ít có xu hướng ở lại cơi trung giới lâu, đối với họ có lẽ 5 năm là đại diện cho một đời sống tương đối trung b́nh ở cơi trung giới. Ở cuối đời sống ở cơi trời chân phúc, linh hồn sẽ có một giai đoạn sống có ư thức ở chính cơi của y, nhưng khoảng thời gian này sẽ không vượt quá nửa thế kỷ tối đa.

Trong những kiếp sống gần đây hơn của họ, chúng tôi khám phá ra rằng họ có khuynh hướng lấy khoảng cách trung b́nh 1200 năm để đầu thai kế tiếp trong các giống dân phụ khác nhau. Thông thường, chúng ta sẽ thấy họ trải qua hai kiếp sống trong cùng một giống dân phụ, trước nhất là đàn ông và sau đó là đàn bà, hoặc ngược lại.

Định mệnh của mỗi người khác nhau rất nhiều. Một số sẽ trải qua kiếp này đến kiếp khác một cách đều đặn, nhưng không có điều ǵ đặc biệt xảy ra đối với họ. Một số khác lúc nào cũng gặp nhiều rắc rối, hết cú sốc này đến cú sốc khác, nhưng cả hai đều tiến bộ theo đường lối tốt nhất cho họ. Điều thường xảy ra là nếu một người chết sớm, y sẽ tái sinh trong cùng một giống dân phụ, và khi y đă đi qua hai ṿng trong cùng một giống dân phụ, y thường lấy một giới tính khác trong lần hành tŕnh thứ hai. Nói chung, người Ấn độ đại diện cho giống dân phụ đầu tiên của giống dân chính Aryans, người Á-rập giống dân phụ thứ hai, người Parsis (người Ba-tư) giống dân phụ thứ ba, các quốc gia Romance (vùng Nam Mỹ) giống dân phụ thứ tư, và người Teutons (người Âu Châu) giống dân phụ thứ năm. Nếu một người sinh ra ở Pháp, y không cần phải sinh ra ở Ư hoặc Tây Ban Nha, và điều này cũng đúng cho Đức và Anh quốc.

Các học sinh lấy khoảng cách 700 năm để tái sinh dường như có thói quen gắn bó với một giống dân phụ và thường quay lại nó bất cứ lúc nào khi có thể, và họ chỉ thỉnh thoảng đi vào một giống dân phụ khác để phát triển những phẩm tính đặc biệt. Theo quy tắc chung th́ các kiếp đầu thai liên tục vào cùng một giống dân sẽ tăng cường các đặc điểm của nó, nên trạng thái cân bằng được thực hiện bằng cách đầu thai trong nhiều giống dân khác nhau hoặc bằng cách du lịch và sống giữa các giống dân khác nhau. Trong vấn đề này, sở thích riêng của mỗi linh hồn đóng một vai tṛ khá quan trọng. Tôi đă từng đề cập ở một chỗ khác là v́ trong tâm của người Do Thái chấp rằng họ là một chủng tộc ưu tú được Thượng Đế chọn lựa nên họ thường quay lại trong cùng một giống dân, và niềm tự hào về chủng tộc, nếu nó mănh liệt theo một cách bất b́nh thường, có thể hướng dẫn linh hồn tái sinh theo đường lối như thế.

Ngay cả niềm tự hào về gia tộc cũng không phải là không có hậu quả, và tôi đă từng biết về nhiều trường hợp mà khi nó được phát triển một cách bất b́nh thường, nó đă đưa linh hồn quay lại ḍng dơi hậu duệ của y hai hoặc ba lần trước khi y được phóng thích. Khi bắt đầu các cuộc điều tra này, chúng tôi được cho biết rằng có một quy luật chung là một con người thông thường không lấy ít hơn ba và không nhiều hơn là bảy kiếp đầu thai trong cùng một giới phái trước khi chuyển qua một giới phái khác. Mặc dù những cuộc nghiên cứu của chúng tôi đă chứng minh quy tắc chung này một cách khá tốt, chúng cũng cho chúng tôi thấy một số trường hợp ngoại lệ. Có một số người đă từng lấy một loạt kiếp đầu thai rất lâu trong một giới phái trước khi chuyển qua giới phái kia, và một số khác trong một khoảng thời gian lại luân phiên thay đổi cơ thể đàn ông và đàn bà với nhau; nhưng hầu hết số này là các linh hồn này đă tiến bộ hơn trung b́nh và do đó có lẽ được đối đăi đặc biệt.

Đương nhiên không có một sự chần chừ nào trong việc thay đổi quy tắc chung để cho hợp lư với một số trường hợp đặc biệt, khi nó được thấy là tốt v́ bất cứ lư do ǵ. Mặc dù các định luật cai quản sự luân hồi được cho phép hoạt động một cách máy móc với phần đông các linh hồn c̣n kém tiến hoá, nhưng có vẻ rơ ràng từ các trường hợp được quan sát là ngay khi một linh hồn đă đạt được một chút tiến bộ về bất cứ điều ǵ và do đó có nhiều triển vọng để tiến hoá, một sự uyển chuyển đáng kể được đưa vào trong sự sắp xếp và trong các giới hạn nhất định nào đó, y được sinh ra trong một giới tính, một giống dân và các điều kiện thích hợp tốt nhất hầu mang lại cho y một cơ hội cải thiện những khuyết điểm trong cá tính của y.

Trong trường hợp của những người đă phát triển rất cao về nghệ thuật, khoa học hoặc tôn giáo, khoảng cách giữa hai kiếp sống thông thường cũng giống nhau, mặc dù cách phân chia các giai đoạn có thể khác nhau một chút. Xu hướng nói chung là thời gian cư ngụ ở cơi hạ trí sẽ lâu hơn và một đời sống trong nhân thể ngắn hơn, nhất là trong trường hợp của những người thiên về tôn giáo và nghệ thuật. Một nhà hiền triết vĩ đại đôi khi sẽ kéo dài cuộc sống của y ở cơi trời chân phúc rất lâu. Tôi nhớ rằng Bà Blavatsky ở đâu đó đă từng tuyên bố rằng ông Pluto sẽ có thể xa lánh cơi trần ít nhất mười ngàn năm, mặc dù tôi cho rằng đây là một trường hợp hoàn toàn ngoại lệ.

Những người đă cá nhân hoá ở ṿng tuần hoàn thứ sáu của dăy mặt trăng - (ví dụ tiêu biểu là các nhà quư tộc miền quê và các nhà chuyên gia).

Khoảng cách của họ khác nhau rất nhiều, từ 600 năm cho đến 1,000 năm, trong đó có lẽ 20 - 25 năm có thể được trải qua ở cơi trung giới và phần c̣n lại ở các giai đoạn khác nhau ở cơi thượng giới. Có lẽ linh hồn họ có một chút ư thức ở cơi của nó, nhưng chỉ là một chút.

Những người đă cá nhân hoá ở ṿng tuần hoàn thứ bảy của dăy mặt trăng - Tầng lớp trung lưu cao cấp.

Tầng lớp này nói chung có một khoảng cách giữa các kiếp sống có lẽ khoảng 500 năm, trong đó khoảng 25 năm được sống ở cơi trung giới và phần c̣n lại ở cơi thượng giới. Trong trường hợp của họ th́ không có một đời sống tỉnh thức nào trong nhân thể, mặc dù dĩ nhiên cũng như mọi người khác, họ cũng có một chớp loé lên về kư ức và một cái nh́n tiên tri lúc nào cũng được ban cho mỗi linh hồn khi y chạm đến chính cơi của ḿnh giữa hai kiếp sống.

Hng người thứ nh́ của dăy Mt Trăng - Tầng lớp tư sản

Khoảng cách giữa hai kiếp sống thông thường là 200 đến 300 năm, trong đó khoảng 40 năm được trải qua ở cơi trung giới và phần c̣n lại ở những cảnh thấp hơn của cơi thượng giới.

Trong tầng lớp này cũng như mọi tầng lớp khác, họ có thể cá nhân hoá qua đường lối trí tuệ hoặc t́nh cảm, và họ cũng có một khoảng cách tương xứng khác nhau giữa hai kiếp đầu thai liên tiếp, nhưng trong tất cả các tầng lớp thấp hơn này, sự khác biệt về khoảng cách giữa các kiếp sống dựa trên phương pháp cá nhân hoá là ít hơn nhiều trên tỷ lệ so với các tầng lớp cao hơn.

Người - Thú của dăy Mt Trăng

Những người tiên phong của ṿng tuần hoàn thứ nhất của dăy địa cầu hiện thời được đại diện bởi các nghệ nhân (công nhân có tay nghề giỏi) của thế giới. Những người như vậy thường có một khoảng cách giữa các kiếp sống từ 100 năm đến 200 năm, trong đó khoảng 40 năm được sống ở tầng giữa của cơi trung giới, và phần c̣n lại ở một vài cảnh thấp hơn của cơi thượng giới.

Con thú hng nhất của dăy mt trăng - Tầng lớp lao động kém tay nghề hiện nay

Khoảng cách giữa kiếp sống của họ thay đổi từ 60 đến 100 năm, trong đó từ 40 đến 45 năm được trải qua ở cảnh thấp hơn của cơi trung giới, và phần c̣n lại ở cảnh thấp nhất của cơi thượng giới.

Con thú hng nh́ của dăy mt trăng - Những kẻ bợm rượu và thất nghiệp.

Những người như vậy thường vắng bóng trên cơi Trần khoảng 40 đến 50 năm, khi họ dùng toàn bộ thời gian đó ở cơi trung giới, thường là ở cảnh kế cảnh thấp nhất.

Con thú hng ba của dăy mt trăng - Cặn bă của nhân loại.

Khoảng cách giữa các kiếp của họ thông thường là khoảng 5 năm ở cảnh thấp nhất của cơi trung giới, trừ khi họ bị trói buộc vào cơi trần v́ trọng tội, một việc cũng thường hay xảy ra.

Trong tất cả các trường hợp được nhắc đến bên trên, có một sự khác biệt cụ thể được tạo ra giữa các phương pháp cá nhân hoá, nhưng tỷ lệ khác nhau của nó ít hơn nhiều trong các tầng lớp thấp hơn. Tuy nhiên, nói chung những người đă cá nhân hoá qua trí khôn luôn có khuynh hướng lấy một khoảng thời gian lâu hơn giữa hai khoảng cách đă được nhắc đến, trong khi những người cá nhân hoá theo đường lối khác thường lấy một khoảng cách ngắn hơn.

Yếu tố thứ ba có ảnh hưởng lớn trên khoảng cách giải lao là tuổi thọ và bản chất của đời sống cá nhân. Đương nhiên một linh hồn khi ĺa bỏ thể xác vào tuổi thơ ấu chưa có cơ hội để tạo ra một lực tinh thần đủ mạnh để giữ y ở các cơi cao hơn trong khoảng thời gian dài thuần tuư cho tầng cấp của y. V́ vậy nói chung, một người chết sớm sẽ có một khoảng cách ngắn hơn là hàng xóm của y được sống đến tuổi già. Lại nữa nói chung, một người chết trẻ sẽ trải qua phần lớn thời gian ở cơi trung giới bởi v́ phần đông những t́nh cảm mănh liệt cần phải được giải quyết ở cơi trung giới thường được tạo ra trong phần đầu của kiếp sống trần tục, trong khi những năng lượng tinh thần trổ kết quả của nó nơi cơi thượng giới thường chỉ xảy ra trong đoạn cuối hoặc gần cuối thời gian kiếp sống ở cơi trần.

Cá tánh của một người trong đời sống thế gian là một yếu tố rất quan trọng. Một số người tuy sống lâu nhưng lại ít tạo ra một thứ ǵ giống như là lực lượng tinh thần, và điều này đương nhiên sẽ thu ngắn lại khoảng cách giữa các kiếp sống của họ và giảm nó xuống thấp hơn là thông thường cho tầng lớp của họ. Cũng có thể trong trường hợp như vậy, một tỷ lệ đáng kể của khoảng thời gian giải lao này sẽ được trải qua ở cơi trung giới. V́ vậy, các con số trung b́nh được đưa ra chỉ là những ước lượng trung b́nh, và người ta phải hiểu rằng có một phạm vi biến đổi khá lớn ở hai bên con số trung b́nh đó, nên các tầng lớp khác nhau có thể chồng chéo lên nhau ở mức độ đáng kể.

Gần đây, chúng tôi mới hiểu được tầm quan trọng của sự ràng buộc t́nh cảm mănh liệt trong vấn đề này. Từ sự nghiên cứu của chúng tôi về các kiếp trước, chúng tôi thấy rơ ràng là các linh hồn thường có sự kết nối chặt chẽ với nhau trong một gia đ́nh hay một nhóm, và mối liên hệ này nói chung thường làm cân bằng các khoảng cách giữa các kiếp sống của những thành viên trong nhóm. Rơ ràng nó được coi là điều cần thiết để chuẩn bị cho họ làm việc trong tương lai với nhau qua mối quan hệ liên tiếp trong quá tŕnh tiến hoá của họ, và nó được biểu lộ bằng cách là các khoảng cách mà lẽ ra phải là ngắn hơn hoặc dài hơn đă được giải quyết hầu toàn bộ cả nhóm được đem vào đầu thai với nhau, không chỉ một lần mà rất nhiều lần.

Điều này đương nhiên đ̣i hỏi một sự gia tăng hoặc suy giảm về tốc độ mà lực lượng tinh thần được tiêu xài, và rơ ràng điều này là một vấn đề được kiểm soát rất cẩn thận bởi những Vị có thẩm quyền điều khiển quá tŕnh tiến hoá. Mặc dù chúng tôi chưa khám phá ra được chính xác quy luật nào cai quản nó, nhưng chắc chắn khi chúng ta khám phá ra nó, chúng ta sẽ thấy rằng nó làm việc một cách tự động để đạt được một kết quả tối đa mà không đem lại một sự bất công ǵ cho bất cứ cá nhân nào có liên quan trong đó.

Dường như có một loại học sinh lúc nào cũng muốn t́m ra cho được một sự bất công nào đó trong sự hoạt động của guồng máy tiến hoá; nhưng những người đă bỏ ra nhiều năm nghiên cứu các định luật thiên nhiên ngày càng biết chắc rằng sự bất công là một điều không thể xảy ra khi họ tiếp tục nghiên cứu, và nếu có bất cứ một trường hợp nào mà chúng ta nghĩ rằng ḿnh phát hiện ra nó, đó chỉ là v́ kiến thức của chúng ta c̣n chưa hoàn hảo. Những người đă điều tra những bí ẩn của thiên nhiên rất sâu chính là những người đă xác định một cách chắc chắn rằng VỊ làm ra tất cả mọi thứ này đều làm chúng rất hoàn mỹ.

 

CHƯƠNG III

LUẬT NHÂN QUẢ

 

LUẬT CÂN BẰNG

Khi chúng ta nghiên cứu đời sống của một người, chúng ta phải tính đến 3 lực chính yếu, tất cả đều tương tác và hạn chế lẫn nhau: (1) áp lực đều đặn của luật tiến hoá, (2) luật nhân quả mà chúng ta gọi là karma (nghiệp lực), và (3) ư chí tự do của con người. Như chúng ta đă thấy, tác động của lực tiến hoá không quan tâm đến hạnh phúc hay đau khổ của một cá nhân mà chỉ quan tâm đến sự tiến bộ của y, hoặc đúng hơn là cơ hội để y tiến bộ. Người ta có thể nói rằng nó hoàn toàn không để tâm đến việc liệu con người có hạnh phúc hay không, và đôi khi nó ép y vào trong một hoàn cảnh này hoặc hoàn cảnh kia, dựa trên sự tính toán tốt nhất để mang lại cho y cơ hội phát triển một đức hạnh cụ thể nào đó mà y hiện đang mài dũa. Nghiệp lực xuất hiện như là một biểu lộ của hành động từ ư chí tự do của con người trong quá khứ. Y đă tích lũy nhiều năng lực để gia tăng hoặc giới hạn cơ hội của lực tiến hoá trong hoạt động của nó. Thêm vào đó, việc y sử dụng ư chí tự do của ḿnh như thế nào trong hiện tại là yếu tố thứ ba.

Lư thuyết của luật nhân quả giải thích rằng sự tiến bộ và một đời sống tốt đẹp là kết quả của hành động tốt, nhưng đừng bao giờ nhầm lẫn ư nghĩa chính xác của hành động tốt và đời sống tốt là như thế nào. Mục đích của toàn bộ kế hoạch, như nó có liên quan đến chúng ta, là sự tiến hoá của nhân loại; do đó, người hành động tốt nhất là người biết giúp đỡ cho sự tiến hoá của người khác cũng như cho bản thân ḿnh. Một người làm được việc này trong khả năng và cơ hội tốt nhất mà y có thể làm trong một kiếp chắc chắn sẽ có được nhiều quyền năng và cơ hội hơn trong kiếp sau. Những điều này có thể đi chung với tài phú và quyền lực, v́ sở hữu những thứ này thường ban những cơ hội cần thiết, nhưng chúng không phải là phần cần thiết của luật nhân quả và đây là một điều thật quan trọng để chúng ta ghi nhớ, rằng kết quả của việc làm hữu ích luôn là cơ hội mang đến nhiều khả năng phục vụ lớn và rộng răi hơn, nên chúng ta không nên coi những thứ đôi khi đi chung với cơ hội đó là quà thưởng cho việc làm trong kiếp trước.

Người ta thường tự động tránh dùng những từ như khen thưởng và trừng phạt bởi v́ chúng dường như ám chỉ một sự tồn tại của một thực thể vô trách nhiệm đằng sau bối cảnh, ban bố thưởng phạt tùy ư. Chúng ta sẽ có một ư tưởng chân thật hơn về cách thức hoạt động của luật nhân quả nếu chúng ta nghĩ về nó như là một sự điều chỉnh cần thiết của trạng thái cân bằng đă bị xáo trộn bởi hành động của chúng ta - như một thứ minh hoạ cho luật tác động và phản ứng lúc nào cũng phải cân xứng với nhau. Nó cũng sẽ giúp đỡ rất nhiều cho suy nghĩ của chúng ta nếu chúng ta cố gắng có một cái nh́n rộng răi hơn về nó, từ quan điểm của những người điều hành luật lệ của nó thay v́ từ quan điểm của chúng ta.

Mặc dù luật pháp sớm hay muộn chắc chắn phải mang đến cho mỗi người kết quả của chính hành động của họ, nó không cần phải vội vă tức th́. Trong những dự định của vĩnh cửu lúc nào cũng có đủ th́ giờ, và mục tiêu chính yếu là sự tiến hoá của nhân loại. V́ vậy, người chứng tỏ ḿnh là một dụng cụ sẵn sàng và hữu dụng cho việc thúc đẩy sự tiến hoá luôn nhận được “quà thưởng” là cơ hội để giúp thêm cho sự tiến hoá, và như vậy khi làm tốt cho người khác, họ đang làm những điều tốt nhất cho ḿnh. Dĩ nhiên, nếu động cơ để họ hành động như vậy là v́ sự tiến hoá của bản thân, chính sự ích kỷ của tư tưởng đó sẽ phá hỏng hành động và thu hẹp lại kết quả của nó; nhưng nếu họ thật sự quên ḿnh và cống hiến năng lực của họ vào mục tiêu duy nhất là hỗ trợ cho công việc vĩ đại, ảnh hưởng lên tương lai của họ chắc chắn sẽ được như đă định.

Một sự phản đối dứt khoát phải được đề ra ít nhất một lần để chống lại giả thuyết cho rằng sự đau khổ là điều kiện cần thiết cho sự tiến bộ về mặt tinh thần. Tập thể dục là điều kiện để có một thể lực mạnh khoẻ, nhưng nó không nhất thiết phải là một sự tập dợt đau đớn; hăy đi bộ hàng ngày nếu bạn thích, một người không cần phải tự hành hạ ḿnh trên máy chạy bộ để phát triển các cơ bắp ở chân. Để có sự tiến bộ tinh thần, con người phải phát triển đức hạnh, ḷng vị tha, tính tử tế - có nghĩa là, y phải học sống ḥa hợp theo quy luật vĩ đại của vũ trụ. Nếu y tự nguyện làm điều này, không có đau khổ ǵ có thể đến với y từ sự cảm thông với người khác.

Cho dù hiện giờ phần đông nhân loại đều từ chối làm điều này, và khi họ chống đối với luật cao cả th́ đau khổ sẽ theo sau và kết quả cuối cùng của những trải nghiệm như vậy sẽ thuyết phục họ rằng con đường của tội lỗi và ích kỷ là con đường dại dột. Trong những trường hợp như vậy, đúng là đau khổ sẽ đem đến tiến bộ theo nghĩa đó. Tuy nhiên, chỉ v́ chúng ta cố t́nh chống lại luật nhân quả và do đó tự chuốc lấy đau khổ cho chính ḿnh, chúng ta thật sự không có quyền phỉ báng quy luật vĩ đại của vũ trụ bằng cách nói rằng nó đă sắp xếp sự việc tồi tệ đến nỗi không có một sự tiến bộ nào có thể đạt được mà không có sự khổ đau. Thực tế là nếu con người muốn, y có thể tiến bộ nhanh hơn nhiều mà không cần phải đau khổ.

Tuy nhiên, chúng ta phải nhớ rằng bất cứ ai đă nhận ra được mục đích huy hoàng nằm ở trước mặt chúng ta th́ họ sẽ không thể nào hạnh phúc hoàn toàn cho đến khi họ đạt được mục đích đó, và những khuyết điểm trong bản thân họ sẽ luôn là nguồn gốc của sự bất măn. Bây giờ, ngay cả sự bất măn cũng là một h́nh thức khác của sự đau khổ và không ai có thể hy vọng được giải thoát cho đến khi nào các t́ vết đó đă được tẩy sạch. “Thượng Đế ơi, Ngài đă tạo chúng con ra cho Ngài, và trái tim của chúng con sẽ măi bất an cho đến khi nào chúng được yên nghỉ trong Ngài.”

Liệu chúng ta có cảm thấy an ủi hay không khi biết rằng mọi khổ đau mà con người phải chịu đựng đều là xứng đáng là một vấn đề về quan niệm, nhưng nó không thay đổi được một sự thật chắc chắn rằng trừ phi thật sự xứng đáng, đau khổ không thể nào đến với chúng ta. Thật đáng tiếc khi có quá nhiều người ôm một thái độ hết sức phi lư và trẻ con rằng bất cứ một ư kiến ǵ không đồng điệu với những định kiến môn phái đặc thù của họ đều không thể nào đúng. Những người thiếu hiểu biết thường nói rằng: “Những lư thuyết Thông Thiên Học về nhân quả đối với tôi dường như không thoải mái bằng ư tưởng của đạo Công Giáo về sự tha thứ mọi tội lỗi,” hoặc “thế giới thiên đàng của Thông Thiên Học không có vẻ thực và đẹp như của người Công Giáo, v́ thế tôi sẽ không tin vào nó.”

Rơ ràng là những người này, những kẻ đáng tội nghiệp, nghĩ rằng những thứ ǵ họ thích và không thích là đủ để thay đổi các định luật trong vũ trụ, và những ǵ họ không chấp nhận th́ không thể nào tồn tại được trên bất cứ cơi nào. Tuy nhiên, chúng tôi đang tham dự vào việc nghiên cứu các chân lư của sự hiện hữu, vốn không thể nào bị sửa đổi bởi v́ ông này hay bà nọ muốn tin rằng chúng phải khác đi với thực tế. Nếu bất cứ ai cũng có thể là một nạn nhân vô tội th́ sẽ không có điều ǵ chắc chắn về sự vận hành của luật nhân quả ở bất cứ nơi đâu trong vũ trụ, và điều này c̣n đáng sợ hơn đối với chúng ta so với việc phải giải quyết hậu quả của bất kỳ số lượng tội lỗi nào mà ta đă vi phạm trong kiếp trước. Không ai có thể nhấn mạnh quá mức rằng luật nhân quả không phải là một sự trả thù cay cú của một vị thần linh tức giận nào đó, mà nó chỉ đơn giản là kết quả tự nhiên và tất yếu theo sau nguyên nhân của nó, tuân thủ theo hoạt động của định luật vũ trụ.

Mỗi cá nhân đều phải thanh toán tất cả các món nợ mà y đă tạo ra, và một sự công bằng tuyệt đối nhất định sẽ được thi hành với mỗi cá nhân, nhưng không phải chỉ v́ mục đích này mà một nhóm linh hồn khổng lồ phải thường xuyên gặp gỡ nhau trong các kiếp đầu thai liên tiếp. Nếu một người thúc đẩy hoặc cản trở sự tiến hoá của một người khác một cách nghiêm trọng, nếu y làm bất cứ một điều ǵ để gây ra một kết quả rơ rệt hoặc lâu dài trên người kia, khả năng chắc chắn là hai người sẽ phải gặp nhau một lần nữa để món nợ đó có thể được điều chỉnh. Rơ ràng là điều này có thể được thực hiện theo nhiều cách khác nhau.

Một người sát hại một người khác đôi khi đến lượt y cũng có thể bị giết trong một kiếp khác, nhưng y có thể huỷ bỏ nghiệp quả này một cách thoả đáng hơn nếu trong kiếp tới, y t́nh cờ có cơ hội để cứu nạn nhân cũ của ḿnh bằng cái giá của chính mạng sống y. Dường như đôi khi y có thể trả món nợ đó mà không cần phải mất đi tính mạng của chính ḿnh, v́ theo nhiều đường dây của các kiếp sống đă được điều tra, chúng tôi đă t́m thấy được ít nhất một trường hợp mà kẻ sát nhân hiển nhiên đă chuộc hết tội lỗi của ḿnh bằng cách nhẫn nại cống hiến hết cuộc đời sau của y để phục vụ cho người mà y đă sát hại trong kiếp trước.

Có rất nhiều nghiệp không quan trọng dường như được gộp chung vào một cái có thể được mô tả là một kho nghiệp tổng quát. Một cậu học tṛ nghịch ngợm nhéo người bạn cùng lớp của ḿnh chắc chắn sẽ không phải gặp lại người đó một ngàn năm sau dưới một bầu trời khác để bị nhéo lại bởi người đó, mặc dù ta không cần nghi ngờ rằng thậm chí trong cả chuyện nhỏ nhặt đó, một sự công bằng hoàn mỹ sẽ được thực hiện đối với cả hai. Khi chúng ta trải qua một kiếp sống, chúng ta luôn rải những hành động tử tế nhỏ nhặt đến những người mà chúng ta gặp; nhiều khi chúng ta cũng gây ra những tổn thương nhỏ nhặt về thân, khẩu, ư đối với họ một cách bất cẩn và thường là vô ư thức. Mỗi điều này đều mang lại quả báo tốt hay xấu cho chúng ta, và mặc dù chúng ta không biết, chúng ta cũng là những nhân viên của luật nhân quả trong chính những hành động đó. Những điều tử tế nhỏ nhặt mà chúng ta làm sẽ là một thất bại nếu người nhận chúng không xứng đáng với sự giúp đỡ nhiều như thế. Nạn nhân của một sự coi thường vô ư thức sẽ không để ư đến nó nếu như không có ǵ trong quá khứ của y xứng đáng với một quả báo nào như vậy.

Thật không phải dễ dàng để vạch ra ranh giới giữa hai loại nghiệp lực: (1) loại cần phải được điều chỉnh bởi một cá nhân, và (2) loại đi vào nghiệp tổng quát. Chắc chắn là bất cứ một điều ǵ có ảnh hưởng nghiêm trọng đến người khác phải thuộc về loại thứ nhất, và những rắc rối nhỏ nhặt trong cuộc sống thuộc về loại thứ hai, nhưng chúng ta hiện thời không có cách nào biết được chính xác một hành động phải tạo ra ảnh hưởng nhiều cỡ nào để có thể được xếp vào loại thứ nhất.

Chúng ta phải nhớ rằng có một số nghiệp lớn và quan trọng nhất mà không bao giờ có thể được thanh toán theo tư cách cá nhân. Qua tất cả các kiếp sống của chúng ta, trong quá khứ và vị lai, không có lợi ích nào lớn hơn lợi ích mà các vị Chân Sư đă ban cho chúng ta, đó là cơ hội được tiếp xúc với giáo lư Thông Thiên Học; tuy nhiên, đối với cá nhân các Ngài, chúng ta hoàn toàn không thể nào hoàn trả được món nợ này, v́ các Ngài đă vượt xa nhu cầu của bất cứ điều ǵ mà chúng ta có thể làm. Tuy nhiên, ngay cả món nợ tuyệt vời này cần phải được giải quyết cũng như tất cả những phần c̣n lại, và cách duy nhất mà chúng ta có thể trả ơn là truyền bá kiến thức này cho người khác. V́ vậy, chúng ta thấy rằng đây là một loại nghiệp có thể được cho rằng sẽ đi vào nghiệp tổng quát, mặc dù nó hoàn toàn không đúng theo nghĩa trước.

Có người hỏi: “Nếu nghiệp quả của một người là mắc bệnh ban đỏ (scarlet-fever), nó sẽ xảy ra bằng cách nào?”

Theo ư của người đặt ra câu hỏi, tôi không nghĩ rằng bệnh ban đỏ có bao giờ thật sự là nghiệp của một người. Trong một kiếp nào đó, y mang nghiệp phải chịu một số đau đớn về thể chất như là hậu quả của hành động trong các kiếp trước của y. Nếu vi khuẩn bệnh ban đỏ xảy ra ngay lúc y ở trong t́nh trạng dễ bị nhiễm, nó có thể được cho phép nhập vào y, và phần của món nợ đau đớn đó có thể được giải quyết theo cách này; nhưng nếu con vi khuẩn đó không có hiện diện ngay lúc đó, một loại khác thuộc về bệnh dịch tả hoặc lao phổi cũng có thể làm được như vậy, hoặc thay v́ một bệnh dịch th́ có thể là một tai nạn găy tay hay găy chân xảy ra do một vỏ cam nằm trên lề đường hoặc do một chiếc xe hơi đi qua.

Tôi biết có những cuốn sách ghi xuống rất rơ ràng về chính xác loại quả báo nào sẽ xảy ra sau một hành động cụ thể - chẳng hạn như, nếu có một người thô lỗ với cha ḿnh trong một kiếp th́ y sẽ bị què ở chân phải khi đầu thai trong kiếp tới, trong khi nếu đó là người mẹ mà y nặng lời th́ chân trái của y sẽ bị ảnh hưởng, v.v… Nhưng trong tất cả các kiếp sống mà chúng tôi đă kiểm tra để nghiên cứu về hoạt động của luật nhân quả, chúng tôi đă không t́m thấy một sự cứng ngắc nào như vậy. Ngược lại, chúng tôi lại có một ấn tượng đặc biệt về sự linh hoạt tuyệt vời của luật nhân quả cũng như khả năng nhắm đích chính xác của nó. Một người bằng bất cứ cách nào cũng không thể tránh khỏi một tấc nhẹ như lông hồng của sự đau khổ đă được định sẵn cho y, mặc dù y thường có thể tránh nó theo một cách này chỉ để thấy nó giáng xuống y một cách rốt ráo trong một h́nh thức khác, từ một phía mà y không thể nào ngờ được.

Cũng như người ta có thể trả món nợ mười đồng tiền Anh bằng một tờ giấy tiền, hai tờ giấy tiền thuộc đơn vị nhỏ hơn, hoặc vàng hay bạc, hoặc thậm chí bằng một túi tiền đầy đồng kẽm. Một số nghiệp quả cũng có thể đến bằng một cú đánh trời giáng khủng khiếp, một số cú sốc khác nhau liên tục ít nghiêm trọng hơn, hoặc thậm chí bằng một chuỗi dài các phiền phức tương đối nhỏ nhặt khác nhau, nhưng trong bất cứ trường hợp nào đi nữa, toàn bộ món nợ phải được thanh toán.

Một tội giống nhau, bị vi phạm trong cùng một trường hợp bởi hai người rất giống nhau, phải tạo ra cùng một cường độ đau khổ như nhau, nhưng h́nh thức đau khổ th́ gần như vô hạn tùy theo hoàn cảnh của từng trường hợp. Hăy lấy một trong những khuyết điểm phổ biến nhất làm thí dụ và suy nghĩ về các hậu quả có thể xảy ra từ sự ích kỷ. Đây chủ yếu là một thái độ hoặc một trạng thái tâm trí, nên chúng ta phải t́m kiếm kết quả tức th́ của nó ở cơi trí. Nó chắc chắn sẽ tăng cường cái biểu lộ thấp hèn (phàm ngă) bằng sự thiệt tḥi của cái cao thượng hơn (chân ngă), và do đó một trong những hậu quả của nó chắc chắn sẽ là sự củng cố cái phàm ngă thấp kém đó để cho tính ích kỷ sẽ có xu hướng tái sinh trong một h́nh thức trầm trọng hơn và sẽ tiếp tục phát triển một cách mạnh mẽ hơn.

Cứ như vậy th́ càng nhiều sự sống cao hơn sẽ bị mất đi trong mỗi kiếp do bị vướng vào cái thấp hơn (phàm ngă), và sự cố chấp vào cái lỗi này sẽ là một trở ngại bóp chết sự tiến bộ, bởi v́ h́nh phạt nặng nề nhất của tạo hoá lúc nào cũng là việc tước đi cơ hội tiến hoá, cũng như quà thưởng cao nhất của Ngài là cung cấp một cơ hội để tiến hoá. Vậy th́ ở đây chúng ta có một cái nh́n thoáng qua về cách mà tính ích kỷ có thể tự chuốc lấy kết quả tồi tệ nhất của nó, trong việc làm cho tâm trí của con người cứng ngắc đến độ y trở thành vô cảm đối với tất cả những ảnh hưởng tốt đẹp và không thể tiến hoá hơn nữa cho đến khi y chế phục được nó.

Quả báo cũng hiện ra ở cơi trần do tất cả những hành vi bất công và bất nhân mà con người thực hiện chỉ v́ tính ích kỷ, nhưng h́nh phạt tồi tệ nhất mà chúng có thể mang đến cho y thật không đáng kể và sẽ tan biến bên cạnh ảnh hưởng của nó trên trạng thái tâm trí của y. Một kết quả khả dĩ của nó là y có thể bị lôi cuốn bởi sự đồng cảm vào trong xă hội của những kẻ ích kỷ, và qua sự chịu đựng tật xấu này ở người khác mà y có thể hiểu được sự ghê tởm của tật xấu đó trong chính bản thân ḿnh. Tuy nhiên, các cách thức tác động của luật nhân quả là vô tận, và chúng ta sẽ lầm nếu chúng ta nghĩ rằng nó bị giới hạn vào một đường lối hành động duy nhất mà chúng ta cho rằng nó phải được thi hành do sự thiếu hiểu biết của chúng ta.

Hầu hết sự đau khổ của con người là từ cái mà Ông Sinnett gọi là “nghiệp tức th́” - có nghĩa là, nó không phải là do kết quả của những hành động trong tiền kiếp và quả thực không đáng để xảy ra. Tuy nhiên, con người vẫn hành động một cách dại dột bất chấp bao nhiêu tấm gương trước mặt và lời khuyên miễn phí được đưa đến cho y, và sự ngu xuẩn của y thật không thể khắc phục được, quá ngoan cố nên y thường tự chuốc lấy nhiều phiền năo mà nguyên do thật quá rơ ràng và dễ tránh khỏi. Tôi không nghĩ rằng tôi quá trớn khi nói rằng hết 9/10 sự đau khổ của một người b́nh thường là hoàn toàn không cần thiết, bởi v́ nó không phải là kết quả của một kiếp xa xưa, mà chỉ là hậu quả của một hành động sai lầm hoặc một thái độ ngu xuẩn trong kiếp sống hiện tại.

Một điểm khác cần được cân nhắc là những tính toán của con người thường bị thất bại về việc phân biệt giữa các kết quả tốt và xấu. Người b́nh thường coi cái chết như là một điều xấu nhất có thể xảy ra cho y và bạn của y, nhưng trong nhiều trường hợp, luật nhân quả ban nó như là một phần thưởng. Quả thật, cái chết thường ít khi là một điều xấu hoặc là một h́nh phạt, mà chỉ đơn giản là một sự kiện - một nước cờ bắt buộc không thể tránh khỏi vào những thời điểm nhất định, nhưng lúc nào cũng sẵn sàng là một giải pháp tạm thời khá tốt khi bị kẹt vào một hoàn cảnh nan giải. Nó ít khi là một vấn đề quan trọng như người ta thường gán cho nó.

Nếu chúng ta có thể h́nh dung được hai linh hồn vừa mới thành h́nh đứng cạnh bên nhau, họ rất bán khai và không có một nghiệp quả ǵ cả, và một trong hai người họ hạ sát người kia, hoặc có thể hành động theo một cách nào đó đối với người kia, một kết quả sẽ được tạo ra mà trên nguyên tắc được coi là không công bằng. Tôi cho rằng một hoàn cảnh như vậy thật khó xảy ra, v́ tôi nghĩ rằng một con thú vừa cá nhân hoá cũng có mang một nhân quả ǵ đó vào trong kiếp người đầu tiên của nó.

Nhiều con thú có khái niệm cái ǵ là đúng và sai, hoặc ít nhất có sự hiểu biết về một vài điều nên làm và những điều khác không nên làm, và chúng biết xấu hổ khi chúng đă làm một điều ǵ mà chúng nghĩ là sai. Trong nhiều trường hợp, chúng có quyền chọn lựa; chúng có thể tập (hoặc không tập) kiên nhẫn và chịu khó, và lúc nào quyền chọn lựa cũng đi đôi với trách nhiệm và do đó nghiệp lực. Một con thú hung dữ sẽ trở thành một người độc ác và hung dữ, một con thú hiền lành và nhẫn nại sẽ trở thành một người hiền lành và tử tế, bất chấp y có thô lổ đến cỡ nào. Sự khác biệt nghiêm trọng này rơ ràng là kết quả của nghiệp lực đă được tạo ra từ khi c̣n trong loài thú. Những nghiệp lực như thế phải thuộc về hồn-khóm nhưng chúng được phân chia đồng đều trong đó, nên khi một mảnh nhỏ tách rời ra để trở thành một cá nhân, nó sẽ mang theo với nó một phần của nghiệp lực đó.

Có thể nói điều này chỉ làm khó chúng ta phải lùi thêm chút nữa, bởi v́ ở một điểm nào đó phải là một bước khởi đầu của nghiệp lực và trên nguyên tắc, chúng ta phải coi kết quả của bước đầu tiên đó là không công bằng.

Cũng không cần thiết phải như vậy. Chúng ta hăy giả sử bước đầu tiên đó là một cuộc chiến giữa hai con thú. Ư muốn sát hại hoặc đả thương đối phương đều hiện diện trong cả hai, nghiệp lực của ư muốn đó sẽ được giải toả tức th́ bởi cái chết trong trường hợp của kẻ bại trận, trong khi kẻ chiến thắng sẽ mắc một món nợ mà có thể sẽ được thanh toán sau này bằng cái chết thảm khốc của chính nó. Tuy nhiên, khi xem xét trường hợp của loài người, chúng ta không cần phải suy diễn như vậy.

Phía sau lưng chúng ta là một kho tích lũy nghiệp khổng lồ của hai loại nghiệp tốt và xấu, và tôi khó có thể h́nh dung được bất cứ một “tai nạn” nào mà không thể là biểu hiện của một phần nghiệp quả trong vô số nghiệp lực đa dạng của nó. V́ vậy, không cần thiết phải phân biệt việc đắm tàu hoặc phá sản, lúc nào cũng có một nghiệp ǵ đó cần phải được giải quyết theo một cách nào đó từ toàn bộ số nghiệp quả phía sau lưng một cá nhân b́nh thường. Trong những trường hợp hiếm hoi mà không c̣n có ǵ nữa để giải quyết, người đó không thể bị tổn thương và do đó thường được gọi là được cứu nguy bởi một phép lạ.

Không có ǵ đáng buồn cười hơn là ư nghĩ chúng ta có thể làm được bất cứ điều ǵ để ngăn trở tác động của luật nhân quả. Ví dụ, nếu một đứa trẻ bị sanh ra trong hoàn cảnh dẫn đến việc nó bị đối xử một cách tàn nhẫn, chắc chắn việc đối xử như vậy là phù hợp với nghiệp quả trước của nó; nhưng nếu có một sự can thiệp tử tế đưa nó thoát khỏi những tên ác quỷ trong h́nh dạng con người đang hành hạ nó th́ đó cũng phù hợp với nghiệp lực của nó. Nếu không, nỗ lực tốt để cứu nó sẽ thất bại như chúng ta biết đôi khi đă xảy ra. Nhiệm vụ rơ ràng của chúng ta là làm tất cả các điều tốt và giúp đỡ mọi người theo khả năng có thể của chúng ta theo mọi chiều hướng, và chúng ta không cần phải e ngại là khi làm như vậy, chúng ta đang can thiệp vào công việc của các vị thần nhân quả vĩ đại, v́ các ngài hoàn toàn chắc chắn có đủ sức để quản lư công việc của ḿnh với mức độ chính xác tuyệt đối, bất chấp chúng ta có làm ǵ hay không.

Luật nhân quả dường như quá vô t́nh? Nếu tĩnh từ đó có thể được áp dụng đúng vào tác động của các quy luật của tạo hoá th́ tôi cho rằng chúng ta phải thừa nhận rằng nó quả là như vậy, cũng như định luật về sức hấp dẫn của trái đất (gravitational law). Nếu một đứa bé trượt chân rơi xuống từ bờ vực của một vách đá, cho dù hoàn cảnh xung quanh sự kiện trượt chân đó có đáng buồn như thế nào đi nữa, nó cũng giống như một người lớn tuổi có ư thức hơn bị rơi xuống. Nếu một người đàn ông nắm lấy một thanh sắt nóng bỏng, y sẽ bị phỏng bất chấp động cơ của y là thế nào khi cầm lấy nó, dù y có biết là nó có nóng hay không. Tuy nhiên, chúng ta không bao giờ nghĩ rằng thanh sắt hoặc vách đá là tàn nhẫn, hoặc đổ lỗi cho định luật hấp dẫn hoặc định luật bức xạ nhiệt (heat radiation). Không phải cùng một ư tưởng như vậy cũng nên được áp dụng vào trường hợp của luật nhân quả hay sao?

 

 

PHƯƠNG PHÁP

CỦA LUẬT NHÂN QUẢ

Thật khó diễn tả bằng lời hoạt động của luật nhân quả diễn ra như thế nào dưới cái nh́n thông nhăn ở các cơi cao hơn. Dường như hành động của con người tạo ra những con kênh hoặc ổ chứa năng lượng và qua sự phản ứng của chúng mà luật tiến hoá có thể chạm đến y. Nó nh́n giống như tất cả các loại năng lượng khác nhau đang đùa giỡn chung quanh y, nhưng chúng chỉ có thể ảnh hưởng đến y bằng cách tác động qua những năng lượng mà chính bản thân y đă tạo ra làm cho chúng linh động. Y luôn bổ sung vào số lượng các con kênh hoặc ổ chứa năng lượng này và do đó luôn điều chỉnh các khả năng tiếp cận y. Chính là khi phải giao tiếp và đối phó với tất cả các thay đổi trong năng lượng như kính vạn hoa này, và bất chấp sự hoạt động và cản trở của chúng, luật nhân quả vẫn có thể biểu hiện được khả năng làm việc thích nghi và linh hoạt kỳ diệu đáng kinh ngạc của nó để hoàn thành nhiệm vụ của ḿnh một cách chính xác.

Có một khía cạnh khác của luật nhân quả cần phải được cân nhắc v́ tôi nhận thấy rằng nó rất hữu ích trong việc t́m hiểu hoạt động của nó, nhưng v́ nó thuộc về một cơi quá cao nên tôi không thể diễn tả được bằng ngôn ngữ. Hăy tưởng tượng chúng ta thấy mỗi người như hoàn toàn đơn độc trong vũ trụ, trung tâm của một loạt đông đảo các quả cầu đồng tâm. Mỗi một tư tưởng, lời nói, hoặc hành động của y đều đưa ra một luồng lực đổ xô đến bề mặt của các quả cầu. Lực này chạm vào bề mặt bên trong ở ngay góc thẳng đứng của một trong các quả cầu nên nó sẽ bị dội ngược lại tới đúng điểm xuất phát của nó.

Từ quả cầu nào nó bị dội ngược lại lệ thuộc vào đặc điểm của lực đó, và điều này đương nhiên sẽ điều chỉnh thời gian của sự phản hồi. Có một số hành động tạo ra một lực tác động lên quả cầu nằm khá gần trong tầm tay và được phản hồi rất nhanh, trong khi các lực khác lao về một điểm xa vô tận và chỉ quay lại sau nhiều kiếp sống. Nhưng dù sao đi nữa, chúng nhất định phải quay trở lại và chúng không thể trở lại nơi nào khác ngoại trừ điểm mà chúng đă xuất phát. Mỗi người tự tạo ra những quả cầu của ḿnh, và tác động của các lực này không hề bị ảnh hưởng bởi các lực được tạo ra bởi người hàng xóm của y, bởi v́ chúng có thể đi xuyên qua nhau mà không hề cản trở lẫn nhau, như hai tia ánh sáng từ hai ngọn đèn; và bởi v́ môi trường mà chúng di chuyển không có ma sát, nên số lượng của lực phản hồi sẽ y hệt như lực mà chính con người đă tạo ra.

Định mệnh (prarabdha karma) của một cá nhân, có nghĩa là nghiệp được chọn bởi các vị có thẩm quyền cho một cá nhân để thanh toán trong kiếp hiện tại, được chia ra làm hai phần: (1) Phần tự biểu lộ trong cơ thể của y sẽ được tạo ra do các vị Đại Thiên Vương thành một h́nh tư tưởng hoặc một “tinh linh” để tạo ra thể xác mà chúng ta đă đề cập đến trong chương trước đây; (2) một khối khác lớn hơn sẽ chỉ đạo vận mạng của y trong cuộc sống, những phước hay hoạ sẽ đến với y, được tạo thành một h́nh tư tưởng khác không đi xuống mà chỉ lơ lửng ở trên bào thai ở cơi trí. Từ cơi đó, nó âm thầm quan sát con người và nắm bắt lấy hoặc tạo ra các cơ hội để nó tự phóng thích ra các phần nghiệp quả, gửi chúng xuống như một tia chớp như sét đánh hoặc như một ngón tay đôi khi chạm xuống thật sâu đến cơi trần, đôi khi chỉ duỗi dài ra đến cơi trung giới, và đôi khi như là cái mà chúng ta gọi là một loé sáng hay búng ngón tay theo chiều ngang ở cơi trí.

“Tinh linh” này sẽ tự thải ra các nghiệp quả cho đến khi nào nó trống rỗng, lúc đó, cũng như các h́nh tư tưởng khác, nó sẽ tan biến vào hư vô, hoặc đúng hơn là nó sẽ tan ră và trở về với vật chất của cơi đó (cơi trí). Con người có thể điều chỉnh tác động của nó bằng cách không ngừng tạo ra những nghiệp mới bằng các nguyên nhân mới mà y luôn xây dựng lên. Một người b́nh thường ít có đủ ư chí để tạo ra những nguyên nhân mạnh mẽ mới, và do đó “tinh linh” sẽ tự thải ra hết những ǵ nó chứa đựng theo điều có thể được diễn tả là chương tŕnh ban đầu của nó, tận dụng các chu kỳ thiên văn và hoàn cảnh chung quanh để thực hiện công việc của nó dễ dàng và hữu hiệu hơn; v́ vậy, tử vi của con người có thể diễn ra một cách khá chính xác. Nhưng nếu một người đă đủ tiến hoá để có một ư chí mạnh mẽ, hành động của “tinh linh” có thể sẽ bị sửa đổi khá nhiều, và cuộc sống hẳn không đi theo đường lối đă được ghi lại trong tử vi. Đôi khi, những sự sửa đổi được đưa vào nhiều đến nỗi “tinh linh” không thể nào tự phóng thích được hết kho chứa của nó trước khi người đó chết; trong trường hợp như vậy, những ǵ c̣n sót lại sẽ được thu nhận lại vào khối khổng lồ của tích luỹ nghiệp (sanchita karma) chưa được giải quyết và từ đó, một “tinh linh” khác không ít th́ nhiều giống như vậy sẽ được tạo ra sẵn sàng cho sự khởi đầu của một kiếp sống mới tiếp theo trên cơi trần.

Khối tích lũy nghiệp khổng lồ cũng có thể được nh́n thấy lơ lửng bên trên linh hồn. Thông thường nó không phải là một cảnh tượng dễ chịu bởi v́ theo bản chất của mọi thứ, nó tích lũy nhiều nghiệp xấu hơn là tốt. Từ những ngày đầu tiên phát triển của con người trong quá khứ xa xôi, họ đă làm nhiều việc mà họ không nên làm và do đó tích lũy cho chính ḿnh hậu quả của một số khổ đau trên cơi thấp nhất này. Ngày nay, ít ra những người văn minh đă tiến bộ đến tŕnh độ có thiện ư và do đó ít trực tiếp tạo ra những nghiệp xấu. Tất cả chúng ta đều có lúc làm ra nhiều điều dại dột, ai mà chẳng phải phạm sai lầm, nhưng nói chung một người văn minh b́nh thường đang cố gắng làm nhiều điều tốt hơn xấu, và do đó họ có thể tạo ra nhiều nghiệp tốt hơn xấu. Tuy nhiên, không phải tất cả các nghiệp tốt đều đi vào tích lũy nghiệp, và v́ vậy chúng ta có ấn tượng là nghiệp xấu vẫn nhiều hơn nghiệp tốt.

Kết quả của phần lớn các tư tưởng hoặc hành động tốt đẹp của con người là để hoàn thiện bản thân khiến một dẫn thể này hoặc dẫn thể kia có thể rung động để đáp ứng với các lực cao hơn, hoặc để phát huy trong bản thân ḿnh những đức tính như ḷng can đảm, sự quyết tâm, t́nh thương, hay ḷng sùng tín mà y chưa có được ở mức độ đầy đủ trước đây. Tất cả những kết quả này sẽ thể hiện trong bản thân y và các dẫn thể của y chứ không phải ở trong khối tích lũy nghiệp đang chờ đợi y. Tuy nhiên, nếu y thực hiện một hành động tốt chỉ v́ nghĩ đến phần thưởng trong tâm trí, phước báo của hành động tốt đẹp đó sẽ đến với y và nó được giữ lại trong phần c̣n lại của tích lũy nghiệp cho đến khi nó được mang ra và hiện thực hóa thành hoạt động. Nghiệp thiện này cũng tự nhiên ràng buộc con người vào cơi trần một cách hữu hiệu như một ác nghiệp, và do đó một người thật sự muốn tiến bộ phải học cách hành động hoàn toàn không màng đến bản thân hoặc kết quả của hành động, bởi v́ khi không có một ư nghĩ ǵ về bản ngă, kết quả của những việc b́nh thường sẽ không thể chạm đến y.

Không phải ai cũng có thể thoát khỏi lợi ích của một việc thiện hơn là hậu quả của một việc ác, nhưng nếu một người nghĩ về phần thưởng sẽ đến với y, y sẽ nhận được lợi ích theo h́nh thức của phần thưởng đó, trong khi nếu y hoàn toàn quên ḿnh và chỉ làm việc này với tất cả tấm ḷng, v́ đó là điều nên làm và do đó y không thể làm ǵ khác hơn được, toàn bộ kết quả của lực đó sẽ được dùng vào việc xây dựng nhân cách của y và không c̣n ǵ để ràng buộc y vào những cơi thấp hơn. Sự thật là trong mỗi trường hợp, con người đều gặt hái được những ǵ y mong muốn. Như chính Đức Chúa đă từng nói: “Ta nói thật với các ngươi, họ sẽ nhận được phần thưởng của họ.” Một người khi nghĩ về kết quả tốt cho bản thân ḿnh sẽ đạt được kết quả đó, một người không nghĩ ǵ về bản thân ḿnh hoặc chỉ nghĩ đến việc biến ḿnh thành con kênh cho các lực của Thượng Đế sẽ được biến thành một con kênh tốt hơn do kết quả của hành động mà suy nghĩ đó đă thúc đẩy.

Một vấn đề phức tạp khác được đưa ra là thực tế có rất nhiều người làm việc tốt nhân danh người khác hoặc v́ lợi ích của một người nào đó, và như vậy họ sẽ biến người đó thành kẻ chia sẻ kết quả với họ. Nhiều người làm việc thiện nhân danh Đức Chúa, hoặc nếu y là một nhà Thông Thiên Học th́ nhân danh Chân Sư, và luật công bằng đ̣i hỏi rằng trong trường hợp như vậy, chính tư tưởng về Đức Chúa hoặc Chân Sư đă sinh ra kết quả như thế, một cái ǵ đó của ảnh hưởng này phải đến với vị cao cả đó. Theo cách này, một kho chứa khổng lồ các từ điện tốt lành được cung cấp sẵn sàng cho các Vị Cao Cả từ nhiều người liên tiếp gửi đến những tư tưởng yêu thương và sùng kính cho họ, những người mà nhân danh các Ngài nhiều việc tốt lành được thực hiện. Dĩ nhiên kết quả của một hành động như thế không thể nào ràng buộc được một vị Cao Cả. Nó chỉ cung cấp thêm cho Ngài một lực lượng tinh thần vào công việc mà Ngài đang nắm trong tay.

 

NHÂN QUẢ

CỦA CÁI CHẾT

Trong phần đông trường hợp, không có nghĩa là các vị thần nhân quả phải chỉ định một giờ chết nhất định cho lúc chết. Toàn bộ sự sắp xếp c̣n uyển chuyển và linh hoạt hơn nhiều so với những ǵ mà môn sinh nghĩ. Đầu mối để hiểu được điều này nằm trong việc đừng bao giờ quên rằng có ba loại nghiệp lớn mà người Ấn độ gọi là sanchita (tích lũy nghiệp), prarabdha (định mệnh), và kriyamana (nghiệp mới).

Loại thứ nhất là nguyên cả một khối nghiệp khổng lồ, tốt hay xấu, chưa được thanh toán và c̣n chờ đợi để được phóng thích, chúng ta hăy gọi nó là tích lũy nghiệp. Loại thứ hai là một phần cụ thể của nghiệp thứ nhất đă được chọn lọc để giải quyết trong kiếp này; chúng ta hăy gọi nó là định mệnh của một người cho kiếp này. Loại thứ ba là nghiệp mới mà chúng ta không ngừng tạo ra qua các hành động hiện tại.

Chính là loại thứ hai mà một nhà thiên văn hoặc một thầy bói chỉ tay cố gắng đọc, và các tính toán của họ thường bị vô hiệu quả bởi sự can thiệp của hai loại kia. Chắc chắn là không có chuyện ǵ có thể xảy ra với một người mà không nằm trong tích lũy nghiệp của y, nhưng cũng chắc chắn rằng một điều ǵ đó có thể xảy ra mà không nằm trong dự tính của định mệnh của y trong kiếp này.

Hăy giả sử trường hợp một người đàn ông ở trên một chiếc thuyền sắp sửa bị ch́m, hoặc ở đầu tàu một chiếc xe lửa sắp sửa bị đụng. Nó có thể, hoặc không có thể, đă được định sẵn rằng trong kiếp này, người đó sẽ bị chết vào thời điểm đó. Nếu là có, y chắc chắn sẽ bị chết, nếu là không, y có thể được cứu, nếu việc được cứu đó không đ̣i hỏi sự can thiệp quá lớn với các định luật thông thường của tạo hoá. Tôi nghĩ chúng ta có thể nói rằng y có thể sẽ được cứu nếu việc kéo dài tuổi thọ có thể thúc đẩy sự tiến hoá của y một cách đáng kể. Nó đă được dự định là một số bài học phải được học hỏi trong mỗi kiếp, một vài phẩm tính phải được phát triển. Nếu công việc của kiếp đó đă xong, hoặc mặt khác, nếu rơ ràng người đó không thể nào hoàn tất được nó trong kiếp này bất chấp y có sống bao lâu - y không có ǵ để đạt được bằng cách sống thêm - và như vậy tốt nhất y nên được giải thoát.

Cũng vậy, nếu trong tích lũy nghiệp của y có một món nợ nào đó có thể được hủy bỏ một cách thoả đáng bằng bất cứ sự đau khổ nào đó về thể xác hoặc tinh thần liên quan đến một cái chết như vậy, cơ hội huỷ bỏ món nợ đó có thể được thực hiện trong trường hợp đó, mặc dù nó có thể không được dự tính trong kế hoạch ban đầu cho kiếp sống đó. Nhưng nếu trong toàn bộ tích lũy nghiệp không có ǵ phù hợp với một cái chết như vậy, thường là người đó không thể chết như thế và y nhất định sẽ được cứu, mặc dù nó có vẻ bằng một phương pháp kỳ diệu. Chúng ta có nghe qua những trường hợp như vậy, khi một thanh xà lớn rơi xuống để cứu một người khỏi bị đè bẹp bởi trọng lượng khổng lồ của một đống đổ nát, hoặc khi một chiếc tàu hơi nước trên biển đă ch́m xuống với mọi người trên đó, bằng cách nào đó một người đă trôi dạt vào bờ trên một chuồng gà mái.

Chúng ta không được quên ảnh hưởng của loại nghiệp thứ ba mà chúng ta đang tự tạo ra mỗi ngày lên định mệnh của chính ḿnh. Một người có thể làm việc quá giỏi đến nỗi y không thể bị loại ra vào lúc này, y có thể hoặc không có thể hành động như vậy để miễn được giải thoát khỏi cơi trần vào thời điểm đặc biệt đó. Xu hướng của chúng ta là coi trọng thời điểm và cách chết của chúng ta quá mức. Nếu trong một thoáng, chúng ta thử tưởng tượng vấn đề này từ quan niệm của các vị Cao Cả phụ trách quá tŕnh tiến hoá của chúng ta, chúng ta sẽ nhận được một sự đánh giá đúng đắn hơn về các giá trị tương đối. Đối với họ, sự tiến bộ của các linh hồn được giao phó cho họ là một vấn đề quan trọng. Họ biết những bài học nào cần phải được trải qua, những phẩm chất nào cần phải được phát triển.

Họ phải xem nó cũng như một vị hiệu trưởng phải xem khối lượng bài vở một cậu học tṛ phải làm xong trước khi có đủ điều kiện nhập vào đại học. Vị hiệu trưởng phân chia công việc đó tuỳ theo thời gian của ông: bao nhiêu bài vở phải được thực hiện trong mỗi năm, và đến lượt số bài vở của một năm đó phải được phân chia như thế nào theo từng học kỳ và thậm chí từng ngày. Nhưng ông ta sẽ cho ḿnh toàn quyền tự do thay đổi những chu kỳ nhỏ hơn; ông ta có thể quyết định bỏ ra hai ngày thay v́ một ngày cho một số đề tài đặc biệt khó khăn, hoặc ông có thể chọn chấm dứt một bài học sớm hơn dự định nếu mục đích đă được hoàn tất một cách rơ ràng.

Đời sống của chúng ta chính là những ngày đi học ở trường, và bài học có thể được kéo dài ra hoặc rút ngắn lại, tuỳ ư thầy giáo theo như thế nào là tốt nhất. Chết chỉ là sự tan trường sau một ngày học tập. Chúng ta không cần phải lo lắng quá nhiều về nó; chúng ta phải vui vẻ chấp nhận bất cứ khi nào luật nhân quả đưa nó đến với chúng ta. Chúng ta phải nhận thức một điều quan trọng là bài học chỉ định phải được học xong. Bài học đó sẽ được phân chia thành bao nhiêu phần, thời gian của các giờ học dài hoặc ngắn khác nhau bao lâu, và chính xác khi nào chúng sẽ bắt đầu hoặc ngừng - tất cả các chi tiết này tốt nhất chúng ta hăy phó thác cho những người quản lư Định Luật Vĩ Đại.

Từ quan điểm này, không cái chết nào có thể được mô tả là quá sớm, bởi v́ chúng ta có thể chắc chắn rằng những ǵ đến với chúng ta từ bên ngoài luôn là những ǵ tốt nhất cho chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta là làm việc với khả năng tối đa của ḿnh trong mỗi kiếp sống và cố gắng duy tŕ như vậy càng lâu càng tốt. Nếu chúng ta rút ngắn nó lại bằng cách sống cẩu thả hoặc không đúng đắn, chúng ta phải chịu trách nhiệm và kết quả sẽ là không tốt; nhưng nếu nó bị rút ngắn bởi một điều ǵ đó nằm ngoài khả năng kiểm soát của chúng ta, chúng ta có thể chắc chắn rằng sự cắt giảm đó là v́ lợi ích của chúng ta.

Tuy nhiên, những ǵ được viết trong một vài cuốn sách của chúng ta về cái chết “quá sớm” là đúng. Ở tuổi quá già, ham muốn tan biến dần dần và như thế, một số công việc của cuộc sống trung giới đă được hoàn tất trước khi con người rời bỏ cơi trần. Một kết quả tương tự như vậy cũng xảy ra đối với một cơn bệnh kéo dài lâu năm, và như thế th́ trong cả hai trường hợp này, đời sống trung giới có thể tương đối là ngắn và không bị đau khổ trầm trọng. Điều này có thể được coi là quá tŕnh b́nh thường của tạo hoá, và chỉ khi nào bị so sánh với nó th́ một cái chết sớm hơn có thể được coi là “quá sớm.” Nếu một người chết khi c̣n trẻ, dục vọng vẫn c̣n mạnh và do đó một đời sống trung giới mạnh mẽ và vất vả hơn có thể được tiên đoán - một trạng thái nói chung không thú vị cho lắm. Nhưng nếu các Quyền Năng đằng sau quyết định rằng một cái chết sớm hơn là tốt nhất, chúng ta có thể cảm thấy chắc chắn rằng Họ biết cân nhắc những điều khác quan trọng hơn là việc kéo dài sự sống ở cơi trung giới.

V́ vậy, có lẽ là trong hầu hết trường hợp, thời gian chính xác và cách chết của mỗi người đều không được quyết định trước hoặc khi y sinh ra. Các nhà chiêm tinh nói với chúng tôi rằng trong nhiều trường hợp, họ không thể nào tiên đoán được cái chết của đối tượng tử vi mà họ đang nghiên cứu. Họ nói rằng ở một thời điểm nhất định nào đó có những ảnh hưởng rất xấu, và con người có thể chết vào lúc đó, nhưng nếu y không chết, cuộc sống của y sẽ tiếp tục cho đến một dịp khác khi các ảnh hưởng xấu lại đe dọa y, và cứ như thế. Cũng theo cách đó, một thầy bói chỉ tay sẽ nói với chúng ta rằng ở tại thời điểm này và nọ, có những đứt đoạn hoặc dấu vết nghiêm trọng trên đường chỉ sinh mạng có thể chỉ về cái chết hoặc chỉ là một cơn bạo bệnh. Có lẽ những điều mờ ảo này đại diện cho những điểm c̣n bỏ ngỏ cho các quyết định sau này, phần lớn sẽ phụ thuộc vào các sửa đổi do hành động của con người đưa ra trong suốt cuộc sống của y và cách y sử dụng các cơ hội của ḿnh. Dù sao đi nữa, chúng ta có thể chắc chắn rằng bất cứ một quyết định nào được đưa ra cũng đều là sáng suốt, và dù là trong khi sống hoặc chết, tất cả mọi thứ đều cùng hoạt động v́ lợi ích của chúng ta.

 

NHÂN QUẢ

NHƯ MỘT VỊ THẦY

Không ai có thể nhận được những ǵ mà chính y không gây ra, và mọi thứ đều đến với chúng ta như là kết quả của các nghiệp mà chúng ta đă tự tạo ra. Nếu chúng ta đă gây ra nhân th́ chúng ta cũng tạo ra quả, bởi v́ nhân và quả là hai mặt của đồng tiền - ta không thể nào có cái này mà không có cái kia; thật vậy, kết quả đến với chúng ta như là một phần của hành động ban đầu của chúng ta, có thể nói trong trường hợp này là hoạt động của nó vẫn c̣n đang diễn ra tiếp tục. Mỗi thứ đều đến với chúng ta do hành động của chúng ta, tốt hay xấu cũng như nhau. Tuy nhiên, nó dứt khoát được sử dụng cho lợi ích của chúng ta. Mục đích của việc trả quả là để giúp con người phát triển, v́ khi trả quả y có thể biểu hiện được tính nhẫn nại, ḷng can đảm và sự kiên tŕ khi phải đối mặt với những hoàn cảnh khó khăn.

Mọi người luôn than phiền về hoàn cảnh của họ. Một người đàn ông có thể nói rằng: “Tôi không thể làm được bất cứ điều ǵ trong hoàn cảnh của tôi, v́ tôi có quá nhiều lo âu, trách nhiệm và một gia đ́nh quá lớn. Ước sao tôi được tự do như người đó!”

Người ta không nhận ra rằng chính những trở ngại đó là một phần trong quá tŕnh đào tạo của y, và chúng được đặt ra trên đường để dạy cho y cách đối phó với chúng. Y đương nhiên sẽ thích có vài cơ hội để thể hiện những khả năng mà y đă phát triển, nhưng điều cần thiết là y nên phát triển các khả năng mà y chưa sở hữu, và điều này có nghĩa là y phải làm việc chăm chỉ và cực khổ, v́ đây cũng là cách tiến bộ rất nhanh. Quả thật không có thứ ǵ như là h́nh phạt và phần thưởng, nhưng hành động chúng ta có gây ra kết quả, có thể dễ chịu hoặc khó chịu. Nếu chúng ta làm đảo lộn trạng thái cân bằng của tạo hóa theo bất cứ h́nh thức nào, nó tự nhiên sẽ tự điều chỉnh lại với sự trả giá đó trên ḿnh của chúng ta.

Một linh hồn đôi khi chọn trả hoặc không trả một vài nghiệp báo nào đó trong kiếp sống hiện tại, mặc dù bộ năo xác thịt thường không hay biết ǵ về điều này, nên chính những hoàn cảnh bất lợi mà con người đang than phiền có thể chính là những cái mà y đă cố ư chọn để thúc đẩy sự tiến hoá của bản thân ḿnh. Khi y trở thành một vị đệ tử và do đó đă vượt khá xa khỏi giai đoạn tiến hoá b́nh thường hiện giờ, y thường làm chủ và thay đổi được phần lớn nghiệp quả của ḿnh - không phải là y có thể thoát khỏi phần nghiệp quả của ḿnh hoặc bất cứ phần nhỏ nào của nó, nhưng v́ y đă thu thập được nhiều kiến thức mới và do đó có thể huy động được nhiều lực mới theo nhiều hướng, tự nhiên y có thể điều chỉnh được hoạt động của những nghiệp cũ. Y có thể dùng một quy luật này để chống lại quy luật kia và do đó vô hiệu hoá kết quả của các lực có thể cản trở sự tiến bộ của y.

Người ta thường nói rằng người đệ tử tham gia vào việc đẩy mạnh sự tiến hoá của ḿnh sẽ chuốc lấy nhiều khổ đau cho bản thân y. Có lẽ đây không phải là cách hay nhất để diễn tả nó. Thật ra những ǵ y làm chỉ là tích cực nắm lấy quá tŕnh tiến hoá của ḿnh và cố gắng tẩy sạch những vết xấu càng nhanh càng tốt và phát triển những điều tốt đẹp nhất trong y, để cho y có thể trở thành một con kênh sống hoàn mỹ hơn cho t́nh thương của Thượng Đế. Đúng là một hành động như vậy chắc chắn sẽ thu hút được sự chú ư của các vị Thần Nhân Quả, và dù sự chấp thuận của Họ sẽ ban cho y một cơ hội lớn hơn, nó có thể và thường bao gồm một số đau khổ khá lớn theo nhiều cách khác nhau.

Tuy nhiên, nếu chúng ta suy nghĩ thật kỹ, chúng ta sẽ thấy đây chính xác là điều có thể được trông chờ. Mọi người chúng ta không ít th́ nhiều cũng có những nghiệp xấu dự trữ ở phía sau, và cho đến khi nó được giải trừ, nó sẽ luôn là một trở ngại cho chúng ta trong việc làm cao cả hơn. Một trong những bước đầu tiên theo chiều hướng tiến bộ thật sự là việc thanh toán bất cứ phần nào c̣n lại của nghiệp quả xấu này, và do đó phản ứng đầu tiên của các vị Cao Cả đối với nỗ lực hướng thượng của chúng ta là thường cho chúng ta một cơ hội để trả thêm một số ít món nợ này (bởi v́ chúng ta đă tự rèn luyện cho ḿnh đủ mạnh để làm được như vậy) hầu nó có thể được xoá sạch trên con đường phụng sự tương lai của chúng ta. Cách thức mà món nợ này sẽ được trả là việc của Họ chứ không phải việc của chúng ta. Chúng ta có thể tin rằng Họ sẽ dàn xếp nó một cách ổn thỏa mà không gây thêm đau khổ cho những người khác - trừ phi đương nhiên là những người đó cũng c̣n có những món nợ sót lại có thể được thanh toán bằng cách này. Dù sao đi nữa, các vị thần nhân quả cũng không thể nào làm việc khác hơn là với một sự công bằng tuyệt đối cho mỗi đương sự, dù trực tiếp hay gián tiếp.

 

CÁC LOẠI NGHIỆP QUẢ

Nhân quả của việc phụng sự lúc nào cũng là cơ hội để phục vụ thêm. Đây là một trong những quy tắc chắc chắn nhất từ sự điều tra của chúng tôi về hoạt động của luật nhân quả qua nhiều kiếp sống quá khứ đă được nghiên cứu. Khi một người có một đời sống đặc biệt tốt đẹp, nó không có nghĩa là kiếp sau y sẽ giàu có hoặc có quyền lực hay thậm chí thoải mái, nhưng chắc chắn rằng y sẽ có nhiều cơ hội để làm việc. Rơ ràng là Thượng Đế muốn công việc của Ngài được hoàn tất, và nếu chúng ta muốn có những cơ hội để tiến bộ, chúng ta phải chứng tỏ rằng chúng ta sẵn sàng chịu làm việc.

Kiến thức mang lại trách nhiệm cùng với cơ hội. Buông xuôi theo những ǵ bạn biết là sai, hoặc lùi lại một bước để lấy sức nhảy lên cao hơn, chính là bỏ lỡ cơ hội của bạn. Nhiều kiếp có thể trải qua trước khi bạn có lại được một cơ hội như vậy một lần nữa. Nếu bạn bỏ qua một kiến thức hoặc một tầm nh́n chỉ ra được khuyết điểm của bạn, chắc chắn kiếp sau bạn sẽ được sinh ra mà không có được kiến thức hoặc tầm nh́n đó. Kiến thức phải luôn được áp dụng, nên đúng là sai lầm khi nghĩ rằng bạn có thể tŕ hoăn hành động của ḿnh và giữ được kiến thức đó.

Chúng ta có thể tạo ra cho bản thân ḿnh những hoàn cảnh bất lợi nhất trong tương lai nếu chúng ta chọn cư xử một cách dại dột, nhưng v́ chúng ta hiện đă là người văn minh nên trên thực tế, chúng ta không thể nào tự quăng ḿnh vào vị trí của những người man rợ hoặc tầng lớp thấp nhất của loài người vào kiếp sau. Chúng ta có thể lăng phí thời gian và không đạt được một sự tiến bộ nào, nhưng trừ phi chúng ta theo đuổi hắc ma thuật và sử dụng những quyền năng khủng khiếp đó theo lầm hướng, chúng ta không thể ném ḿnh lùi lại quá xa như thế. Do hành vi sai trái hoặc do bỏ lỡ cơ hội, chúng ta có thể bị sanh ra trong một vị trí bất lợi thuộc tầng lớp của chúng ta hoặc một lớp thấp hơn, nhưng nó sẽ làm xáo trộn kế hoạch của mọi thứ nếu chúng ta bị ném trở lại t́nh trạng dă man. Những hành động ngoại lệ đôi khi có tạo ra những kết quả đặc biệt, nhưng theo quy tắc chung th́ những thăng trầm cực đoan không phải là thực tế; rơ ràng một người văn minh không thể nào thanh toán được thứ nghiệp quả mà y đă gây ra trong vị trí đó của y nếu y bị ném ngược lại hoàn cảnh chật hẹp của một người nông phu lao động chân tay. Đối với kế hoạch của Thượng Đế, việc tăng trưởng số lượng người văn minh ngày càng nhiều là điều cần thiết và do đó, khi một người đă được sinh ra ở một địa vị tôn quư, nói chung y sẽ có nhiều khả năng được tiếp tục sinh ra trong một địa vị như thế trong tương lai.

Tuy nhiên, có một số loại hành động mang lại những nghiệp quả khủng khiếp bất thường như là kết quả của chúng. Ví dụ, quả báo của sự tàn nhẫn đối với con người hoặc loài thú dưới bất kỳ h́nh thức nào luôn mang một tính chất đặc biệt ghê sợ; nó thường mang theo những căn bệnh măn tính về thể chất kèm theo với những cơn đau cấp tính, và thông thường nó cũng tạo ra sự điên rồ, điều cuối cùng này đặc biệt hơn khi sự đối xử tàn nhẫn đó thuộc về một dạng tinh vi và cố t́nh. Chẳng hạn, chúng tôi đă khám phá ra nhiều thành viên của đám đông ngu dốt tra tấn Hypatia (tiền thân của Bà Besant) ở Alexandria đă được tái sinh ở Armenia, và chính họ phải chịu đủ loại đối xử tàn bạo dưới tay người Thổ Nhĩ Kỳ. Hiện nay, những người bị chết thiêu một cách khủng khiếp, rơ ràng là do tai nạn, thường là những người đă từng hoả thiêu những người khác ở thời Trung Cổ Âu Châu, hoặc là những người đă từng vui thích nh́n thấy cảnh tượng chết chóc thảm khốc của những vị Thánh tử Đạo.

Đối với bất kỳ thương tích nào gây ra cho một người tiến hoá cao, thủ phạm đều bị báo ứng một cách khủng khiếp. Chúng ta thực sự phải cẩn thận về thái độ của ḿnh đối với bất cứ vị Cao Cả nào có thể xuất hiện, bởi v́ Ngài, ở tŕnh độ quá cao đối với chúng ta, có thể dễ bị hiểu lầm - Ngài khác với những ǵ chúng ta mong đợi và do đó không được tôn trọng. Một lư do tại sao các vị Cao Cả không thường xuyên qua lại giữa loài người là v́ quả báo đáng sợ dành cho sự đánh giá sai lầm và bạc đăi Họ mà những kẻ ngu dốt trong nhân loại chắc chắn sẽ phạm phải. Chính tôi đă thấy trường hợp của một linh hồn cao cả đầu thai vào một chỗ mà không ai hiểu được y, khi c̣n trẻ lại bị rơi vào tay của một tên giáo viên thô bạo và bất tài đă hành hạ y một cách quá đáng. Tôi cũng được cho phép nh́n thấy quả báo theo sau sự tàn nhẫn đó, và tôi chỉ biết rùng ḿnh khi nghĩ đến nó. Quả thật chúng ta có thể nói về tên tội đồ khốn khổ đó qua những lời đă được gán cho Đức Chúa, rằng trước khi y “mạo phạm đến một trong những đứa bé như vậy, thà rằng y tự cột một tảng đá quanh cổ của ḿnh rồi chết ch́m dưới đáy biển c̣n hơn.”

Một chủ đề có liên hệ mật thiết với đề tài này là nhân quả của sự vô ơn, vốn luôn luôn đặc biệt nặng nề - nhất là khi sự vô ơn này xảy ra đối với một vị thầy huyền môn (huyền bí học). Mọi người đều không ngừng đổ xô về phía trước, ao ước được tiếp xúc với các vị Chân Sư để thu hút được sự chú ư của các Ngài; đôi khi họ nghĩ rằng các vị đệ tử của Chân Sư đang cố gắng ḱm hăm họ, hoặc bằng mọi giá không chịu giúp đỡ họ trong nỗ lực tiếp cận đó. Đệ tử của Chân Sư chỉ sống để giúp đỡ người khác, và không có ǵ làm cho y hân hoan hơn là kéo thêm được một người đến dưới chân một Vị mà bản thân y đă học hỏi được rất nhiều. Tuy nhiên, khi y nhận ra rằng người đệ tử dự bị đó là là loại người chưa hiểu được các vị Cao Cả, rằng thái độ của họ đối với các Ngài vẫn c̣n ngoan cố, bất kính và tự phụ, y sẽ không chịu lănh bất cứ trách nhiệm nào trong vấn đề này, bởi v́ y biết rằng một thảm họa nghiêm trọng chắc chắn sẽ xảy ra. Một người với tính khí như vậy chắc chắn sẽ tạo ra nghiệp xấu ở bất cứ nơi đâu, và thật là dại dột để đặt họ vào vị trí mà họ có thể nhân nó lên thành một trăm lần.

Ví dụ, tôi có để ư đến trường hợp mà những người hết ḷng tôn sùng bà Hội Trưởng của chúng ta đổi ư và bắt đầu chê bai và vu khống bà. Đây là một điều rất xấu v́ nó tạo ra một quả báo c̣n tệ hơn nhiều so với việc bêu xấu một người mà họ chưa bao giờ mắc nợ. Tôi không có ư nói rằng mọi người không có quyền thay đổi suy nghĩ của ḿnh. Nếu một người nhận thấy rằng y không thể nào thật ḷng đi theo Bà Hội Trưởng của chúng ta, y hoàn toàn có quyền rút lui khỏi hàng đệ tử của bà. Chúng ta chỉ có thể tiếc cho sự mù quáng của y, nhưng chúng ta không trách cứ y bởi v́ mỗi người phải làm theo những ǵ mà họ cho là đúng. Đối với một sự tách ly như vậy, không có quả báo ǵ xấu ngoại trừ việc mất đi một cơ hội - hậu quả thông thường của việc thi rớt và làm bài sai nghiêm trọng. Nhưng nếu sau khi bỏ đi, người đó bắt đầu phỉ báng bà một cách độc địa và tung ra nhiều tin đồn thất thiệt về bà như nhiều người đă từng làm, họ đang phạm phải một tội rất nặng và quả báo của họ là vô cùng nghiêm trọng. Thù hận và nói dối lúc nào cũng là điều xấu, nhưng khi một người dùng chúng để nhắm vào một người mà y đă từng nhận được ly nước của sự sống (trí tuệ) từ tay họ, chúng trở thành một tội ác mà hậu quả của chúng thật là đáng sợ.

Sự thật là nếu một người c̣n quá nhiều nghiệp xấu ở phía sau, y sẽ không thể nào tiến bộ được về mặt huyền bí trừ khi nó được thanh toán. Chẳng hạn, những người c̣n mắc nợ quá nhiều sẽ khó trở thành nhân tuyển thích hợp cho cộng đồng của giống dân chính thứ sáu. Không ai có thể trở thành một vị Chân Tiên nếu c̣n nghiệp xấu đằng sau bởi v́ y phải được giải thoát khỏi luân hồi. Một người, khi có thể hoạt động tự do trong thể bồ đề hoặc minh triết của ḿnh và do đó bỏ luôn nhân thể, không cần phải dùng nó (nhân thể) thêm một lần nào nữa, nhưng dĩ nhiên điều này không thể được thực hiện cho đến khi tất cả các nghiệp lực ở các cơi thấp hơn của y đă cạn kiệt. Chân Sư lúc nào cũng đưa ra tất cả các lực của Ngài theo đường cong rộng mở, nhưng bất cứ một tư tưởng vị kỷ thấp hèn nào cũng sẽ làm cho lực tư tưởng đó đi theo một đường cong khép kín, cho nên dù tốt hay xấu, nó phải quay lại cội nguồn của nó và do đó con người phải quay trở lại để nhận lấy nó.

Một người không thể thoát khỏi được những kết quả ràng buộc của các cơi thấp hơn cho đến khi y trở thành hoàn toàn vị tha ở các cơi đó. Một người, khi giúp đỡ người khác và cảm thấy hợp nhất với họ, sẽ chỉ nhận lấy kết quả của hành động của y ở trên cơi minh triết và không phải ở cơi thấp hơn. Đừng quên rằng chúng ta cũng tạo ra nghiệp quả ở cơi trung giới, v́ con người có thể tạo ra nghiệp quả ở bất cứ nơi nào mà tâm thức của y được phát triển, hoặc ở bất kỳ nơi nào mà y có thể hoạt động hay chọn lựa. Tôi đă từng thấy những trường hợp mà hành động ở cơi trung giới đă sinh ra quả báo trong kiếp tiếp theo ở cơi trần. Một điểm đáng nhớ khác là lúc nào cũng có một cộng nghiệp thuộc về một nhóm hoặc một quốc gia, và ở một mức nào đó, mỗi cá nhân trong nhóm hoặc quốc gia đó phải gánh chịu trách nhiệm cho cả nhóm nói chung. Ví dụ, một vị tu sĩ phải gánh một phần trách nhiệm nhất định cho những ǵ mà ḍng tu sĩ làm, mặc dù cá nhân y có thể không đồng ư với hành động đó.

 

NHÂN QUẢ CỦA LOÀI THÚ

Các học sinh thường hỏi về hoạt động của luật nhân quả trên loài thú, v́ họ cho rằng loài thú gần như không thể làm ra được một loại nhân quả ǵ đáng kể. Vậy thật khó để giải thích được sự khác biệt quá lớn được quan sát giữa các hoàn cảnh khác nhau của chúng: một con th́ được chăm sóc tỉ mỉ và cư xử tử tế, trong khi một con khác phải chịu ngược đăi mọi bề; một con th́ luôn được bảo vệ và cho ăn uống đầy đủ, trong khi một con khác lại bị bỏ đói và phải chiến đấu chỉ để được sinh tồn.

Có hai điểm cần phải được lưu ư trong mối quan hệ này giữa người và thú: (1) một con thú thường tạo ra nhiều nghiệp quả; (2) một con thú được đối xử tử tế không phải lúc nào cũng có vẻ có nhiều lợi thế hơn, v́ được tiếp xúc với loài người không phải lúc nào cũng tốt cho nó hoặc giúp nó tiến hoá theo đúng chiều hướng. Một con chó săn được người thợ săn dạy dỗ sẽ trở nên dă man và tàn bạo hơn nhiều so với bất cứ h́nh thức nào khác của thiên nhiên có thể dạy cho nó, bởi v́ một con thú rừng chỉ giết để thỏa măn cơn đói của nó, nhưng chỉ có con người mới giới thiệu vào cuộc sống của nó tính độc ác của việc sát sinh chỉ v́ khát vọng tàn phá. Cho dù trí khôn của nó có phát triển nhiều bao nhiêu đi nữa, nhưng vẫn tốt hơn cho con thú bất hạnh đó nếu nó chưa bao giờ tiếp cận với loài người, bởi v́ thông qua nó mà bây giờ hồn-khóm của nó đă tạo ra một nghiệp quả - nghiệp quả của loại độc ác nhất mà những con chó khác, vốn là biểu lộ của hồn-khóm đó, sẽ phải chia sẽ và nhận lănh sau này để cá tính dă man đó mới có thể từ từ được tẩy sạch.

Điều tương tự có thể được nói về con chó cưng được nuông ch́u quá mức bởi một cô chủ dại dột nên nó dần dần mất đi tất cả các đức tính của con chó và trở thành một hiện thân của sự ích kỷ và lười biếng. Trong hai trường hợp này, con người đă phạm tội làm sai trách nhiệm của y đối với loài thú và cố t́nh phát triển những bản tính thấp hèn thay v́ cao cả trong những sinh vật được giao phó cho y chăm sóc, do đó tự bản thân y tạo ra nghiệp xấu và cũng hướng dẫn cả hồn-khóm theo như thế. Trách nhiệm của con người đối với con chó rơ ràng là để giúp nó phát triển ḷng sùng tín, t́nh thương, trí khôn và sự hữu ích, và để kiềm chế một cách nhân từ nhưng dứt khoát mọi biểu lộ của bản chất dă man và độc ác của nó mà qua bao thế kỷ một nhân loại tàn ác đă không ngừng bồi dưỡng.

Đôi khi, có nhiều người hỏi giống như là họ nghĩ rằng con chó hoặc con mèo được đầu thai v́ nó đáng được thưởng. Chúng ta không phải đang làm việc với một cá nhân riêng biệt, v́ vậy đối với con thú đó, không có một nghiệp cá nhân nào trong dĩ văng được tạo ra theo nghĩa thông thường của từ ngữ đó - nó không có ǵ xứng đáng để nhận được quà thưởng. Khi một một khối Chân Thần (hồn khóm) tiến hóa bằng cách đầu thai liên tiếp trong một ḍng thú vật, rồi kết thúc (hăy giả sử) trong một con chó đă đạt đến một tŕnh độ cao, các con thú riêng biệt đại diện cho sự biểu lộ của hồn khóm được đưa xuống dưới đây để tiếp xúc với loài người hầu sự tiến hoá của nó có thể nhận được sự kích thích mà chỉ có thể được cung cấp qua sự tiếp cận đó.

Khối Chân Thần làm sinh động nhóm chó đó đă tích lũy rất nhiều nghiệp quả liên quan đến việc điều khiển các biểu lộ đa dạng của nó cho đến khi nó đạt đến tŕnh độ có thể tiếp xúc được với loài người, và mỗi một con chó thuộc hồn-khóm đó đều có chia phần trong kết quả đó. V́ vậy, khi một người hỏi rằng một con chó đă làm ǵ để hưởng được một đời sống thoải mái hoặc ngược lại, họ đă bị gạt bởi ảo ảnh của vẻ bên ngoài và quên rằng không có ǵ có thể được gọi là một cá nhân con chó, ngoại trừ ở phần sau của kiếp đầu thai cuối cùng của nó, khi một linh hồn mới mẻ đă dứt khoát tách rời khỏi khối Chân Thần đó.

Một số người bạn của chúng tôi không hiểu rằng có một thứ được coi như là một nghiệp mới bắt đầu. Khi A đả thương B, họ luôn quay lại với lư thuyết là ở một thời điểm nào đó trước đây, B phải làm cho A bị thương và ám chỉ là B hiện đang gặt quả mà y đă gieo. Có lẽ điều này đúng trong nhiều trường hợp, nhưng một chuỗi nguyên nhân phải khởi đầu từ đâu đó, và có nhiều khả năng là việc này có thể là một hành động mới đột nhiên bất công của A mà y chắc chắn sẽ phải trả nợ trong tương lai, trong khi sự đau khổ của B, mặc dù là oan ức liên quan với A, lại có thể là sự trả nợ của một hay nhiều hành vi khác mà B đă phạm phải trong quá khứ liên quan đến một người nào khác.

Trong trường hợp của một con thú bị bạc đăi bởi con người, điều này (nghiệp mới) là chắc chắn – v́ nó không thể nào là hậu quả của một nghiệp trước về phần của con thú, bởi v́ nếu nó là một cá nhân có khả năng mang nghiệp th́ nó sẽ không được tái sinh vào h́nh dạng con thú.

Tuy nhiên, hồn-khóm mà nó là một phần tử phải lănh lấy nghiệp quả, nếu không th́ chuyện đó không thể xảy ra. Loài thú thường cố t́nh gây đau đớn cho nhau. Qua các suy luận khác nhau, người ta có thể chắc chắn một cách hợp lư rằng, trong việc có thể được gọi là quá tŕnh hoạt động cần thiết tự nhiên, một con mồi bị giết bởi con thú rừng để làm đồ ăn cho nó không bị đau đớn nhiều; nhưng trong những cuộc ẩu đả cố t́nh và không cần thiết thường xảy ra giữa các con thú, chẳng hạn như giữa con ḅ đực, nai đực, con chó hoặc con mèo – sự cố t́nh gây đau đớn khủng khiếp trên con thú khác có nghĩa là nghiệp xấu của một hồn-khóm, một nghiệp quả nhất định phải được thanh toán qua một số biểu hiện khác nhau của nó trong tương lai.

Tuy nhiên, tội lỗi của sự đối xử tàn bạo của một “kẻ cầm thú” đối với một con vật, hoặc việc khiến nó đánh nhau hoặc gây ra đau đớn cho những sinh vật khác, không bao giờ được giảm đi trong một khoảnh khắc nào, dù chỉ là một chút. Nhất định nó sẽ tạo ra nghiệp, và một nghiệp rất nặng, tích lũy cho bản thân y như là một người đă lạm dụng quyền giúp đỡ được đặt trong tay y, và trong nhiều và rất nhiều kiếp sẽ đến, y sẽ phải chịu đau khổ như là hậu quả xứng đáng cho sự tàn ác ghê tởm của y.

Nếu một người chịu khó bỏ ra công sức cần thiết để đạt được đầy đủ kiến thức đă được ghi chép sẵn trong các tác phẩm Thông Thiên Học về các chủ đề của luật nhân quả và luật luân hồi của loài thú, họ sẽ hiểu được dễ dàng và rơ rệt các nguyên tắc chính mà dựa trên đó quy luật của chúng tác động. Tôi biết rơ những kiến thức tổng quát như vậy thật là quá ít, và tôi công nhận có nhiều trường hợp đang liên tiếp xảy ra mà các chi tiết của phương pháp hoạt động của luật nhân quả thật sự vượt khỏi tầm hiểu biết của chúng ta. Tuy nhiên, cũng đủ để cho bạn thấy rằng những ǵ chúng ta được dạy về sự tất yếu và công bằng tuyệt đối của luật nhân quả là một trong những chân lư căn bản của tạo hoá. Nắm chắc được điều này, bạn có thể chờ đợi một sự thấu hiểu cặn kẽ hơn khi bạn đạt được các quyền năng tâm linh cao hơn, chỉ có như thế mới cho bạn khả năng nh́n thấy được toàn bộ hoạt động của một hệ thống nói chung.

Đảm bảo rằng khi chúng ta tiến bộ, ánh sáng thiêng liêng sẽ soi sáng cho chúng ta thấy được nhiều góc cạnh vẫn c̣n nằm trong bóng tối, và chúng ta sẽ từ từ nhưng chắc chắn tiến đến sự hiểu biết hoàn hảo về chân lư thiêng liêng thậm chí hiện giờ đang bao phủ chúng ta, bảo vệ và hướng dẫn chúng ta. Tất cả những ai đă từng có vinh dự được nghiên cứu các chủ đề này dưới sự hướng dẫn và giúp đỡ của các Bậc Thầy Trí Tuệ đều bị thuyết phục không c̣n nghi ngờ ǵ về điều này, đến nỗi mặc dù trong hiện tại họ không nh́n thấy được hoàn bộ nhưng họ vẫn sẵn sàng tin tưởng vào Quyền Năng vĩ đại dù chỉ có được những cái nh́n thoáng qua được ban cho dưới mắt con người.

 

CHƯƠNG IV

 

HỘI THÔNG THIÊN HỌC

VÀ NGƯỜI SÁNG LẬP RA HỘI

 

HỘI THÔNG THIÊN HỌC LÀ G̀ ?

Dường như một số hội viên chưa hoàn toàn hiểu được địa vị của Hội Thông Thiên Học mà họ thuộc về. Nó không phải là một Hội chỉ được thành lập để khuyến khích sự nghiên cứu về một môn học đặc biệt nào đó, như là Hiệp Hội Hoàng Gia Châu Á Học hoặc Hiệp Hội Hoàng Gia Địa Lư Học; c̣n nhỏ hơn nữa là một Giáo Hội, chỉ tồn tại để quảng bá một h́nh thức giáo pháp cụ thể nào đó. Nó có một vị trí riêng trong đời sống hiện đại v́ nguồn gốc của nó không giống như những hội khác đang hiện hữu. Để hiểu được nguồn gốc này, chúng ta phải liếc nh́n qua một chút về khía cạnh bí ẩn của lịch sử thế giới.

Tất cả các môn sinh huyền bí học đều biết rằng quá tŕnh tiến hoá của thế giới không phải bị bỏ mặc để tự diễn biến một cách ngẫu nhiên, mà việc chỉ đạo và quản lư nó nằm trong tay Quần Tiên Hội, đôi khi được gọi là Hội Bạch Huynh Đệ. Những Người mà chúng ta gọi là Chân Sư thuộc về nhóm Huynh Đệ đó, bởi v́ Họ là những người chịu thu nhận đồ đệ dưới các điều kiện nhất định, những người đă tự chứng minh rằng họ xứng đáng với vinh dự đó. Nhưng không phải tất cả các vị Chân Tiên là Chân Sư, không phải ai cũng thu nhận đồ đệ; nhiều người trong số Họ mặc dù ngang hàng về chức vị huyền bí đă bỏ hết thời giờ của Họ làm việc theo nhiều đường lối khác nhau, mặc dù lúc chúng nào cũng là để giúp đỡ cho sự tiến hoá.

Để có thể giám sát và quản lư lĩnh vực hoạt động của Họ, Họ đă chia thế giới ra thành các địa hạt, cũng giống như Giáo Hội đă phân chia lănh thổ của họ ra thành các giáo xứ (tuy các giáo xứ này là lục địa), và một vị Chân Tiên chủ tŕ một trong số các địa hạt này, cũng như một vị tu sĩ cai quản giáo xứ của họ. Tuy nhiên, Giáo Hội đôi khi cũng đưa ra một nỗ lực không có liên hệ đặc biệt ǵ với bất kỳ giáo xứ nào mà nhắm vào lợi ích chung của tập thể. Nó đưa ra một cái gọi là “sứ mạng trung ương,” với mục đích khích lệ niềm tin và sự hưởng ứng của toàn quốc, lợi ích thu hoạch được không phải là vấn đề lợi lộc cá nhân cho những người hành sự, mà là làm tăng sự thu hút của các giáo xứ b́nh thường.

Theo một cách nào đó, Hội Thông Thiên Học tương xứng với một sứ mệnh như vậy, c̣n những môn phái của các tôn giáo b́nh thường trên thế giới tương ứng với các giáo xứ; v́ Hội xuất hiện giữa các tôn giáo không phải để t́m cách lấy đi những tín đồ đang theo bất kỳ một trong số các tôn giáo này, mà là để giúp họ hiểu được tôn giáo của ḿnh và sống theo nó một cách tốt hơn so với trước kia, và trong nhiều trường hợp, mang lại cho họ một niềm tin về tôn giáo của ḿnh ở mức độ cao hơn và thông minh hơn, một thứ mà họ từng có nhưng đă đánh mất. Đúng vậy, và nó bao gồm luôn cả nhiều người khác, trên danh nghĩa tuy không theo một tôn giáo nào, những người, tuy thực tâm là loại người sùng đạo vẫn chưa có thể chấp nhận được những lời giảng dạy thô sơ của giáo lư truyền thống, đă t́m thấy trong giáo lư Thông Thiên Học một sự tŕnh bày về chân lư mà họ có thể thật ḷng hưởng ứng bởi v́ bản chất hợp lư sẵn có của nó và sự cởi mở bao dung của nó. Chúng tôi có những hội viên đạo Ấn độ, đạo Phật, đạo Jains, đạo Parsis, đạo Do Thái, đạo Hồi và đạo Thiên Chúa, và không ai trong số họ đă từng nghe hoặc đọc được một lời chỉ trích nào về tôn giáo của họ từ bất cứ người nào trong ban quản trị Hội; quả thật, trong nhiều trường hợp, công tác của Hội đă làm hồi sinh niềm tin về tôn giáo ở những nơi mà nó đă được thành lập.

Tại sao điều này là như vậy có thể dễ hiểu khi chúng ta nhớ rằng tất cả các tôn giáo trên thế giới đều bắt nguồn từ Hội Huynh Đệ vĩ đại này. Trong chính phủ thực sự nhưng được che dấu của thế giới này có Bộ Giáo dục Tôn giáo, và vị Bộ Trưởng này đă trực tiếp thành lập tất cả các tôn giáo khác nhau hoặc gián tiếp qua một số đệ tử. Trong mỗi trường hợp, Họ điều chỉnh các giảng pháp cho phù hợp với tŕnh độ của người nghe ở vào thời điểm đó của lịch sử thế giới. Chúng chỉ đơn giản là những sự tŕnh bày khác nhau của cùng một giáo lư, có thể được nhận ra ngay lập tức khi chúng được so sánh với nhau. H́nh thức bên ngoài của chúng có khác nhau khá nhiều, nhưng bản chất khái quát nói chung lúc nào cũng giống nhau. Tất cả các tôn giáo đều khen ngợi các đức hạnh giống nhau, đều lên án các điều ác giống nhau, nên đời sống hàng ngày của một người Phật tử hoặc một người đạo Hindu thuần thục trên thực tế đều giống như đời sống của một người đạo Chúa hoặc một người đạo Hồi ngoan đạo. Họ thực hành các giáo pháp giống nhau, mặc dù họ gọi chúng bằng những tên khác nhau; một người th́ dành nhiều th́ giờ cầu nguyện, người khác th́ ngồi thiền, nhưng thật ra các bài thực tập của họ đều giống nhau và họ đều đồng ư rằng một người tốt phải là một người công b́nh, tử tế, rộng lượng và thật thà.

Cách đây vài trăm năm, nó được nói rằng những người cầm đầu Quần Tiên Hội đă quyết định rằng cứ vào cuối phần tư của mỗi thế kỷ, một nỗ lực đặc biệt cần phải được thực hiện để giúp đỡ thế giới theo một cách nào đó. Một số nỗ lực này có thể được nhận ra - chẳng hạn như phong trào do Christian Rosenkreutz khởi xướng vào thế kỷ thứ 14, đồng thời với những cải cách vĩ đại trong Phật Giáo Bắc Tông do đại sư Tông Khách Ba giới thiệu; thời kỳ Phục Hưng (Renaissance) đáng lưu ư của văn học cổ điển và việc du nhập nghề ấn loát vào Âu Châu ở thế kỷ thứ 15; công tŕnh của Đại Đế Akbar ở Ấn độ vào thế kỷ thứ 16, đồng thời với việc xuất bản nhiều tác phẩm ở Anh và những nơi khác của Ngài Bacon, và sự phát triển huy hoàng của thời đại Nữ Hoàng Elizabeth; việc sáng lập ra Hiệp Hội Hoàng Gia cùng các nghiên cứu khoa học của Ông Robert Boyle và những người khác sau thời kỳ Phục Hưng vào thế kỷ thứ 17; những hoạt động vào thế kỷ thứ 18 (bí mật của lịch sử này chỉ được một số ít biết đến ở các cơi cao hơn) đă thoát khỏi tầm kiểm soát và suy đồi thành cuộc Cách Mạng Pháp đẫm máu; và việc thành lập Hội Thông Thiên Học vào thế kỷ thứ 19.

Hội Thông Thiên Học là một trong những phong trào lớn trên thế giới với sứ mệnh sẽ tạo ra những ảnh hưởng mạnh hơn những ǵ chúng ta đă thấy so với hiện nay. Lịch sử hoạt động của nó cho đến nay chỉ là màn mở đầu của những ǵ sẽ đến, và tầm quan trọng của nó sẽ vượt xa hơn những ǵ nó dường như là hiện nay. Nó đặc biệt khác hơn so với tất cả các phong trào khác trước nó: (1) nó là điềm báo trước sự sắp giáng trần của Đức Chúa, và (2) nó là một bước khẳng định đầu tiên nhắm về sự h́nh thành của một giống dân mới. Nhiều môn sinh của chúng ta biết rằng Chân Sư Morya, vị Chân Tiên cao cả mà hai vị sáng lập ra Hội Thông Thiên Học hết ḷng tận tụy trung thành, đă được chọn làm Đức Bàn Cổ của giống dân đó, và người bạn không hề xa rời Ngài là Chân Sư K.H. sẽ phụ trách Bộ Giáo Dục Tôn Giáo.

Rơ ràng là trong công việc hai Vị Cao Cả này sẽ phải làm, Họ cần có một đội quân thân tín tận tuỵ, những người trên hết phải biết trung thành, tuân lời và chịu khó. Họ có thể sở hữu những đức tính khác, nhưng ít nhất họ phải có những đức tính này. Phạm vi hoạt động sẽ được mở rộng cho những người có trí thông minh sắc bén nhất, trí sáng tạo linh hoạt nhất và mọi khả năng khác theo nhiều phương diện, nhưng tất cả các thứ này sẽ trở nên vô ích nếu họ không có khả năng vâng lời tức th́ và có một ḷng tin tuyệt đối vào Chân Sư. Tính tự phụ là một rào cản tuyệt đối để tiến bộ theo đường lối này. Một người không bao giờ có thể tuân theo mệnh lệnh nếu y luôn nghĩ rằng ḿnh biết nhiều hơn những người cầm quyền, một người không thể nào hoàn toàn nhận ch́m phàm ngă của họ vào trong công việc đă được giao phó và hợp tác hài ḥa với các bạn đồng nghiệp - một người như vậy thật không có chỗ đứng trong đoàn quân của Đức Bàn Cổ. Những người gia nhập vào nó đương nhiên sẽ phải đầu thai liên tục nhanh chóng nhiều lần trong giống dân mới, mỗi lần như vậy cố gắng đưa các dẫn thể của họ gần hơn và gần hơn nữa với kiểu mẫu đă được dựng lên cho họ bởi Đức Bàn Cổ - một công việc rất vất vả và khó khăn, nhưng là một việc tuyệt đối cần thiết cho sự h́nh thành một loại người mới được yêu cầu cho một giống dân mới. Cơ hội t́nh nguyện cho công việc này hiện đang được mở ra cho chúng ta.

Những người muốn tham gia vào nó phải bắt đầu phân biệt mục tiêu của họ với mục tiêu của những người b́nh thường trên thế giới. Nếu chúng ta muốn được chọn để làm công việc đó, chúng ta phải thể hiện ḿnh sẵn sàng và quyết tâm làm công việc này mà hiện giờ đang được đưa ra cho chúng ta. Người Đứng Đầu vĩ đại của Bộ Giáo dục Tôn giáo, Đức Di Lặc, đă tuyên bố như Krishna đă nói với người Ấn Độ và như Chúa Kitô với người Công giáo, là Ngài đă sớm quyết định đến thăm thế giới một lần nữa để chữa trị và giúp đỡ cho các quốc gia hồi sinh sức mạnh tinh thần trên trái đất này đă gần như bị mất đi. Một công việc tuyệt vời mà Hội Thông Thiên Học phải làm là cố gắng chuẩn bị cho nhân loại về sự tái lâm của Ngài, để nhiều người hơn có thể nhận được phúc lợi của cơ hội không ǵ sánh bằng mà sự hiện diện của Ngài sẽ ban bố. Tôn giáo mà Ngài đă thành lập khi Ngài giáng thế ở Judaea hai ngàn năm trước nay đă lan rộng khắp thế giới; nhưng sau khi Ngài rời khỏi thân xác đó, các môn đồ của Ngài đă tụ họp với nhau để bàn luận về t́nh h́nh, và chúng tôi được cho biết rằng danh sách tên tuổi của họ chỉ có vỏn vẹn một trăm hai mươi người. Chỉ có một người giảng đạo duy nhất là Sứ giả của Ngài khi đó; hiện giờ, nó là một Hiệp Hội trên toàn thế giới với hai mươi ngh́n hội viên. Hy vọng lần này chúng ta sẽ làm tốt hơn một chút nữa để giữ Ngài với chúng ta lâu hơn ba năm trước khi sự tàn ác của thế giới xua đuổi Ngài, để thu hút một số lượng lớn tín đồ theo Ngài trước khi Ngài rời bỏ chúng ta? Điều này vẫn c̣n chưa biết được, nhưng nó lệ thuộc phần lớn vào năng lượng, nỗ lực và ḷng vị tha của các hội viên Hội Thông Thiên Học hiện nay.

Ngoài mục đích chính của nó là truyền bá chân lư huyền bí học trên toàn thế giới, Hội Thông Thiên Học cũng có một mục đích thứ hai - là nó có thể hoạt động như một mạng lưới để thu hút những người trên toàn thế giới có hứng thú với huyền bí học sẵn sàng làm việc cho nó. Từ số người đó, một tỷ lệ nhất định sẽ muốn t́m hiểu tiếp tục để học hết tất cả những ǵ Hội có thể dạy cho họ và tiến bộ thực sự. Có lẽ không phải tất cả những người này đều thành công, nhưng một vài người chắc chắn sẽ được, như một số đă làm được trong quá khứ; do đó, từ những người đă có một vị trí chắc chắn, các vị Chân Tiên có thể chọn ra những người mà Họ cho là xứng đáng, với vinh dự được làm việc dưới quyền của các Ngài trong tương lai. Những chọn lọc như vậy dĩ nhiên không thể nào được bảo đảm cho bất cứ ai, thậm chí đối với những người đă vào được ṿng sâu bên trong nhất của Hội, bởi v́ quyền chọn lựa hoàn toàn nằm trong tay các vị Chân Sư. Chúng tôi chỉ có thể nói rằng những sự chọn lựa như thế đă từng được thực hiện trong quá khứ, và chúng tôi biết rằng vẫn cần phải có nhiều thiện nguyện viên hơn nữa.

Có nhiều người đă gia nhập Hội mà không biết ǵ về những cơ hội bên trong mà nó có thể cung cấp, hoặc sự liên hệ mật thiết với các Bậc Thầy Trí Tuệ mà nó có thể mang đến cho các hội viên. Nhiều người gia nhập nó một cách gần như cẩu thả, ít suy nghĩ hoặc nhận thức được về tầm quan trọng của bước mà họ đă thực hiện; và cũng có những người rời bỏ nó một cách hời hợt giống như vậy, chỉ v́ họ chưa hoàn toàn thấu hiểu.

Tuy nhiên, ngay những người đó thậm chí cũng đạt được một điều ǵ đó, mặc dù rất ít so với những ǵ họ có thể đạt được nếu họ khôn ngoan hơn. Nữ bá tước Wachtmeister kể lại có một lần khi vài người khách t́nh cờ đến thăm gặp Bà Blavatsky và ngỏ ư tham gia Hội, Bà lập tức đưa ra các mẫu đơn cần thiết và nhận họ ngay vào Hội. Sau khi họ ra về, nữ bá tước h́nh như có nói vài lời hơi nửa trách móc với Bà Blavatsky là thật không thể hy vọng được nhiều ở nơi họ, v́ ngay cả cô (nữ bá tước) cũng có thể nhận ra rằng họ chỉ gia nhập Hội từ động cơ hiếu kỳ hoặc bản tánh lịch sự.

Bà Blavatsky đă nói, “Đúng vậy, nhưng ngay cả hành động chính thức này cũng tạo cho họ một nhân duyên với Hội, và dù nó có nhỏ đi nữa, ít nhất nó sẽ mang lại một ư nghĩa ǵ đó cho họ trong tương lai.”

Một vài người đă hành động thật dại dột khi họ rời bỏ Hội chỉ v́ họ không tán thành chính sách của vị Hội Trưởng, không tự phản ảnh rằng: (1) những chính sách đó là việc của vị Hội Trưởng chứ không phải việc của họ; (2) có lẽ có một lư do rất chính đáng nào đó mà họ hoàn toàn không hiểu v́ vị Hội Trưởng biết rất nhiều về mọi thứ hơn họ; và (3) tất cả các vị Hội Trưởng và chính sách của họ dù sao đi nữa vẫn là tạm thời, và chúng không ảnh hưởng đến sự thật căn bản là Hội Thông Thiên Học thuộc về các vị Chân Sư và đại diện cho Họ, và việc từ bỏ nó là từ bỏ tiêu chuẩn của các Ngài. V́ các Ngài đứng đằng sau nó và có ư dùng nó như là một dụng cụ, chúng ta có thể chắc chắn rằng các Ngài sẽ không cho phép một lỗi nào quá lớn xảy ra. Một quân nhân tốt chắc chắn sẽ không rời bỏ hàng ngũ của ḿnh chỉ v́ y không đồng ư với kế hoạch của vị Đại Tướng rồi bỏ đi để chiến đấu một ḿnh. Ngay cả một cách chiến đấu như vậy cũng đem lại một kết quả ǵ đặc biệt hoặc hữu ích cho mục đích chiến đấu của y.

Một vài người bỏ đi chỉ v́ sợ rằng nếu họ c̣n ở lại trong Hội, họ có thể bị người khác hiểu lầm với một vài ư kiến mà họ không tán thành. Điều này không chỉ là ích kỷ mà c̣n tự phụ - có quan trọng ǵ việc người khác nghĩ hoặc nói về bất cứ ai trong chúng ta, miễn sao công việc của Chân Sư được thực hiện và kế hoạch của Ngài được hoàn thành? Chúng ta phải học quên đi bản thân ḿnh và chỉ nghĩ về công việc đó. Đúng là công việc đó sẽ được thực hiện trong bất cứ hoàn cảnh nào và chỗ trống của những người không chịu làm sẽ nhanh chóng được thay thế. Do đó, người ta có thể đặt câu hỏi rằng liệu sự đào ngũ như vậy có quan trọng hay không? Chúng không quan trọng đối với công việc nhưng lại rất quan trọng đối với kẻ đào ngũ, người đă bỏ lỡ cơ hội, và có thể cơ hội đó sẽ không quay trở lại trong nhiều kiếp tới. Một hành động như vậy cho thấy một sự thiếu cân nhắc, một sự thiếu hiểu biết tuyệt đối về Hội Thông Thiên Học thật sự là ǵ và hoạt động phía bên trong của nó.

Công việc mà các Chân Sư của chúng ta đang thực hiện, công tŕnh tiến hoá của nhân loại, là một công việc hấp dẫn nhất trên thế giới. Đôi khi, một vài người trong chúng tôi, những người đă phát triển quyền năng ở các cơi cao hơn, được cho phép có một cái nh́n thoáng qua về kế hoạch vĩ đại đó - chứng kiến một góc nhỏ của bức màn bí mật đó được vén lên. Tôi thật không biết có điều nào thú vị hoặc hấp dẫn hơn. Sự huy hoàng và đồ sộ của kế hoạch đó làm người ta choáng ngợp, nhưng ấn tượng hơn nữa là vẻ trang nghiêm điềm tĩnh đó, sự hoàn toàn chắc chắn của nó về mọi thứ. Không chỉ cá nhân mà luôn cả quốc gia là những con cờ trên ván cờ này, nhưng không một quốc gia hoặc cá nhân nào bị bắt buộc phải đảm nhận bất cứ một vai tṛ nhất định nào. Cơ hội được diễn một vai nào đó được trao cho nó (quốc gia) hoặc cho y; nếu nó hoặc y không chịu nhận lấy, lúc nào cũng sẽ có một vai phụ sẵn sàng bước vào để lấp chỗ trống đó.

Hiện giờ đang có một cơ hội tuyệt vời được trao cho giống dân Anglo-Saxon, cho toàn bộ giống dân phụ Teutonic, nếu họ chỉ cần bỏ xuống những ganh đua, tị hiềm với nhau và nắm lấy nó. Tôi hy vọng với tất cả tấm ḷng của tôi là họ sẽ làm được như vậy, tôi tin rằng nó sẽ là như vậy; nhưng tôi biết một điều này, rằng nếu lỡ không may mà họ thất bại, đă có một quốc gia khác được chọn sẵn để đảm nhận lấy cây vương trượng mà trong trường hợp đó sẽ rơi khỏi tay họ. Sự thất bại như vậy sẽ gây ra một chút chậm trễ trong khi quốc gia mới được thúc đẩy thật nhanh về phía trước để đạt đến tŕnh độ cần thiết, nhưng sau một vài thế kỷ, kết quả y như dự tính sẽ đạt được. Đó là điều hoàn toàn chắc chắn - là mục tiêu chỉ định sẽ đạt được, c̣n thông qua cơ quan nào mà nó sẽ được thực hiện chỉ quan trọng đối với người đại diện nó, nhưng không có nghĩa lư ǵ đối với sự tiến bộ toàn diện của thế giới.

Chúng ta hăy lao ḿnh vào công việc đó, chứ không phải ra khỏi nó, lúc nào cũng cố gắng làm nhiều hơn và nhiều hơn nữa, cũng như tốt hơn và tốt hơn nữa, v́ hiện giờ nếu chúng ta làm tốt trong các công công việc tương đối nhỏ - như trong công việc hoạt động của chi bộ, trong công việc truyền bá, phục vụ mọi người chung quanh chúng ta - chúng ta có thể được cho phép làm một điều ǵ đó lớn lao hơn để giúp dọn đường cho sự tái lâm của Ngài; nếu chúng ta có được vinh dự vẻ vang là thành tâm, cung kính làm cho ḿnh trở nên hữu dụng vào lúc đó, chúng ta có thể được nhanh chóng trao cho các trách nhiệm thậm chí lớn hơn liên quan đến giống dân chính mới, và câu nói ngày xưa sẽ ứng vào người của chúng ta: “Làm tốt lắm, hởi kẻ đầy tớ giỏi giang và trung thành, ngươi đă làm một số nhỏ công việc rất tận tâm. Ta sẽ cho ngươi quản lư nhiều việc hơn nữa. Hăy đi vào trong sự vui mừng của Đức Chúa của ngươi.”

 

THÔNG THIÊN HỌC VÀ

CÁC NHÀ LĂNH ĐẠO THẾ GIỚI

Một nhà Thông Thiên Học thông minh đôi khi không thể nào không tự hỏi tại sao giáo lư Thông Thiên Học, mặc dù chắc chắn là đại diện cho một lư thuyết tiên tiến nhất về sự hiện hữu và một tuyên bố vẹn toàn nhất của trí tuệ siêu phàm nhất hiện thời, lại dường như không có một chút sức thu hút nào đối với nhiều nhà lănh tụ tư tưởng và phát minh lỗi lạc nhất trên thế giới, cho dù đó là về mặt khoa học, nghệ thuật, văn chương, triết lư hoặc tôn giáo. Những người có trí tuệ sắc bén nhất, những người có tinh thần cao thượng nhất, hiển nhiên họ phải là những người đầu tiên hoan nghênh vẻ lộng lẫy, huy hoàng của giáo lư Thông Thiên Học, với một hệ thống rành mạch và hợp lư của nó, với ánh sáng mà nó soi lên các vấn đề sinh tử, cùng với một lư tưởng đẹp đẻ mà nó đặt trước mặt chúng ta. Nhưng thực tế vẫn là họ không hoan nghênh nó, ngược lại có nhiều người trong số họ c̣n làm lơ hoặc thậm chí khinh thường nó. Thái độ của họ thật là một hiện tượng lạ lùng, vậy làm sao chúng ta có thể giải thích được điều này?

Một lần nữa, đối với bản thân chúng ta, nếu để qua một bên một người thật sự quá phi thường như bà Hội Trưởng của chúng ta, chúng ta biết rơ là những nhà Thông Thiên Học như chúng ta về mặt trí tuệ thật thua xa những nhà lănh đạo ưu tú về kiến thức khoa học và triết lư, c̣n về mặt tinh thần và ḷng sùng tín, chúng ta cũng vẫn c̣n thua xa một số Đại thánh trong các tôn giáo mà chúng ta đă từng nghe qua. Tuy nhiên, chúng ta lại có cái vinh dự vô giá là thấy ḿnh được vào Hội Thông Thiên Học, có thể hiểu, tin tưởng, và đồng hoá các lời dạy của nó, trong khi những người khác th́ hiển nhiên không thể. Chúng ta rơ ràng không giỏi hơn họ, theo vài đường lối phát triển cụ thể th́ chúng ta rơ ràng là kém cỏi hơn, vậy tại sao phần thưởng lớn và vinh quang này lại đến với chúng ta mà không phải đến với họ?

V́ đó một phần thưởng cao quư và to lớn - chúng ta không nên lầm lẫn về điều này. Những tĩnh từ mạnh mẽ nhất trong ngôn ngữ, các cách mô tả thi vị nhất mà chúng ta có thể h́nh dung được, vẫn không thể đủ truyền đạt được “Thông Thiên Học là ǵ” đối với những người có thể hiểu được nó, đối với những ǵ nó đă làm được cho những người biết thực hành nó. V́ nó có thể làm được tất cả điều này cho chúng ta là những người b́nh thường, tại sao những người giỏi hơn và xuất chúng hơn lại tỏ ra lănh đạm và không có một chút động ḷng đối với nó?

Họ đúng giỏi hơn và cao cả hơn, đây là một điểm không nên bị lầm lẫn. Trí tuệ của một nhà khoa học xuất chúng là một điều tuyệt vời và đáng mong cầu, nó là đỉnh cao của sự phát triển qua nhiều thời đại. Sức mạnh tinh thần, sự thoát tục siêu phàm và ḷng sùng tín sâu sắc của một vị thánh nhân là đẹp đẽ và tôn quư hơn mọi ngôn từ, và một thánh vị như vậy chỉ đến như là một vương miện của nhiều kiếp nỗ lực tu hành theo đường lối đặc biệt đó. Đây thực sự là những năng khiếu mà không ai có thể khinh thường hoặc phủ nhận: “thật sự chúng c̣n quư hơn vàng - đúng vậy, c̣n quư hơn vàng ṛng, và cũng ngọt ngào hơn mật ong và tổ ong.”

Tuy nhiên, những người sở hữu chúng lại không có viên ngọc trai vô giá của giáo lư Thông Thiên Học, và chúng ta có nó, chúng ta, những người đứng ở đồng bằng và nh́n lên họ đang đứng ở trên các đỉnh núi. Rơ ràng những người xuất chúng này có nhiều thứ mà chúng ta không có, ít nhất nhiều thứ mà trong chúng ta vẫn c̣n là thô thiển, vậy chúng ta có điều ǵ mà họ không có để chúng ta xứng đáng với một vinh dự lớn lao như vậy?

Đây là điều mà chúng ta có được - kiến thức về một hướng đi để phát huy sức mạnh của ḿnh. Chúng ta có nó bởi v́ qua giáo lư Thông Thiên Học, chúng ta có thể hiểu được một điều ǵ đó về sơ đồ tiến hóa của vạn vật, một chút ǵ đó về sự cấu tạo của thế giới, và một điều ǵ đó về mục tiêu và phương pháp của quá tŕnh tiến hoá - và đây không phải chỉ theo một nghĩa bao quát và đại khái mà c̣n có đủ chi tiết để nó có thể được áp dụng vào trong đời sống cá nhân.

Nhưng tại sao tất cả điều này đối với chúng ta, những người nhỏ bé, lại là rơ ràng hơn nhiều so với những người giỏi hơn? Qua chính giáo pháp của Thông Thiên Học, chúng ta biết rằng “cán cân hoàn hảo của tạo hóa chính xác đến dường nào,” rằng không ai có thể nhận lănh được thậm chí bất cứ lợi ích nhỏ nhất nào mà y không xứng đáng; vậy chúng ta đă làm ǵ để xứng đáng với phần thưởng to tát này - chúng ta, những người cũng giống như hàng ngàn người khác, với đầy những khuyết điểm của con người b́nh thường, không tốt hơn nhưng cũng không tệ hơn so với phần đông huynh đệ của chúng ta?

Bất luận là chúng ta đă làm điều ǵ, hiển nhiên nó phải xảy ra ở một kiếp nào khác hơn là kiếp này. Nhiều người trong chúng ta có thể làm chứng rằng khi chúng ta mới gặp giáo lư Thông Thiên Học lần đầu, một cái ǵ đó trong chúng ta lập tức nhảy dựng lên và vui mừng đáp lại sự thu hút của nó, trong sự háo hức thừa nhận về mối liên hệ đồng t́nh với tư tưởng của nó. Tuy vậy, chúng ta cũng đều biết rằng có rất nhiều người giỏi hơn chúng ta mà nó lại không gợi lên được bất cứ một phản ứng nào - những người không hiểu được mức độ nhiệt t́nh của chúng ta đối với nó.

Chúng tôi thường giải thích điều này (và rất đúng) bằng cách nói rằng chúng tôi đă từng gặp qua những chân lư tuyệt vời này trước đây, rằng chúng tôi đă biết được và học hỏi các điều này ở một kiếp trước, c̣n những người bạn không biết quư nó th́ chưa. Nhưng điều đó không giải quyết được vấn đề này, nó chỉ bị đẩy lùi lại một đoạn xa hơn. Tại sao trong kiếp trước chúng ta lại nghiên cứu những điều này, trong khi những người bạn tài giỏi hơn của chúng ta th́ lại không?

Câu trả lời là thế giới này vẫn c̣n trong giai đoạn đầu của quá tŕnh tiến hoá và con người vẫn chưa đủ thời gian để bộc lộ hết mọi khả năng của y. Y phải phát triển chúng theo một tŕnh tự nào đó, phải bắt đầu ở một chỗ nào đó, và mọi người đều khác nhau ở chỗ họ chọn những điểm khởi đầu khác nhau. Chúng ta có những đức tính và khả năng (như chúng là hiện thời) với sự hứng thú của chúng ta về các chủ đề này là v́ trong một quá khứ xa xưa, chúng ta đă từng đưa ra các nỗ lực hết ḿnh về chiều hướng này. Không ai sở hữu bất cứ đức tính ǵ mà y đă không cố gắng bộc lộ nó trong bản thân ḿnh. V́ vậy, nếu những người bạn giỏi hơn của chúng ta có “thiên tài” về những môn ǵ đặc biệt, đó là v́ họ đă gặt lấy năng khiếu đó bằng cách làm việc chăm chỉ trong các kiếp trước. Cũng như vậy, bằng cách học hỏi trong một kiếp khác, chúng ta đă đạt được “năng khiếu” của chúng ta - khả năng hiểu được và trân quư một điều ǵ đó trong chân lư Thông Thiên Học – cũng như họ đă đạt được khả năng xuất chúng của họ về trí tuệ hay ḷng sùng tín qua cách tu tập các đức tính này từ xưa.

Mỗi người chúng ta đă theo đuổi các đường lối tiến hoá khác nhau, bỏ ra nhiều thời gian để phát triển các đức tính khác nhau. Giờ đây, mỗi người chúng ta đều có được những ǵ chúng ta đă bỏ công sức ra để học hỏi, nhưng dĩ nhiên mỗi người chỉ thấy ḿnh thiếu những đức tính mà họ chưa đặc biệt tu tập. Tất cả mọi người chúng ta đều không hoàn mỹ, nhưng không phải tất cả mọi người đều không hoàn hảo theo cùng một kiểu. Rơ ràng chúng ta phải hướng về sự phát triển toàn diện trong tương lai để mỗi người có được những đức tính mà người khác hiện đang có nhưng họ th́ chưa.

Một điểm rất thú vị khác, được bà Hội Trưởng của chúng ta đă nói rơ ở đâu đó, là các nhà lănh đạo tư tưởng vĩ đại hiện thời không thể thủ diễn vai tṛ cụ thể của họ trong quá tŕnh tiến hoá của thế giới một cách trọn vẹn nếu như họ biết được tất cả những ǵ mà chúng ta biết. Đây là giống dân phụ thứ năm của giống dân chính thứ năm, và sự bộc lộ tất cả quyền năng hạ trí là công việc hiện thời đang được đặt ra cho nhân loại. Các nhà lănh đạo này tăng cường nó, vinh hiển v́ nó, gần như tôn thờ luôn nó, đang làm công việc mà họ đă được chỉ định thực hiện cho phần đông nhân loại. Chính v́ họ hoàn toàn tin tưởng vào lư trí, v́ họ nghĩ rằng không có ǵ ngoài nó, mà họ có thể phát huy nó triệt để và đưa nó lên đỉnh cao chót vót. Chính v́ họ chỉ biết đến chừng đó và không hơn nữa mà họ là những con cờ tốt nhất được sử dụng trong phần đặc biệt này của ván cờ vũ trụ. Bởi v́, như Omar Khayyam đă nói:

“Chúng ta như những con cờ,

Cho Ngài đánh cuộc vài giờ mua vui.

Hết đêm rồi lại đến ngày,

Khi th́ chiếu tướng, lúc th́ đoạt quân.

Ván cờ có lúc cũng tàn,

Từng quân cờ nhỏ vào nằm trong kho.”

Tất cả các vĩ nhân này đều là những nhà lănh đạo đă được chỉ định ở một giai đoạn nào đó, và họ đang làm công việc của họ một cách tuyệt vời; chúng ta không thể nào yêu cầu họ phải ngừng lại ngay bây giờ để lắng nghe chúng ta và thông điệp của chúng ta. Sẽ đến một lúc nào đó trong tương lai mà họ sẽ lắng nghe, và lúc đó sự phát triển của cái trí tuyệt vời mà hiện giờ họ đang phát triển sẽ đưa họ đi rất xa và rất nhanh trên con đường huyền môn.

Con người cần phải có ba điều này trước khi có thể hy vọng đạt được sự chân thiện mỹ: trí tuệ, sức mạnh tinh thần, và khả năng phân biện - đức tính cuối cùng trong trường hợp này có thể được định nghĩa là cách biết sử dụng hai thứ kia một cách khôn khéo. Nếu bất cứ một cá tính nào bị thiếu sót, hoạt động của hai cái kia sẽ không thể nào không phạm phải sai lầm ở một mức độ nào đó. Chúng ta luôn thấy điều như thế xảy ra. Một nhà khoa học có thể phát triển trí tuệ đến một mức rất cao, nhưng nếu về mặt tinh thần bản chất của y lại hoàn toàn chưa phát triển, y có thể dùng trí tuệ đó cho mục đích cá nhân thay v́ cho lợi ích chung, hoặc y có thể trở nên vô đạo đức trong việc theo đuổi kiến thức, cũng như một người mổ xẻ thú vật sống. Một người tu hành có thể đạt đến tŕnh độ sùng tín và tinh thần rất mạnh, nhưng v́ thiếu trí tuệ nên y thường khiến ḿnh trở nên lố bịch v́ mê tín dị đoan, hoặc y có thể trở nên thiển cận và thậm chí là một kẻ khủng bố. Hơn nữa, một người tu sĩ và một nhà khoa học có thể phí phạm năng lượng của họ theo đường lối sai lầm chỉ v́ muốn đạt được một sự hiểu biết rơ ràng về kế hoạch vĩ đại của Thượng Đế - thứ chính yếu mà Thông Thiên Học cung cấp.

Con người hiện nay là sản phẩm của những ǵ mà y đă từng làm hoặc suy nghĩ trong quá khứ. Nếu y dành hết năng lượng để phát triển trí tuệ - tốt lắm, y sẽ có trí tuệ mà y đă bỏ sức ra thu hoạch. Tuy nhiên, v́ y cần có thêm khả năng tinh thần và trí phân biện nên bây giờ y cần phải dành hết thời gian để đạt được những khả năng đó. Nếu từ trước đến nay, chủ yếu y chỉ dành thời gian cho ḷng sùng tín, y sẽ đạt được sức mạnh to tát theo đường lối đó, nhưng bây giờ y phải tiến hành phát huy những đức tính khác của trí tuệ và khả năng phân biện mà y vẫn chưa quan tâm đến. Nếu trong các kiếp trước y đă nghiên cứu về kế hoạch vĩ đại của vạn vật, lần này y sẽ quay lại với nhiều khả năng hiểu biết và trực giác để chấp nhận được sự thật, và quả thật đó là một điều tốt cho y; nhưng y vẫn cần phải phát huy từ bên trong ḿnh những đức tính khác mà người khác đă tận tụy trau giồi.

Tiếc thay ở những giai đoạn đầu của sự tiến hoá, bản chất con người lại phát triển theo đường lối khiến họ có khuynh hướng khoe khoang về những ǵ bản thân họ sở hữu và cố gắng đề cao các phẩm chất của ḿnh bằng cách hạ thấp giá trị của người khác thay v́ bắt chước những ǵ tốt nhất ở người khác. V́ vậy, người tu hành và nhà khoa học hiếm khi biết quư trọng lẫn nhau và không ít khi có sự khinh miệt và hiểu lầm nhau. Chúng ta phải cẩn thận không cho phép ḿnh rơi vào cạm bẫy tương tự. Hăy nhớ rằng chúng ta đă tự đặt ra cho ḿnh mục tiêu trước mặt là quả vị Chân Tiên, và một vị Chân Tiên là một người hoàn mỹ với tất cả các đức tính cao quư khác nhau cùng hiện hữu trong bản thân ngài ở mức độ cao nhất.

Trước khi chúng ta đạt đến quả vị Chân Tiên, chúng ta phải phát triển nhiều khả năng tinh thần giống như một vị Đại Thánh trong số các thánh nhân và c̣n hơn thế nữa - nhiều khả năng trí tuệ giống như một nhà khoa học xuất chúng nhất và c̣n hơn thế nữa. V́ vậy, thái độ của chúng ta đối với những người đă có những phẩm chất đáng quư này không nên là lời phê b́nh gay gắt, mà là sự tôn trọng và ngưỡng mộ cởi mở nhất về những ǵ đẹp nhất trong họ, trong khi phẩm chất của chúng ta - kiến thức mà chúng ta có được về diễn tiến của quá tŕnh tiến hoá - sẽ ngăn cản chúng ta bắt chước những khuyết điểm bên cạnh những ưu điểm xuất sắc của họ, những người tuy đă tiến bộ rất xa trên các lộ tŕnh khác nhưng thậm chí vẫn c̣n chưa đạt được đến ngưỡng cửa của con đường chúng ta.

Tất cả những đức tính này đều là cần thiết, và chúng ta c̣n có rất nhiều gian nan phía trước để phát huy những đức hạnh mà chúng ta hiện giờ đang thiếu sót. Tuy nhiên, tôi nghĩ rằng chúng ta có thể tự chúc mừng cho ḿnh về sự lựa chọn mà chúng ta đă thực hiện trong những kiếp trước, khi chúng ta đă tận tuỵ nghiên cứu toàn bộ sơ đồ vĩ đại hầu để hiểu được kế hoạch của Ngài và hợp tác với Ngài trong khả năng khiêm tốn của chúng ta.

V́ vậy, điều này đă làm cho chúng ta (hoặc lẽ ra phải làm cho chúng ta) măn nguyện với phần số của ḿnh, khiến chúng ta có khả năng làm việc tốt nhất trong mọi hoàn cảnh và nh́n thấy điều tốt nhất trong vạn vật. Rất nhiều người hăm hở muốn nh́n thấy điều tệ nhất trong mọi người, để chụp lấy các lỗi lầm trong mọi việc, để t́m một điều ǵ đó để chê bai và bàn căi. Là những nhà Thông Thiên Học, chúng ta phải cố gắng trau giồi một tinh thần hoàn toàn ngược lại; chúng ta nên nh́n thấy một vị Thượng Đế ẩn tàng bên trong mọi người và vạn vật và năng nổ t́m thấy điều tốt chứ không phải điều xấu trong họ. Nếu những người khác coi thường chúng ta, nếu nhà khoa học chế giễu chúng ta là mê tín và không chịu nghe lời giải thích của chúng ta, nếu người sùng đạo nh́n chúng ta với vẻ kinh dị v́ chúng ta không đi theo niềm tin truyền thống và họ khăng khăng bám vào sự tŕnh bày kém cao quư hơn về vị Thượng Đế của họ so với những ǵ chúng ta có thể cho họ, hăy tự cảnh giác rằng chính chúng ta, về phía ḿnh, không phạm phải lỗi lầm tương tự. Dĩ nhiên họ có khuyết điểm của họ, và một trong số đó là thành kiến khiến họ không thể nào chấp nhận được sự thật; hăy cố gắng nhă nhặn bỏ qua những khuyết điểm như thế và chỉ để ư đến những phẩm chất tuyệt vời thật sự xuất sắc của họ - những phẩm chất mà chúng ta phải cố gắng hết ḿnh để bắt chước.

V́ chúng ta hiểu rằng Thượng Đế muốn dùng trí tuệ và ḷng sùng tín của chúng ta để làm việc cho Ngài, chúng ta có một động cơ mạnh nhất có thể tưởng tượng được để phát triển các khả năng này càng nhanh càng tốt, và chúng ta sẽ giảm được rất nhiều rắc rối, rất nhiều sự hành xác và năng lượng bị phí phạm do kiến thức chúng ta đă có được về đường lối mà Ngài muốn các khả năng này được sử dụng. Mọi thứ chúng ta có là từ Ngài, và do đó tất cả những ǵ chúng ta có, hăy nhân danh và theo ư của Ngài để ǵn giữ chúng, để chúng măi về sau chỉ được dùng vào công việc của Ngài.

 

HỒI TƯỞNG

Lần đầu tiên tôi biết về Thông Thiên Học là qua một bản sao cũ của cuốn sách Thế Giới Huyền Bí của Ông Sinnett, nhưng sự tiếp xúc đầu tiên của tôi với một trong các vị Chân Sư đă diễn ra một cách hơi khác thường. Trước đó vài năm, tôi đă từng tham gia vào việc nghiên cứu tâm linh học (spiritualism), và trong quá tŕnh của việc điều tra đó, tôi đă tiếp xúc với hầu hết các người trung gian (đồng bóng) nổi tiếng thời đó và đă nh́n thấy mọi hiện tượng thông thường mà người ta đọc thấy trong sách về chủ đề này. Một người trung gian mà tôi thường qua lại rất nhiều là Ông Eglinton, và mặc dù tôi đă nghe nhiều mẫu chuyện không tốt về ông, tôi phải công nhận rằng trong tất cả các giao dịch của bản thân tôi với ông, tôi nhận thấy ông ấy là một người thẳng thắn, biết điều và lịch sự.

Một trong những kỹ năng đặc biệt của ông là viết lại trên tấm bảng, và tôi thấy rằng nó là một hiện tượng rất hữu ích để cho ai có ḷng ngờ vực xem coi. Phương pháp của nó là như sau:

Trên đường đến một buổi cầu hồn, tôi đă dẫn theo một người có tính hoài nghi vào một tiệm bán sách và thuyết phục y mua hai tấm bảng học tṛ c̣n mới, rồi cho họ gói chúng lại với một mẩu bút ch́ nằm ở giữa. Tôi khuyên y hăy tự kiểm soát lại gói bọc đó để chắc chắn rằng nó đă được cột lại chặt chẽ, rồi niêm phong chỗ cột đó với dấu mộc của y, nếu y có mang theo. Sau đó, tôi dặn y hăy đem theo gói hàng đó và dù có chuyện ǵ xảy ra đi nữa, y cũng không được phép rời khỏi nó nữa bước trước khi hoặc trong buổi cầu hồn. Nếu trong buổi cầu hồn người ta cần phải ngồi xuống nắm tay nhau, tôi khuyên y hăy ngồi lên gói hàng của y. Buổi cầu hồn đă bắt đầu như thế, và thông thường sau đó một lúc th́ có những tiếng gơ hoặc một dấu hiệu nào đó cho thấy một lực lượng đă được tập chung.

Chúng tôi thường ngồi ở một chiếc bàn gỗ vuông nhỏ không có bất kỳ tấm vải nào trên đó, và cách làm việc của Eglinton là lấy một tấm bảng thông thường, đặt lên đó một mẩu bút ch́ và sau đó luồn nó xuống dưới bàn, giữ tấm bảng này ngay ở dưới bề mặt của chiếc bàn. V́ đây là ở giữa ban ngày và chúng tôi chỉ ngồi một ḿnh trong pḥng với người trung gian nên không có cơ hội nào để thay thế nó với các tấm bảng khác đă được chuẩn bị sẵn trước đó hoặc bất cứ thứ ǵ tương tự. Tấm bảng được giữ theo đúng cách đó và chữ viết sẽ hiện ra trên bề mặt được ép sát vào bàn - viết ra câu trả lời cho bất kỳ câu hỏi nào mà chúng tôi chọn đặt ra.

Khi buổi cầu hồn đă diễn ra trong ṿng một lúc th́ tôi hỏi bóng gió rằng liệu các linh hồn tử tế có thể viết lên tấm bảng của chúng tôi không. Gần như lúc nào câu trả lời cũng là được, mặc dù có một vài lần tôi được cho biết là sức lực của họ không đủ mạnh. Sau đó tôi quay sang kẻ hoài nghi và yêu cầu y hăy đưa ra gói có tấm bảng được niêm phong lại nhưng chưa bao giờ được phép rời khỏi y. Thông thường, y sẽ đưa nó ra bằng hai tay ở trên bàn, và Ông Eglinton sẽ nhẹ nhàng đặt một tay lên gói đồ đó.

Dưới điều kiện đó, tôi hỏi người bạn hoài nghi hăy nghĩ ra một câu hỏi, rồi trong khi y vẫn c̣n cầm gói đồ đó, chúng tôi nghe được tiếng viết rất nhanh xảy ra bên trong. Khi ba tiếng gơ được phát ra thông thường để thông báo rằng thông điệp đă được hoàn tất, tôi nói với người bạn hoài nghi đó rằng:

“Bây giờ hăy kiểm tra tấm bảng của anh và sợi dây cột, và hăy khẳng định rằng không có ai đă thôi miên anh hoặc đụng vào gói đồ của anh, sau đó hăy mở nó ra và đọc câu trả lời của anh.”

Nói chung, chúng tôi thường thấy hai mặt của các tấm bảng được ép vào nhau có đầy những câu viết trên đó có liên quan ít nhiều đến câu hỏi thầm trong trí đă được đặt ra. Thông thường, người hoài nghi rất kinh ngạc và thậm chí chết lặng người trong một lúc; nhưng nói chung trong ṿng một tuần y thường viết lại để nói rằng dĩ nhiên là chúng tôi đă gạt y bằng một cách nào đó, và chúng tôi thật sự đă không thấy những ǵ mà chúng tôi nghĩ là chúng tôi thấy.

Ông Eglinton có một vài thực thể được gọi là những nhân vật cố định (control subjects) khác nhau: một người là một cô gái da đỏ tự xưng là Daisy và nói chuyện luyên thuyên cho dù cô ta có được cho cơ hội nói hay không; một người khác là người Á-rập tên là Abdullah, cao hơn một mét tám(6 feet), không bao giờ nói ǵ cả nhưng lại tạo ra những hiện tượng lạ lùng và thường biểu diễn những tṛ xiếc thể hiện một sức mạnh phi thường - tôi đă từng thấy anh ta nhấc lên hai người đàn ông nặng nề cùng một lúc, mỗi người một tay; và một người nữa thường xuyên xuất hiện thứ ba là Ernest, anh ta hiếm khi hiện h́nh, nhưng thường nói chuyện bằng giọng trực tiếp và chữ viết rất có cá tính và trí thức. Một ngày kia trong buổi tṛ chuyện, một điều ǵ đó liên quan đến các Bậc Thầy Trí Tuệ được nhắc đến; Ernest nói về Họ với một thái độ hết sức cung kính và nói rằng anh ta đă có hân hạnh được gặp Họ trong một vài dịp. Tôi lập tức hỏi rằng liệu anh ta có chịu sẵn sàng phụ trách gửi một lời nhắn hoặc một lá thư đến cho Họ hay không, và anh ta nói rằng anh ta rất sẵn sàng và sẽ chuyển nó khi có cơ hội, nhưng không thể nói được chính xác là vào lúc nào.

Liên quan đến vấn đề này, tôi có thể nhắc đến tại đây rằng tôi đă có một ví dụ rất hay sau đó về cách liên lạc không đáng tin tưởng như thế. Khá lâu sau, có một nhà ngoại cảm nào đó viết đến bài báo Ánh Sáng để giải thích rằng không thể nào có những người như các vị Chân Sư, bởi v́ Ernest đă quả quyết nói với y rằng không có. Tôi đă viết đến bài báo đó để nói rằng chính tôi cũng được cho biết từ nguồn gốc không có giá trị đó rằng Chân Sư, và Ernest biết rất nhiều về Họ. Trong mỗi một trường hợp, rơ ràng là Ernest đă biết phản ảnh lại suy nghĩ của chính người hỏi, như các thực thể như vậy thường hay làm.

Để quay lại câu chuyện của ḿnh, tôi lập tức nhận lời hứa hẹn với điều kiện như vậy của Ernest, nói rằng tôi sẽ viết một lá thư đến một trong các vị Chân Sư và sẽ nhờ cậy anh ta nếu người bạn và thầy của tôi là Ông Sinnett chịu đồng ư. Khi vừa nhắc đến cái tên này th́ các “vong linh” trở nên bực bội; Daisy đặc biệt trở nên rất giận dữ và tuyên bố rằng cô không muốn có liên hệ ǵ với Ông Sinnett dưới bất cứ hoàn cảnh nào. Cô ta nói với vẻ tức tối: “Trời ơi, ông ta c̣n gọi chúng tôi là ma quái!” Tuy nhiên, tôi thản nhiên giữ vững lập trường của ḿnh v́ tất cả những ǵ tôi biết về Thông Thiên Học đều đến với tôi từ Ông Sinnett, và do đó tôi cảm thấy rằng tôi không nên đi sau lưng ông ta bằng bất cứ cách nào, hoặc cố t́m một cách liên lạc nào đó mà không cố vấn với ông trước.

Cuối cùng, mặc dù với một thái độ rất tệ, các “vong linh” đồng ư với điều kiện này, và buổi cầu hồn nhanh chóng kết thúc. Khi Ông Eglinton tỉnh lại từ trạng thái xuất thần, tôi hỏi ông ta làm cách nào tôi có thể gửi một lá thư đến Ernest, và ông lập tức nói rằng nếu tôi muốn gửi thư đến cho anh ấy, ông ta sẽ đặt nó vào trong một cái hộp đặc biệt được treo trên tường, và Ernest sẽ lấy nó từ chỗ đó khi anh ta muốn. Sau đó, tôi đi đến Ông Sinnett và hỏi ư kiến của ông về tất cả sự việc này. Ông ấy lập tức tỏ ra rất hứng thú và khuyên tôi hăy nhanh chóng nhận lời và xem điều ǵ sẽ xảy ra.

Vậy là sau đó tôi đă về nhà và viết ra ba lá thư. Lá thư đầu tiên là đến Chân Sư K.H., tŕnh bày với Ngài với tất cả tấm ḷng cung kính của tôi rằng, kể từ lần đầu tiên khi tôi được nghe về Thông Thiên Học, ao ước duy nhất của tôi là muốn làm việc dưới quyền của Ngài như một người đệ tử. Tôi kể cho Ngài nghe về hoàn cảnh của tôi lúc đó và hỏi rằng liệu tôi có cần phải vượt qua thời gian bảy năm tập sự ở Ấn độ mà tôi đă từng nghe nói đến hay không. Tôi đặt lá thư này vào trong một phong b́ nhỏ và niêm phong nó cẩn thận với dấu mộc của tôi. Sau đó, tôi đính kèm nó trong một lá thư viết cho Ernest mà trong đó tôi nhắc lại lời hứa của anh ta và nhờ anh ấy chuyển lá thư này dùm tôi và mang lại hồi âm nếu có. Lá thư thứ hai tôi cũng niêm phong lại một cách tương tự rồi đính kèm nó với một bức thư ngắn đến Ông Eglinton, nhờ ông ta bỏ nó vào cái hộp của ông ấy và báo cho tôi biết nếu có bất cứ ai động đến nó. Tôi có hỏi một người bạn đang ở chung với tôi kiểm tra lại hai lá thư đă được niêm phong bằng kính hiển vi, để nếu chúng tôi có nh́n lại chúng, chúng tôi có thể biết được liệu có ai đă giở tṛ ǵ với chúng hay không. Qua bưu điện, tôi nhận được tin nhắn từ Ông Eglinton, nói rằng ông ấy đă bỏ thư gửi cho Ernest vào hộp thư của anh ta và nó đă biến mất, hơn nữa nếu có bất cứ hồi âm ǵ ông ta sẽ lập tức gửi nó đến cho tôi.

Một vài ngày sau tôi nhận được một lá thư với nét chữ mà tôi không quen biết, khi mở nó ra tôi phát hiện lá thư mà chính tôi viết cho Ernest dường như chưa được mở ra, cái tên “Ernest” trên phong b́ đă bị gạch đi và tên của tôi được viết dưới đó bằng bút ch́. Bạn tôi và tôi lập tức kiểm tra dấu niêm phong với kính hiển vi và không thể phát hiện được bất cứ một dấu hiệu nào của ai đó đă giở tṛ trên lá thư đó, và chúng tôi đều đồng ư rằng nó chưa bị mở ra; tuy nhiên, sau khi mở nó ra, tôi phát hiện rằng lá thư mà tôi viết cho Chân Sư đă biến mất. Tất cả những ǵ tôi t́m thấy bên trong chỉ là lá thư do chính tôi viết cho Ernest, với một vài chữ được viết theo lối chữ rất quen thuộc của anh ấy trên tờ giấy trắng, nói rằng lá thư của tôi đă được giao đến cho vị Chân Sư Cao Cả, và nếu trong tương lai tôi được nhận xét là xứng đáng để nhận được một câu trả lời, Ernest sẽ vui vẻ mang nó lại cho tôi.

Tôi đợi khoảng vài tháng nhưng không có hồi âm, và bất cứ khi nào tôi đến những buổi cầu hồn của Ông Eglinton và t́nh cờ gặp Ernest, tôi đều hỏi anh ta rằng khi nào tôi mới nhận được một câu trả lời. Anh ta lúc nào cũng nói rằng lá thư của tôi đă được giao đến nơi, nhưng chưa có ai nhắc đến việc hồi âm và anh ta không thể làm ǵ được hơn. Sáu tháng sau, tôi nhận được một câu trả lời, nhưng không phải qua Ernest, trong đó Chân Sư nói rằng mặc dù Ngài không nhận được lá thư của tôi (Ngài cũng nhận xét rằng, Ngài vốn không thể nào nhận được một lá thư như vậy từ bản chất của một người sứ giả như thế), Ngài biết tôi đă viết những ǵ và bây giờ Ngài đang bắt đầu trả lời nó.

Ngài nói với tôi rằng thời gian thực tập bảy năm có thể được trải qua ở bất cứ nơi đâu, nhưng Ngài đề nghị tôi nên đến đây một vài tháng để xem liệu tôi có thể làm việc với nhân viên của Trụ Sở Trung Ương hay không. Tôi muốn trả lời rằng hoàn cảnh của tôi không thể nào cho phép tôi đến Adyar ba tháng rồi quay lại tiếp tục với công việc mà tôi đang tham gia. Tuy nhiên, tôi sẵn sàng bỏ xuống công việc đó và cống hiến hết đời ḿnh làm việc cho Ngài. V́ Ernest rơ ràng đă làm cho tôi thất vọng, nên tôi không c̣n biết cách nào khác để chuyển thông tin này đến cho Chân Sư ngoại trừ đưa nó đến cho Bà Blavatsky, và v́ bà sẽ rời Anh quốc ngày hôm sau để về Ấn độ nên tôi vội vàng lên London để gặp Bà.

Khó khăn lắm tôi mới thuyết phục Bà đọc bức thư v́ bà dứt khoát nói rằng những cách liên lạc như vậy chỉ dành riêng cho người nhận. Tuy nhiên, tôi buộc phải nài nỉ và cuối cùng, Bà đă đọc nó và hỏi rằng tôi muốn trả lời như thế nào. Tôi trả lời như đă nhắc ở bên trên và hỏi Bà làm sao tin tức này có thể được chuyển đến Chân Sư. Bà trả lời rằng Ngài đă biết rồi, dĩ nhiên đề cập đến sự liên hệ mật thiết giữa Bà với Ngài, nên bất cứ những thứ ǵ nằm trong tâm thức của Bà cũng nằm trong tâm thức của Ngài, khi Ngài muốn như thế.

Sau đó, Bà nói tôi hăy đợi cạnh bên Bà và không được rời xa Bà v́ bất cứ lư do ǵ. Tôi kiên nhẫn ngồi đợi suốt một buổi trưa và buổi chiều, thậm chí c̣n đi cùng với Bà khá khuya đến nhà Bà Oakley, nơi mà rất nhiều người bạn đă tụ họp ở đó để chào tạm biệt Bà Blavatsky. Bà ngồi trên một chiếc ghế bố bên cạnh ḷ sưởi, đàm luận thật lưu loát với những người hiện diện trong khi vừa vo tṛn một trong các điếu thuốc lá muôn thuở của Bà, khi đột nhiên tay phải của Bà bị giật ra về phía ḷ sưởi một cách kỳ dị và ḷng bàn tay lật ngửa lên trên. Bà nh́n xuống nó một cách ngạc nhiên, cũng như tôi vậy, v́ tôi đang đứng rất gần Bà và chống khuỷu tay trên bệ ḷ sưởi; một số người chúng tôi nh́n thấy rơ ràng một dạng sương trắng được kết tụ trong ḷng bàn tay bà rồi đậm đặc lại thành một tờ giấy được gấp lại mà Bà lập tức đưa ngay cho tôi, nói rằng: “Đây là câu trả lời của anh.” Dĩ nhiên, mọi người trong pḥng đều xúm lại, nhưng Bà bảo tôi ra ngoài để đọc nó, dặn rằng tôi không được cho ai nh́n thấy nội dung của nó. Nó nói rằng trực giác của tôi về việc bỏ xuống mọi thứ và đi đến nơi này là đúng; rằng đó chính là điều mà Ngài muốn tôi làm nhưng không thể nói ra trừ phi chính tôi đề nghị. Vài ngày sau đó, tôi được bảo hăy lấy tàu hơi nước và đến Ai-Cập với Bà Blavatsky, tất nhiên tôi đă thi hành.

Chúng tôi đă ở trong Khách Sạn d’Orient tại Cairo. Đây là lần đầu tiên tôi nh́n thấy một trong các thành viên của Hội Bạch Huynh Đệ. Khi tôi đang ngồi trên sàn nhà dưới chân Bà Blavatsky để soạn lại một số giấy tờ cho Bà, tôi giật ḿnh nh́n thấy đứng giữa chúng tôi một người đàn ông mà không hề đi vào bằng cửa. Đó chính là người hiện giờ là Chân Sư D.K., mặc dù lúc đó Ngài chưa được điểm đạo để trở thành một vị Chân Tiên.

Thời gian chúng tôi ở Ai-Cập với Bà Blavatsky là một kinh nghiệm đáng ghi nhớ theo nhiều phương diện v́ Bà đă nói cho chúng tôi biết rất nhiều về sự kiện phía bên trong của những ǵ chúng tôi thấy ở đó. Bà đă từng ở Ai-Cập trước đó và quen thân với một số quan chức tại đó, với Thủ Tướng Nubar Pasha và Lănh Sự Nga Ông Hitrovo, và đặc biệt với giám đốc viện bảo tàng Ông Maspero. Tôi đặc biệt nhớ rơ chi tiết chuyến đi thăm viện bảo tàng của chúng tôi với quư ông Maspero và Bà Blavatsky đă nói cho ông ấy biết rất nhiều về những điểm thú vị nhất của các món đồ lạ lùng mà ông ta đang bảo quản.

Bà Blavatsky hiểu tiếng Ả Rập, và bà thường làm chúng tôi thích thú bằng cách thông dịch cho chúng tôi những lời nhận xét riêng tư của các thương gia Ả Rập nghiêm túc và trịnh trọng khi họ ngồi nói chuyện với nhau trong chợ. Sau một lúc để cho họ gọi chúng tôi là những con chó Cơ đốc Giáo và nói một cách bất kính về những người phụ nữ thân thuộc của chúng tôi qua nhiều thế hệ, Bà đă hỏi họ một cách thản nhiên bằng ngôn ngữ của họ rằng liệu họ có nghĩ rằng đây là cách mà một tín đồ ngoan đạo của Nhà Tiên Tri (Mohammed) nên nói về những người mà họ hy vọng sẽ kiếm được nhiều lợi lộc trong việc kinh doanh hay không. Những người đàn ông luôn luôn bị bối rối v́ họ không ngờ rằng có một người Âu Châu lại có thể hiểu được ngôn ngữ của họ.

Tuy nhiên, tiếng Ả-rập dường như là tiếng phương Đông duy nhất mà Bà biết, v́ Bà không biết tiếng Phạn; do đó những danh từ Thông Thiên Học của chúng ta gặp nhiều rắc rối bởi v́ nó phát sinh từ sự kiện là vào thời đó, Bà hay diễn tả những ǵ Bà thấy hoặc biết và rồi hỏi lại bất cứ người Ấn độ nào ở gần đó tiếng Phạn của nó là ǵ. Thông thường, quư ông dịch danh từ cho Bà không hiểu rơ ư của Bà, và thậm chí cho dù y có hiểu đi nữa, chúng ta phải nhớ rằng Bà hỏi rất nhiều môn đồ theo các trường phái triết lư khác nhau, nên mỗi người sẽ trả lời tùy theo sắc thái của ư nghĩa được áp dụng cho thuật ngữ đó trong sự học hỏi của họ.

Nhiều hiện tượng kỳ lạ liên tục xảy ra chung quanh Bà vào thời kỳ này. Trước nhất, chính bản thân Bà là một hiện tượng ly kỳ nhất trong tất cả các hiện tượng, v́ Bà thường biến đổi liên tục. Đôi khi chính các Vị Chân Sư sử dụng cơ thể của Bà và viết hoặc nói chuyện trực tiếp thông qua Bà. Lúc khác, khi linh hồn của Bà đang bận rộn ở nơi khác, một đệ tử này hoặc đệ tử nọ trong hai vị đệ tử thuộc cương vị thấp hơn Bà sẽ mượn lấy cơ thể, và thậm chí có đôi lúc một người đàn bà khác sẽ điều khiển nó. Chính bản thân tôi thường chứng kiến tất cả những sự thay đổi này diễn ra, và tôi từng thấy một người đàn ông vừa mới nhập vào cơ thể của Bà phải nh́n chung quanh để t́m hiểu t́nh trạng của hoàn cảnh mà y đă bước vào - chẳng hạn như phải cố gắng tiếp tục chủ đề của cuộc đối thoại. Nhưng bất chấp mọi điều này, Bà không thể được coi giống như là một người trung gian (đồng bóng) b́nh thường theo nghĩa của nó, v́ người chủ nhân thật sự của cơ thể luôn đứng ở phía sau với một tâm thức hoàn toàn tỉnh táo và hiểu rơ chuyện ǵ đang xảy ra.

Tuy nhiên, những hiện tượng thật phi thường đôi khi cũng có xảy ra. Trong lúc chúng tôi vượt qua sa mạc bằng xe lửa từ Ismailia đến Cairo, một lá thư rơi xuống trong toa xe lửa, nhắc đến chủ đề của cuộc đối thoại đang diễn ra và ban cho một lời khen động viên đến tên của mỗi người đang hiện diện. Một người trong nhóm này và tôi đang t́nh cờ nh́n lên lúc đó khi lá thư này xuất hiện, và chúng tôi đồng thấy nó hiện ra trong không gian ngay ở một khoảng trống tṛn trên nóc toa xe lửa, nơi mà lồng đèn được treo vào buổi tối. Nó cũng đến như lá thư kia, như một quả cầu sương mù màu trắng rồi đậm đặc lại thành một tờ giấy và bay nhè nhẹ xuống.

Tôi nhớ có một dịp khác Bà đă mua một lọ dầu mùi hoa hồng bằng hai đồng tiền Anh ở một chợ bán hương ở Cairo để dùng cho pḥng thờ phụng tại đây. Nửa tiếng sau, khi chúng tôi ngồi xuống ăn trưa ở một chiếc bàn nhỏ tại khách sạn đă được đặt sẵn cho nhóm người chúng tôi ở một hốc tường, hai đồng tiền Anh rơi xuống trên bàn của chúng tôi, và Bà Blavatsky giải thích rằng Bà đă được cho biết không nên tiêu tiền trên người Họ bằng cách này, v́ chúng tôi sẽ cần dùng hết số bạc mà chúng tôi đă cầm theo trước khi đến Adyar - một lời tiên tri quả nhiên đă được chứng minh là đúng.

Hết lần này đến lần khác, tôi đă thấy nhiều hiện tượng lạ lùng có liên hệ mật thiết với Bà Blavatsky. Tôi từng thấy Bà làm hiện ra những bức tranh và bài viết, cũng như từng thấy Bà t́m ra một đồ vật bị mất bằng khả năng huyền bí. Tôi đă thấy rất nhiều lần các lá thư cứ rơi xuống từ không gian trước mặt Bà, và tôi phải nói ngay ở đây rằng tôi đă từng thấy một lá thư như vậy rơi xuống nơi căn nhà này tại Adyar khi Bà đang ở cách đây 6,000 dặm bên Anh quốc, và những lần khác khi chính tôi có được vinh dự làm việc cho Chân Sư để chuyển lại những lá thư như vậy sau khi Bà đă ĺa bỏ cơi trần.

Trong những ngày đầu tiên của Hội, những thông điệp và chỉ đạo từ các Chân Sư xảy ra rất thường xuyên, và chúng tôi đă sống ở một mức độ hăng hái tuyệt vời mà những người gia nhập Hội sau khi Bà Blavatsky qua đời khó có thể tưởng tượng được. Những người như chúng tôi từng có vinh dự vô giá được tiếp xúc trực tiếp với các vị Chân Sư đương nhiên có thể giữ được ḷng nhiệt thành đó, nhưng trong những hoàn cảnh kém thuận lợi hơn, chúng tôi đă không thể duy tŕ nó trong hàng ngũ hội viên. Có lẽ bây giờ chúng ta có thể sẽ sớm chứng kiến được sự tái phát của nó - hy vọng rằng mọi người chúng ta đều có thể được xứng đáng tham gia vào thời điểm huy hoàng đang đến!

 

TRUNG THÀNH CHO ĐẾN CHẾT

Cách đây rất lâu ở thời cổ Atlantis, có một vị Vua uy quyền trị v́ Thành Phố Cổng Vàng hùng vĩ. Một ngày kia, Ngài cử một vị tướng quân dẫn quân đi dẹp một bộ lạc nhiễu loạn ở biên cương của Ngài. Vị tướng quân đó đă chiến thắng và được nhà Vua phong thưởng làm Thủ Lănh ngự tiền thị vệ của hoàng cung và được giao phó trách nhiệm bảo vệ người con trai duy nhất là người sẽ thừa kế ngai vàng của Ngài. Không lâu sau đó, vị thủ lănh mới nhậm chức đă có một cơ hội biểu hiện ḷng trung thành của y đối với sứ mệnh của ḿnh, v́ khi ông đang ở một ḿnh với vị Hoàng tử trẻ trong ngự hoa viên th́ một nhóm người âm mưu đă tấn công họ và định ám sát hoàng tử.

Vị thủ lănh đă dũng cảm chiến đấu bất chấp sự chênh lệch quá lớn, và mặc dù ông bị trọng thương nhưng vẫn thành công bảo vệ được Thái Tử khỏi bị thương nghiêm trọng cho đến khi viện binh đến; sau đó, ông và vị Hoàng Tử bất tỉnh đă được cùng khiêng vào trước mặt nhà Vua. Đức Vua nghe xong câu chuyện và đă quay sang vị thủ lănh sắp ĺa đời và phán rằng:

“Ta có thể làm ǵ được cho khanh, người đă hy sinh tính mạng cho ta?”

Vị thủ lănh đáp:

“Hăy cho thần măi măi phục vụ Ngài và con trai của Ngài trong các kiếp tương lai v́ bây giờ đă có sự liên kết bằng máu giữa chúng ta.”

Và với hơi tàn cuối cùng, ông ta nhúng tay vào máu đang chảy ra rất nhanh từ vết thương của ḿnh và chấm nó lên chân của nhà vua và trán của vị Hoàng Tử c̣n đang bất tỉnh. Nhà Vua đưa tay ra để ban phước và trả lời rằng:

“Bằng máu đă đổ v́ Ta và con của Ta, Ta hứa rằng cả khanh và nó sẽ măi phục vụ cho Ta cho đến cuối cùng.”

Và đó là mối dây liên hệ đầu tiên được đúc kết giữa ba vị lănh tụ của nhân loại mà chúng ta đều biết đến, v́ vị Vua vĩ đại đó hiện giờ là Chân Sư Morya, Thái Tử con trai của Ngài là Helena Petrovna Blavatsky, và người Thủ Lănh cấm quân là Henry Steele Olcott. Kể từ đó qua bao nhiêu thời đại, qua bao nhiêu biến cố kỳ lạ, mối liên hệ đó đă được ǵn giữ không hề bị gián đoạn và sự phục vụ vẫn được thực hiện, như chúng ta biết rơ nó sẽ là như vậy trong những thời đại sắp đến.

Kể từ đó với tư cách là Garshasp, Vua của Ba Tư, ông đă bảo vệ và giúp đỡ thành lập h́nh thức của Bái Hỏa Giáo hiện nay, và sau đó với tư cách là vị vua nổi tiếng thế giới Asoka (Vua A-Dục), ông đă ban ra những sắc lệnh tuyệt vời đến ngày nay vẫn c̣n được ghi khắc trên bia đá và cột trụ ở Ấn độ để cho thấy ḷng nhiệt thành và sùng đạo của ông. Vào cuối cuộc đời dài và vất vả đó, ông ta đă nh́n lại nó một cách buồn bă khi nhận thấy rằng thậm chí các thành quả tuyệt vời của ông vẫn c̣n rất xa mục tiêu của ông. Để cổ vơ ông, Chân Sư của ông đă cho ông thấy hai linh ảnh, một thuộc về quá khứ và một thuộc về tương lai. Linh ảnh về quá khứ là cảnh tượng ở Atlantis khi mối liên kết giữa họ được h́nh thành; linh ảnh về tương lai cho thấy Chân Sư của ông sẽ là Đức Bàn Cổ của giống dân chính thứ sáu, và Bà Hội Trưởng sáng lập ra Hội chúng ta sẽ là vị phụ tá phục vụ dưới quyền của Ngài trong công việc cao cả của chức vụ cao quư đó. V́ vậy, vua A-dục đă ra đi trong sự măn nguyện v́ biết chắc rằng trong tất cả mối liên hệ trần thế, mối quan hệ mật thiết nhất giữa Chân Sư và đệ tử sẽ không bao giờ bị cắt đứt.

V́ ông đă từng đảm trách một vai tṛ quan trọng trong việc truyền bá hai tôn giáo trong số các tôn giáo vĩ đại trên thế giới là Bái Hoả Giáo và Phật Giáo, thật là thích đáng cho ông có liên hệ chặt chẽ với công việc của phong trào tuyệt vời này của Hội Thông Thiên Học để thống nhất lại tất cả các tôn giáo. Tuy bản thân ông chưa bao giờ là một vị lănh tụ tôn giáo, ông luôn là một người tổ chức rất đảm đang để thành toàn công việc của Đức Thầy. Trong những kiếp gần đây cũng như trong tất cả các kiếp khác, chỉ nam làm người của ông lúc nào cũng là ḷng trung thành tuyệt đối với Đức Thầy và với công việc mà ông phải làm. Lần đầu tiên tôi gặp ông hơn một phần tư thế kỷ trước đây, đó là nét nổi bật nhất trong tính cách của ông; trong suốt những năm mà tôi biết ông, điểm này điều động mọi hành động của ông trên tất cả các động cơ khác; nó tạo ra nguồn cảm hứng cho lá thư cuối cùng mà ông viết cho tôi chỉ vài tuần trước khi ông qua đời, và nó vẫn là đặc điểm nổi bật nhất của ông ở cơi trung giới, nơi mà ông đă sống kể từ đó.

Nếu chúng ta quay sang các chi tiết ngoài đời về kiếp sống vừa qua của ông, chúng ta cũng t́m thấy một chủ âm như vậy về ḷng tận tụy với nhiệm vụ. Vị Phụ Tá Bộ Trưởng Bộ Quốc Khố Hoa Kỳ đă từng viết cho ông về sự cống hiến của ông cho tổ quốc như sau:

“Tôi muốn nói rằng tôi chưa bao giờ gặp bất cứ người nào nhận lănh trọng trách biểu hiện nhiều năng lực, nhanh nhẹn và uy tín như ông trong suốt thời gian qua. Hơn bao giờ hết, tôi t́nh nguyện làm nhân chứng cho tính cách ngay thẳng và chính trực của ông mà tôi chắc chắn rằng nó tiêu biểu cho cả sự nghiệp của ông và chưa từng bị ai công kích theo sự hiểu biết của tôi. Khi chúng tôi nghĩ về quyền lực và sự tham nhũng, táo bạo của những kẻ gian ác ở các tầng cấp cao trong xă hội mà ông đă từng truy tố và trừng trị, việc ông có thể vượt qua tất cả với danh dự toàn vẹn là một thành tích đáng kể mà ông có thể tự hào, và không ai khác ngồi ở vị trí và làm việc tương tự như của ông có thể đạt được ở nước này.”

Cũng như thế, ông đă thể hiện sức mạnh và năng lực đó trong công việc của Hội Thông Thiên Học. Rất ít hội viên của chúng ta biết được mức làm việc và sự thành công của ông v́ phần lớn những ǵ mà ông đă làm chỉ có thể được đánh giá đúng đắn bởi những người đă từng đi thăm những miền đất ở phương Đông mà ông yêu mến. Việc xây dựng lại và mở rộng trụ sở Trung Ương của Hội tại Adyar là do nỗ lực không ngừng của ông. Chính ông là người đă thành lập một thư viện đồ sộ tại đây và trong buổi lễ khai trương của nó, rất nhiều tu sĩ từ tất cả các tôn giáo hàng đầu trên thế giới đă tụ họp tại đây để cùng nhau ban phước cho sự ra đời của nó - lần đầu tiên trong lịch sử mà các nhà đại diện tôn giáo như vậy đă gặp nhau trong t́nh huynh đệ đại đồng, mỗi người tự do thừa nhận vị trí b́nh đẳng của người khác với chính họ.

Phong trào giáo dục Phật pháp mạnh mẽ trên đảo Tích Lan (Ceylon, Sri Lanka) cũng là do nỗ lực của ông, và cho đến hiện nay, thành tích của ông là đă xây dựng 287 trường Phật Học, nơi mà hơn 35,000 trẻ em đang được dạy dỗ. Ông chính là người đă kết hợp Phật giáo Bắc Tông và Nam Tông trên một diễn đàn chung của một niềm tin sau khi hai môn phái này đă bị chia rẽ với nhau hơn 1,000 năm; ông cũng là người đă đứng lên giáo dục những tầng lớp xă hội đă bị hất hủi và ruồng bỏ.

Ông đă gặp nhiều khó khăn lớn trong việc tổ chức và chỉ đạo một phong trào phức tạp như Hội Thông Thiên Học, tuy nhiên, ông luôn được quần chúng yêu thích ở mọi nơi và được chào đón nồng nhiệt ở mọi quốc gia. Ḷng trung thành tuyệt đối của ông đối với sự phát triển của Hội và sự thành thật trong sáng của ông về mục đích của ḿnh không thể nào không gây ấn tượng với tất cả những người đă gặp gỡ ông. Tôi rất xúc động khi nói về ông v́ tôi đă có nhiều cơ hội đặc biệt để biết rơ về ông. Tôi sẽ không bao giờ quên được sự nhân từ như một người cha của ông đối với tôi khi tôi c̣n là một thanh niên tương đối khá trẻ c̣n mới lạ với cuộc sống ở Ấn độ khi tôi đến trú ngụ tại trụ sở Trung Ương ở Adyar lần đầu tiên.

Kể từ đó, tôi đă gặp ông ở nhiều nước; tôi đă trải qua nhiều tuần sống riêng với ông (ngoại trừ người phiên dịch và một người hầu) trong một chiếc xe ḅ kéo trong khu rừng của xứ Tích Lan (Ceylon); tôi đă từng đồng hành với ông trong quá tŕnh giới thiệu Thông Thiên Học đến Miến Điện vào năm 1885. Dưới những hoàn cảnh thân thiết như vậy, một người sẽ nhanh chóng hiểu rất rơ về một người khác hơn so với nhiều năm quen biết xă giao b́nh thường, và tôi có thể không ngần ngại làm chứng cho sự tận tụy hết ḿnh của ông - thực tế là trong suốt thời gian này, mối lo âu duy nhất của ông là làm sao đẩy mạnh được hoạt động của Thông Thiên Học, suy tư duy nhất của ông là làm thế nào để cho Đức Thầy vui ḷng bằng cách làm tận sức ḿnh với những ǵ đă được giao phó cho ông.

Sự ra đi của ông đối với chúng tôi cũng chỉ vừa mới gần đây để chi tiết của nó vẫn chưa bị lăng quên. Tất cả mọi người chúng tôi đều biết ông đă can đảm chịu đựng những khó nhọc đến độ nào và trong suốt thời gian bệnh hoạn, suy nghĩ duy nhất của ông vẫn là cho lợi ích của Hội yêu quư mà ông đă cống hiến hết đời ḿnh. Chúng tôi c̣n nhớ đến lúc ông phải từ bỏ thể xác, ba người trong số các Bậc Thầy vĩ đại đă đứng bên cạnh ông, cũng như người bạn già và đồng nghiệp của ông, H.P. Blavatsky; chúng tôi đều đă nghe qua bài phúng điếu tuyệt vời của người kế nhiệm ông tại buổi lễ hỏa táng. Lễ thiêu đó là một buổi lễ hoành tráng thật xứng đáng. Giàn thiêu được làm bằng gỗ đàn hương và xác của ông được phủ bằng lá cờ Mỹ và lá cờ Phật giáo, lá cờ Phật Giáo là do chính ông sáng tác với cờ hiệu được sắp theo đúng thứ tự các màu sắc đặc biệt của hào quang Đức Phật.

Ông đă bất tỉnh một lúc sau khi chết, nhưng đă nhanh chóng tỉnh táo lại hoàn toàn và hoạt động tích cực. V́ tôi luôn gắn bó rất thân thiết với ông nên Chân Sư của ông đă bảo tôi đóng vai tṛ làm người hướng dẫn cho ông khi cần thiết và giải thích cho ông bất cứ điều ǵ mà ông muốn. Ông lúc nào cũng có hứng thú với các quyền năng và cơ hội ở cơi trung giới, và ngay khi ông có thể nh́n thấy được rơ ràng ở cơi trung giới, ông đă bắt đầu háo hức muốn học hỏi không ngừng để biết hết mọi thứ được thực hiện như thế nào, nguyên lư căn bản của chúng ra sao, và học cách tự ḿnh làm được chúng. Ông có một ư chí mạnh mẽ khác thường theo một số chiều hướng nhất định, và điều này làm cho nhiều thí nghiệm của ông trở nên dễ dàng mặc dù chúng vẫn là mới lạ đối với ông. Ông rất có khiếu đối với công việc đ̣i hỏi việc sử dụng sức mạnh theo một cách nào đó - để đấu tranh, để chữa bệnh hoặc pḥng thủ. Ông có nhiều kế hoạch lớn cho tương lai và vẫn ôm bầu nhiệt huyết như thuở nào về Hội mà ông yêu thích.

Sự chú ư của ông đă bị lôi cuốn bởi suy nghĩ mạnh mẽ của tôi về ông khi bài này được viết ra; ông hiện đang đứng bên cạnh tôi và khăng khăng bảo rằng tôi phải chuyển đến các hội viên lời khuyên chân thành nhất của ông, đó là hăy hết ḷng trung thành và ủng hộ người kế nhiệm cao quư của Hội. Hăy gạt bỏ lập tức và vĩnh viễn mọi tranh chấp đáng tiếc về tư cách, mọi tranh căi vô ích về những vấn đề vốn không phải là chuyện của họ và dĩ nhiên sẽ được dự liệu là khó hiểu đối với họ, và nên hướng sự chú ư của họ đến một vấn đề quan trọng duy nhất - đó là công việc mà Hội phải thực hiện trên thế giới này. Thông điệp của ông cho họ là: “Hăy quên đi chính ḿnh, những giới hạn và thành kiến của bạn, và hăy truyền bá chân lư của Thông Thiên Học.”

Chúng tôi chỉ có thể nói rất ít về tương lai của ông. Đến khi các ḍng chữ này xuất hiện trước mặt độc giả, rất có thể ông đă đầu thai rồi. Ông tha thiết mong muốn điều này để có thể làm việc cùng Bà Blavatsky trong kiếp hiện tại của Bà. Tôi không thể nói được liệu ước mơ này của ông có thể được cho phép thực hiện đến đâu. Chắc chắn ông sẽ được tuyển dụng ở bất cứ nơi nào mà các vị Chân Sư nghĩ rằng ông sẽ là hữu dụng nhất. Ông có tài tổ chức rất giỏi và chúng ta đă thấy ông thực hiện nó trong Bái Hỏa giáo, trong công cuộc truyền giáo vĩ đại của Phật giáo, và trong công việc thành lập Hội Thông Thiên Học. Chắc chắn ông có thể được chỉ định làm một công việc tương tự liên quan đến một tôn giáo lớn tiếp theo, và một lần nữa, đến việc thành lập Giống Dân Chính Thứ Sáu. Dù thế nào đi nữa, con người vĩ đại mà chúng ta đă biết đến trong kiếp sống cuối cùng của ông là Henry Steele Olcott sẽ sẵn sàng nhận lănh vai tṛ của ḿnh trong mọi hoạt động tương tự như vậy để lănh đạo chúng ta như ông đă từng dẫn dắt chúng ta như trước đây, tận tụy phục vụ Chân Sư của ông hơn bao giờ hết, trung thành như mọi khi trong lúc sống cũng như chết.

 

KHÓA HỌC

THÔNG THIÊN HỌC

Những ai muốn nghiên cứu Thông Thiên Học một cách tường tận tốt nhất nên làm quen từ từ với toàn bộ văn chương của nó. Đây không phải là một chuyện dễ làm, và thứ tự mà các tác phẩm nên được đọc là quan trọng cho những ai muốn rút tỉa được những điều hay nhất có thể từ chúng. Tuy nhiên, đồng thời chúng ta phải nhớ rằng không có một quy định về thứ tự nào có thể phù hợp cho mọi người; có những người chỉ có thể tiếp thu kiến thức theo đường lối sùng tín, trong khi những người khác phải có một sự tŕnh bày về chân lư một cách khoa học, vắng mặt các cảm xúc. V́ vậy, điều tốt nhất tôi có thể làm là vạch ra một kế hoạch đọc sách mà tôi thấy là có hiệu quả nhất nói chung, tuy vẫn chừa chỗ cho những thay đổi đáng kể hầu thích nghi với từng phong cách riêng của mỗi người.

Đối với tôi, dường như một điều vô cùng quan trọng là phải có một sơ lược rơ ràng về toàn bộ giáo lư trong tâm trí trước khi cố gắng điền vào các phần chi tiết. Không ai có thể biết được phần nào của giáo lư Thông Thiên Học có đủ sức thuyết phục người khác cho đến khi y hiểu được toàn bộ giáo lư đó và thấy làm thế nào mỗi phần riêng biệt được chứng minh và hổ trợ bởi phần c̣n lại, và phần đó quả là một phần thiết yếu của giáo lư nói chung. V́ vậy, lời khuyên của tôi là người mới bắt đầu t́m hiểu nên đọc các tài liệu cơ bản trước tiên, đừng quá bận tâm về chi tiết, mà thay vào đó nên t́m cách tiếp thu và đồng hóa các ư tưởng đại cương chứa đựng trong đó để hiểu được ngụ ư của chúng và nhận thức được rằng chúng là các sự thật trong thiên nhiên, do đó đặt ḿnh vào một cái có thể được gọi là thái độ của nhà Thông Thiên Học và học cách nh́n mọi thứ từ quan điểm của Thông Thiên Học.

Để đạt được mục đích này, người học tṛ có thể đọc Đại Cương Thông Thiên Học (An Outline of Theosophy), Điều Bí Ẩn của Đời Sống (The Riddle of Life), Gợi Ư cho các Học Sinh Trẻ về Huyền Bí Học (Hints to Young Students of Occultism), và các bài giảng khác nhau của Bà Besant và tôi đă được phát hành dưới dạng các cuốn sách mỏng để truyền bá. Khi y cảm thấy ḿnh đă nắm khá vững các cuốn sách này, tôi xin giới thiệu tiếp theo Những Bài Giảng Thông Thiên Học Phổ Biến (Popular Lectures on Theosophy) của Bà Besant và sau đó là cuốn sách Minh Triết Cổ Truyền (Ancient Wisdom), trong đó sẽ cho y một ư tưởng rơ ràng về toàn bộ giáo lư Thông Thiên Học. Một cuốn sách khác có thể rất hữu ích cho y ở giai đoạn này là Vài Cái Nh́n Thoáng Qua về Huyền Bí Học (Some Glimpses of Occultism). Sau đó, y có thể tiếp tục t́m hiểu thêm chi tiết về bất cứ hướng nào hấp dẫn nhất đối với y.

Nếu y chủ yếu quan tâm về mặt đạo đức, những cuốn sách hay nhất là: Dưới Chân Thầy (At the Feet of the Master), Ánh Sáng trên Đường Đạo (Light on the Path), Tiếng Nói Vô Thinh (The Voice of Silence), Con Đường của Người Đệ Tử (The Path of Discipleship), Trước Đền Thánh Điện (In the Outer Court), Các Quy Luật của Đời Sống Cao Thượng (The Laws of the Higher Life), Tam Đạo và Pháp (The Three Paths and Dharma), Chí Tôn Ca (Bhagavad-Gita).

Ai muốn nghiên cứu về đời sống sau khi chết sẽ t́m thấy những ǵ y muốn trong: Bên Kia Cửa Tử (The Other Side of Death), Cơi Trung Giới (The Astral Plane), Cái Chết và Sau Đó (Death and After), Cơi Trời Chân Phúc (The Devachanic Plane).

Nếu y muốn tiến đến từ mặt khoa học, các cuốn sách sau đây sẽ thích hợp với y: Phật Giáo Bí Truyền (Esoteric Buddhism), Những Bí Ẩn của Thiên Nhiên (Nature’s Mysteries), Những Chứng Thực Khoa Học về Thông Thiên Học (Scientific Corroborations of Theosophy), Hóa Học Bí Truyền (Occult Chemistry), Vật Lư Học của Giáo Lư Bí Truyền (The Physics of the Secret Doctrine).

Nếu y thích học so sánh giữa các tôn giáo, y nên đọc: Sách Học Phổ Quát về Tôn Giáo và Đạo Đức (Universal Textbook of Religion and Morals), Bốn Tôn Giáo Lớn (Four Great Religions), Các Định Luật Vĩ Đại (The Great Laws), Chí Tôn Ca, Gợi Ư về cách Nghiên Cứu Chí Tôn Ca (Hints on the Study of the Bhagavad-Gita), Áo Nghĩa Thư (The Upanishads), Trí Tuệ của Áo Nghĩa Thư (Wisdom of Upanishads), Sách Học Cao Đẳng về Ấn độ giáo và Đạo Đức (An Advanced Textbook of Hindu Religion and Ethics), Ánh Sáng Phương Đông (The Light of Asia), Phật Giáo Vấn Đáp (A Buddhist Catechism), Các Bài Giảng Phật Pháp Phổ Biến (Buddhist Popular Lectures), Các Vấn Đề Tôn Giáo ở Ấn Độ (The Religious Problems in India).

Nếu y chủ yếu thích suy nghĩ về cách Cơ Đốc Giáo tŕnh bày các chân lư này, những cuốn sách hay nhất là: Cơ Đốc Giáo Bí Truyền (Esoteric Christianity), Tín Điều Cơ Đốc Giáo (The Christian Creed), Các Mảnh Vụn của một Đức Tin Bị Bỏ Quên (Fragments of a Faith Forgotten), Con Đường Thiện Mỹ (The Perfect Way).

Nếu ai muốn điều tra nguồn gốc và lịch sử ban đầu của Cơ Đốc Giáo, ngoài các cuốn sách về chủ đề này đă được đề cập ở trên, các tác phẩm của Ông Mead sẽ đặc biệt hấp dẫn y: Chúa Jesus đă sống 100 năm trước Công Nguyên? Kinh Phúc Âm và kinh Phúc Âm và kinh Phúc Âm, Orpheus và Plotinus (Did Jesus Live B.C. 100? The Gospel and the Gospel and the Gospel, Orpheus and Plotinus).

Học sinh nào muốn áp dụng giáo lư Thông Thiên Học vào tư tưởng thế giới hiện đại và những vấn đề chính trị và xă hội có thể tham khảo một cách hữu ích: Một Thế Giới Đổi Thay (The Changing World), Vài Vấn Đề trong Đời Sống (Some Problems of Life), Thông Thiên Học và Đời Sống Thế Nhân (Theosophy and Human Life), Các Bài Luận về Huyền Môn Học (Occult Essays) Thông Thiên Học và một Môn Tâm Lư Học Mới (Theosophy and the New Psychology).

Trong trường hợp của hầu hết học giả, nếu mối quan tâm chính của y là để có được một kiến thức rộng răi và một sự hiểu biết sâu sắc hơn về đời sống từ sự nghiên cứu về huyền bí học, ngoài nhiều cuốn sách đă được đề cập ở trên, y nên đọc: Khảo Cứu về Tâm Thức (A Study in Consciousness), Giới Thiệu về Thiền (An Introduction to Yoga), Thông Nhăn (Clairvoyance), Giấc Mộng (Dreams), Những Người Cứu Trợ Vô H́nh (The Invisible Helpers), Con Người Hữu H́nh và Vô H́nh (Man Visible and Invisible), H́nh Tư Tưởng (Thought-Forms), Quá Tŕnh Tiến Hoá của Sự Sống và H́nh Thể (The Evolution of Life and Form), Quyền Năng Tư Tưởng - Sự Kiểm Soát và Trau Dồi (Thought-Power: Its Control and Culture), Bên Kia Cửa Tử (The Other Side of Death) và hai tập Đời Sống Nội Tâm (The Inner Life).

Y nên nắm được các chủ đề được đề cập trong các cuốn cẩm nang về Luân Hồi (Reincarnation), Nhân Quả (Karma), Con Người và Các Dẫn Thể (Man and his Bodies). Quả thật, các chủ đề này nên được đọc ở giai đoạn đầu của quá tŕnh đọc sách của y.

Một người học sinh thành khẩn có ư định sống theo giáo lư Thông Thiên Học, cũng như chỉ nghiên cứu nó về mặt trí tuệ, cũng nên có một kiến thức về mục đích bên trong của Hội Thông Thiên Học. Y sẽ đạt được điều này từ Những Bài Giảng tại Luân Đôn năm 1907 (London Lectures of 1907)Một Thế Giới Đổi Thay của Bà Besant, Đời Sống Nội Tâm (2 tập), cũng như từ nghiên cứu Những Trang Nhật Kư Cũ (Old Diary Leaves) của Đại Tá Olcott, và Thế Giới Huyền Bí (Occult World) của Ông Sinnett và Những Sự Cố trong Đời Sống của Bà Blavatsky (Incidents in the Life of Madame Blavatsky).

Bốn cuốn sách hiện đang được chuẩn bị nên được bổ sung vào trong danh sách trên ngay sau khi chúng xuất hiện: Sách Giáo Khoa Thông Thiên Học (A Textbook of Theosophy), cố gắng tŕnh bày các giáo lư Thông Thiên Học dưới h́nh thức đơn giản nhất có thể và không dùng các từ chuyên môn; Khía Cạnh Ẩn Khuất của Mọi Vật (The Hidden Side of Things), cho thấy làm thế nào kiến thức về huyền môn học thay đổi quan niệm của chúng ta về mọi vấn đề thực tế nhỏ nhặt trong đời sống hàng ngày; Con Người: Từ Đâu Đến, Như Thế Nào và Đi về đâu? (Man: Whence, How, and Whither?) tường tŕnh rất chi tiết về quá tŕnh tiến hoá của con người trong quá khứ và tiết lộ một điều ǵ đó về tương lai đứng trước mặt của y; Các Nguyên Tắc Đầu Tiên của Thông Thiên Học (First Principles of Theosophy), giải thích toàn bộ chủ đề từ quan điểm khoa học và tŕnh bày nó từ một cái nh́n hoàn toàn mới lạ.

Khoá học mà tôi đă chỉ ra ở trên có nghĩa là một người b́nh thường phải mất một vài năm đọc sách chăm chỉ, nhưng một người đă đạt được nó và cố gắng áp dụng những ǵ họ đă học vào thực tế chắc chắn sẽ có khả năng giúp đỡ rất nhiều cho đồng loại của ḿnh.