Thinking and Destiny 16



The threatenings of a god cause fear. The human fears that he is not immortal. He fears the wrath of his God. He senses that he does wrong, and that he cannot help but do wrong when temptation beckons. These conditions of the human are permitted by the Triune Selves to impress a moral code upon him. The gods are quite willing to pose as the lawgivers and dictators. Human priests are ready to take advantage of the ignorance and the fear of the human beings. So the moral code given by the Triune Selves is used at the same time by nature gods and their priests to maintain themselves and to keep the doers in human beings in dependence. The teaching of the "wrath of God" and the doctrine of "original sin," are illustrative of this. Yet these doctrines have a meaning.

The wrath of God. The destiny of humanity. The innate faith in justice.

The thoughts of one life which have not been adjusted are carried over by the doer to the next life, and to the next; and from one civilization to another, until they are adjusted. Families, tribes, cities, nations, civilizations and the whole of humanity have their destiny. The presence of the destiny of humanity is one of the sources from which comes the feeling of assurance that justice rules the world. The other source is the idea of justice. This idea is inherent in the doer of every human; and because of it, man fears the "wrath of God" and asks for "mercy." The wrath of God is the accumulation of wrong actions which, like Nemesis, pursues ready to overtake, as soon as the conditions are ripe. This feeling of the destiny of humanity is shared by all its members; it causes mankind to try to propitiate some unseen being, and is made one of the foundations of religion. The mercy which man seeks is likewise a source of religion; he seeks it that he may have his just deserts removed. Removal is impossible, but the pressure of one's thoughts the suppliant for mercy is able to meet the exteriorizations of his thoughts. Mercy is asked by those who feel themselves too weak, or who are too fearful or too selfish to let the law be fulfilled. Besides the fear of the "wrath" or "vengeance" of God, and in addition to the desire for "mercy," there is in man a faith that somewhere in the world notwithstanding all the seeming injustice there is, though unseen and not under-stood, adjustment and justice. This inherent faith in justice is self-existent in the doer of man. It blossomed when the aia was raised to be a Triune Self. But to evoke this faith it requires some crisis in which man is thrown upon himself by the seeming injustice of others. The faith in justice is part of the intuition of immortality, which persists in the heart of man despite his agnosticism and materialism, and adverse conditions which harden him. The intuition of immortality is the underlying know-ledge that the doer comes into being in the Eternal, not in time; that it has fallen into time; that man is able to live and will live through the seeming injustice that is imposed upon him; and that he will live to right the wrongs which he has done. The idea of justice, innate in the heart of man, is the one thing which saves him from cringing for the favor of a wrathful god. The idea of justice causes a man to look fearlessly into another's eye, even though he may be conscious that he must suffer for a wrong he has done. The fear of the wrath and vengeance of God, the desire for mercy, faith in the eternal justice of things these are evidences of the doer's recognition of the destiny of humanity.

The story of original sin.

The story of original sin is not without basis; it is a fable which conceals some true traditions. One of these has to do with the procreation of the bodies of human beings. Many events are covered by this mythology. The doers who were affected by the events feel a truth under the story of original sin. The details of the story are in some ways related to the original events, but are twisted, inaccurate and childish. Nevertheless the story has power because doers are conscious of truths which are concealed in it. The naive story covers a history of disquieting results. The use of the procreative power was the "original sin." The result following the procreative act was to give to the human race the tendency to unlawful procreation; and this tendency was one of the means of bringing on ignorance and death in the world. The penalty of the original sin of the doer is that they are now dominated by that which they originally refused to govern. When they could govern they would not; now that they would govern, they cannot. One proof of that ancient sin is present with every human in the sorrow that follows an act of mad desire which, even against his reason, he is driven to commit. Another evidence is the existence on earth of what today is spoken of as the lower human races. This and other events which underlie the legend of original sin have consequences which reach the present day. They all come from times when doers knew right from wrong and were therefore responsible. They could not stand still, but had to go on or back, one way or the other. They had to decide; and they gave in to the temptation of pleasure. They now give way to sensation and assent to their desires. They look into darkness rather than into the Light. Their destiny has followed them through the ages; it has led them deeper into wrong until now the degree of doers in human bodies is that of sense-bound doers; their feelings and desires are ruled and enfeebled by sensations, and the Light of the Intelligence is obscured in them. They are dimly conscious of events for which they were responsible. This is one of the reasons why the doctrine of original sin has found a response in the hearts of so many. But the origin of the story of original sin was when the doer in its perfect body was in the Realm of Permanence.
There, in the trial test for bringing its feeling-and-desire into balanced union, it failed. Therefore it came into this world of birth and death, and it periodically re-exists in a man body or in a woman body.

The moral code in religions.

The unit which is now the Triune Self of the doer-in-the-body was once a primordial unit in nature, and later progressed through all stages in a perfect body in the Realm of Permanence before its doer "fell" and came into a human body in this human world of change; that is, it functioned in all parts and systems of the perfect nature university machine, the perfect body. Thus it functioned successively as the organ unit of each of the organs in each of the four systems of that perfect body; then it became the manager of each system in succession, and at the same time functioned as, and was one of, the four senses; eventually the unit became the breath-form; and as breath-form it managed the four systems and the body as a whole. The breath-form unit became the aia. Finally, because of the guidance and the Light of its Intelligence, the aia in turn became a Triune Self the Triune Self of the Intelligence which had previously been a Triune Self, (Fig. II-G, H). The Triune Self is not nature, but it progressed through and advanced beyond nature. The Triune Self is not an Intelligence; but it is always within the sphere of its Intelligence, and the Light of its Intelligence is in it. The four senses are the roots of nature in or around the doer now in the human body. Nature draws nourishment from the doer-in-the-body and the doer gets experience from nature. This exchange is made possible by the Light of the Intelligence winch is with the Triune Self, not with nature. The voice or pull of nature is experienced as a feeling, a longing. The doer responds by worship and belief and fashions for itself gods out of nature.


Những lời đe dọa của một vị thần gây ra sự sợ hăi. Con người sợ rằng ḿnh không bất tử. Anh ta sợ cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời của anh ta. Anh ta cảm nhận được rằng anh ta làm sai, và anh ta không thể không làm sai khi bị cám dỗ vẫy gọi. Những điều kiện này của con người được cho phép bởi các Triune Self để gây ấn tượng với một quy tắc đạo đức cho anh ta. Các vị thần khá sẵn sàng đóng vai những người tuân thủ luật pháp và độc tài. Các linh mục của con người sẵn sàng lợi dụng sự thiếu hiểu biết và sự sợ hăi của con người. V́ vậy, quy tắc đạo đức được đưa ra bởi chính các vị thần Triune được sử dụng đồng thời bởi các vị thần tự nhiên và các linh mục của họ để duy tŕ bản thân và giữ cho những hành giả trong con người phải lệ thuộc. Sự dạy dỗ về "cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời" và giáo lư về "tội tổ tông" là minh họa cho điều này. Tuy nhiên, những học thuyết này có một ư nghĩa.

Cơn thịnh nộ của Chúa. Số phận của loài người. Niềm tin bẩm sinh vào công lư.

Những suy nghĩ của một đời sống chưa được điều chỉnh sẽ được hành giả chuyển sang đời sau, và sang đời sau; và từ nền văn minh này sang nền văn minh khác, cho đến khi chúng được điều chỉnh. Gia đ́nh, bộ lạc, thành phố, quốc gia, nền văn minh và toàn thể nhân loại đều có số phận của họ. Sự hiện diện của số phận nhân loại là một trong những nguồn gốc từ đó mang lại cảm giác đảm bảo rằng công lư sẽ cai trị thế giới. Nguồn khác là ư tưởng về công lư. Ư tưởng này vốn có trong hành giả của mỗi con người; và v́ nó, con người sợ hăi "cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời" và cầu xin "ḷng thương xót." Cơn thịnh nộ của Chúa là sự tích tụ của những hành động sai trái, giống như Nemesis, theo đuổi để sẵn sàng vượt qua, ngay khi các điều kiện chín muồi. Cảm giác này về số phận của nhân loại được chia sẻ bởi tất cả các thành viên của nó; nó khiến nhân loại cố gắng ủng hộ một số hữu thể vô h́nh, và được coi là một trong những nền tảng của tôn giáo. Ḷng thương xót mà con người t́m kiếm cũng là một nguồn gốc của tôn giáo; anh ta t́m kiếm nó để anh ta có thể loại bỏ những sa mạc vừa mới của ḿnh. Việc loại bỏ là không thể, nhưng áp lực suy nghĩ của một người mà người cầu xin ḷng thương xót có thể đáp ứng sự mở rộng của suy nghĩ của anh ta. Ḷng thương xót được cầu xin bởi những người cảm thấy bản thân quá yếu đuối, hoặc quá sợ hăi hoặc quá ích kỷ để luật pháp được thực hiện. Bên cạnh nỗi sợ hăi về "cơn thịnh nộ" hay "sự báo thù" của Thiên Chúa, và ngoài ḷng khao khát "ḷng thương xót", con người c̣n có một đức tin rằng ở đâu đó trên thế giới này, bất chấp mọi sự bất công dường như vẫn có, dù không nh́n thấy và cũng không dưới. -trực tiếp, điều chỉnh và công lư. Niềm tin cố hữu vào công lư này tự tồn tại trong con người. Nó nở rộ khi aia được nâng lên thành một Triune Self. Nhưng để khơi dậy đức tin này, nó đ̣i hỏi một cuộc khủng hoảng nào đó, trong đó con người bị ném vào ḿnh bởi sự bất công dường như của người khác. Niềm tin vào công lư là một phần của trực giác về sự bất tử, vẫn tồn tại trong trái tim của con người bất chấp thuyết bất khả tri và chủ nghĩa duy vật của anh ta, và những điều kiện bất lợi đă làm anh ta khó khăn. Trực giác về sự bất tử là bí quyết tiềm ẩn mà kẻ làm được trong Vĩnh hằng, không phải trong thời gian; rằng nó đă rơi vào thời gian; người đàn ông đó có thể sống và sẽ sống qua sự bất công dường như áp đặt lên anh ta; và rằng anh ta sẽ sống để làm đúng những điều sai trái mà anh ta đă làm. Ư tưởng về công lư, bẩm sinh trong trái tim của con người, là thứ giúp anh ta thoát khỏi việc thu ḿnh v́ sự ưu ái của một vị thần phẫn nộ. Ư tưởng về công lư khiến một người đàn ông sợ hăi nh́n vào mắt người khác, mặc dù anh ta có thể ư thức được rằng anh ta phải chịu đựng những sai trái mà anh ta đă làm. Nỗi sợ hăi trước cơn thịnh nộ và sự báo thù của Đức Chúa Trời, khao khát ḷng thương xót, niềm tin vào công lư vĩnh cửu của mọi thứ, đây là những bằng chứng về sự công nhận của hành giả đối với vận mệnh của nhân loại.

Câu chuyện về tội tổ tông.

Câu chuyện về tội tổ tôngkhông phải là không có cơ sở; nó là một câu chuyện ngụ ngôn che giấu một số truyền thống có thật. Một trong những điều này có liên quan đến quá tŕnh sinh sản của cơ thể con người. Nhiều sự kiện được bao phủ bởi thần thoại này. Những người bị ảnh hưởng bởi các sự kiện cảm thấy một sự thật dưới câu chuyện về tội nguyên tổ. Các t́nh tiết của câu chuyện theo một số cách liên quan đến các sự kiện ban đầu, nhưng xoắn, không chính xác và trẻ con. Tuy nhiên, câu chuyện có sức mạnh bởi v́ những hành giả đều nhận thức được sự thật được che giấu trong đó. Câu chuyện ngây thơ bao gồm một lịch sử của những kết quả đáng kinh ngạc. Việc sử dụng sức mạnh sinh sản là "nguyên tội." Kết quả sau hành động sinh sản là tạo ra cho loài người xu hướng sinh sản bất hợp pháp; và khuynh hướng này là một trong những phương tiện dẫn đến sự ngu dốt và chết chóc trên thế giới. H́nh phạt của tội nguyên tổ của kẻ làm là bây giờ họ bị chi phối bởi tội mà ban đầu họ từ chối cai quản. Khi họ có thể quản lư, họ sẽ không; bây giờ họ sẽ quản lư, họ không thể. Một bằng chứng về tội lỗi cổ xưa đó hiện diện với mỗi con người trong nỗi buồn sau một hành động ham muốn điên cuồng mà ngay cả khi chống lại lư trí của anh ta, anh ta cũng bị buộc phải phạm tội. Một bằng chứng khác là sự tồn tại trên trái đất của những ǵ ngày nay được gọi là các chủng tộc thấp hơn của con người. Sự kiện này và các sự kiện khác làm cơ sở cho truyền thuyết về tội nguyên tổ có hậu quả đạt đến mức cao nhất t ngày. Tất cả đều đến từ những thời điểm mà những hành giả đúng sai và do đó phải chịu trách nhiệm. Họ không thể đứng yên mà phải đi tiếp hoặc quay lại, bằng cách này hay cách khác. Họ phải quyết định; và họ đă đầu hàng trước sự cám dỗ của thú vui. Bây giờ họ nhường chỗ cho cảm giác và đồng ư với mong muốn của họ. Họ nh́n vào bóng tối hơn là nh́n vào Ánh sáng. Số phận của họ đă theo họ qua các thời đại; nó đă khiến họ đi sâu hơn vào sai lầm cho đến bây giờ mức độ của những hành giả trong cơ thể con người là mức độ của những hành giả việc có giác quan; cảm xúc và ham muốn của họ bị cai trị và được kích thích bởi cảm giác, và Ánh sáng của Trí tuệ bị che khuất trong họ. Họ lờ mờ ư thức về những sự kiện mà họ phải chịu trách nhiệm. Đây là một trong những lư do tại sao học thuyết về tội nguyên tổ đă t́m thấy lời đáp trong trái tim của rất nhiều người. Nhưng nguồn gốc của câu chuyện về tội nguyên tổ là khi kẻ gây ra trong cơ thể hoàn hảo của nó đang ở trong Cơi Thường hằng.
Ở đó, trong bài kiểm tra thử nghiệm để đưa cảm giác và mong muốn của nó vào sự kết hợp cân bằng, nó đă thất bại. Do đó, nó đi vào thế giới sinh và tử này, và nó định kỳ tái tồn tại trong cơ thể đàn ông hoặc trong cơ thể phụ nữ.

Quy tắc đạo đức trong các tôn giáo.

Đơn vị mà bây giờ là Triune Self của người trong cơ thể đă từng là một đơn vị nguyên thủy trong tự nhiên, và sau đó tiến triển qua tất cả các giai đoạn trong một cơ thể hoàn hảo trong Vương quốc Thường hằng trước khi kẻ làm chủ nó "ngă xuống" và trở thành một cơ thể con người trong thế giới con người thay đổi này; nghĩa là, nó hoạt động trong tất cả các bộ phận và hệ thống của cỗ máy đại học thiên nhiên hoàn hảo, cơ thể hoàn hảo. Do đó, nó hoạt động liên tục như đơn vị cơ quan của từng cơ quan trong mỗi hệ thống trong bốn hệ thống của cơ thể hoàn hảo đó; sau đó nó trở thành người quản lư liên tiếp từng hệ thống, đồng thời hoạt động như một trong bốn giác quan; cuối cùng đơn vị trở thành dạng hơi thở; và ở dạng hơi thở, nó quản lư bốn hệ thống và toàn bộ cơ thể. Đơn vị dạng hơi thở trở thành aia. Cuối cùng, nhờ sự hướng dẫn và Ánh sáng của Trí thông minh của nó, aia lần lượt trở thành Bản thân Triune, Bản thân Triune của Trí thông minh mà trước đây là Bản thân Triune, (H́nh II-G, II-H). Bản thân Triune không phải là tự nhiên, nhưng nó tiến triển thông qua và phát triển vượt ra ngoài tự nhiên. Bản thân Triune không phải là Trí thông minh; nhưng nó luôn nằm trong phạm vi của Trí tuệ của nó, và Ánh sáng của Trí thông minh ở trong đó. Bốn giác quan là gốc rễ của tự nhiên trong hoặc xung quanh hành giả bây giờ trong cơ thể con người. Thiên nhiên lấy sự nuôi dưỡng từ hành giả trong cơ thể và hành giả lấy kinh nghiệm từ thiên nhiên. Sự trao đổi này được thực hiện bởi tời Ánh sáng của Trí tuệ là với Bản thân Triune, không phải với tự nhiên. Giọng nói hay sức kéo của thiên nhiên được trải nghiệm như một cảm giác, một khao khát. hành giả phản ứng bằng cách thờ phượng và tín ngưỡng và tạo ra cho ḿnh những vị thần ngoài tự nhiên.